ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI KHOA LUẬT BÀI TIỂU LUẬN MÔN TƯ PHÁP QUỐC TẾ ĐỀ BÀI 2 Mối quan hệ giữa thẩm quyền riêng biệt của Tòa án Việt Nam và thẩm quyền của Trọng tài thương mại (trong nước và nước ngoài[.]
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT
BÀI TIỂU LUẬN MÔN: TƯ PHÁP QUỐC TẾ
ĐỀ BÀI 2: Mối quan hệ giữa thẩm quyền riêng biệt của Tòa án Việt Nam và thẩm quyền của Trọng tài thương mại (trong nước và nước ngoài) (Thẩm quyền riêng biệt của Tòa án Việt Nam có loại trừ
thẩm quyền của trọng tài không?)
Họ và tên: Vì Yến Nhi
MSV: 18061010
Lớp: K63 B
Trang 2
MỤC LỤC 1 ĐẶT VẤN ĐỀ 1
2 ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU 1
3 PHẠM VI NGHIÊN CỨU 1
PHẦN NỘI DUNG 2
CHƯƠNG I LÝ LUẬN CHUNG VỀ THẨM QUYỀN CỦA TÒA ÁN VÀ TRỌNG TÀI THƯƠNG MẠI: 2
1.1 THẨM QUYỀN CỦA TÒA ÁN 2
1.2 THẨM QUYỀN GIẢI QUYẾT VỤ VIỆC THƯƠNG MẠI CỦA TÒA ÁN VIỆT NAM 2
1.2.1 Thẩm quyền riêng biệt của Tòa án Việt Nam về giải quyết vụ việc thương mại 2
1.3 THẨM QUYỀN CỦA TRỌNG TÀI THƯƠNG MẠI 4
CHƯƠNG II MỐI QUAN HỆ GIỮA THẨM QUYỀN RIÊNG BIỆT CỦA TÒA ÁN VIỆT NAM VÀ VÀ THẨM QUYỀN CỦA TRỌNG TÀI THƯƠNG MẠI TRONG NƯỚC VÀ NƯỚC NGOÀI 4
2.1 MỐI QUAN HỆ GIỮA THẨM QUYỀN RIÊNG BIỆT CỦA TÒA ÁN VIỆT NAM VÀ VÀ THẨM QUYỀN CỦA TRỌNG TÀI THƯƠNG MẠI TRONG NƯỚC 5
2.2 MỐI QUAN HỆ GIỮA THẨM QUYỀN RIÊNG BIỆT CỦA TÒA ÁN VIỆT NAM VÀ VÀ THẨM QUYỀN CỦA TRỌNG TÀI THƯƠNG MẠI NƯỚC NGOÀI 6
KẾT LUẬN 8
TÀI LIỆU THAM KHẢO 1
Trang 31 Đặt vấn đề
Xu hướng toàn cầu hóa kinh tế là một xu thế khách quan Trong bối cảnh đất nước Việt Nam ta cũng đang hội nhập kinh tế thế giới và nó cũng có ảnh hưởng đến mọi mặt về xã hội, văn hóa, kinh tế, điều này vừa là điều kiện, vừa là kết quả trong quá trình phát triển
Về toàn cầu hóa là các quốc gia trên mọi lĩnh vực kinh tế, xã hội, chính trị có tác động lẫn nhau trên toàn thế giới Với nhiều quan hệ kinh tế, để bảo đảm hình thức giải quyết tranh chấp phù hợp bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của các bên tham gia tố tụng đó là một vấn đề lớn đặt ra cho mỗi chủ thể trong tranh chấp kinh doanh thương mại Trong thực tiễn xét xử các vụ việc dân sự có yếu tố nước ngoài tại Việt Nam, vấn đề xung đột thẩm quyền giải quyết vụ việc thương mại giữa Tòa án và Trọng tài thương mại là vấn đề không thể tránh khỏi Pháp luật Việt Nam không quy định một cách minh thị về mối quan
hệ giữa thẩm quyền riêng biệt của Tòa án Việt Nam và thẩm quyền của Trọng tài trong nước hay Trọng tài nước ngoài, do đó bài tiểu luận này đi vào phân tích các quy định pháp luật liên quan đến mối quan hệ này
2 Đối tượng nghiên cứu
- Các lý luận chung về thẩm quyền của Tòa án
- Các lý luận chung về thẩm quyền Trọng tà thương mại
- Mối quan hệ giữa thẩm quyền riêng biệt của Tòa án Việt Nam và thẩm quyền của Trọng tài trong nước và Trọng tài nước ngoài
3 Phạm vi nghiên cứu
Thực tiễn pháp luật hiện hành Việt Nam quy định về thẩm quyền riêng biệt của Tòa án Việt Nam và thẩm quyền của Trọng tài trong nước và Trọng tài nước ngoài
- Bài tiểu luận gồm 2 phần:
- Phần 1 nêu các lý luận chung về thẩm quyền của Tòa án và Trọng tài thương mại
- Phần 2 đi sâu vào phân tích mối quan hệ giữa thẩm quyền riêng biệt của Tòa án
Việt Nam và thẩm quyền của Trọng tài trong nước và Trọng tài nước ngoài
Trang 42
PHẦN NỘI DUNG
CHƯƠNG I LÝ LUẬN CHUNG VỀ THẨM QUYỀN CỦA TÒA ÁN VÀ TRỌNG
TÀI THƯƠNG MẠI:
1.1 Thẩm quyền của Tòa án
Theo quy định tại khoản 1 Điều 2 Luật tổ chức tòa án nhân dân 2014: “Tòa án nhân dân là cơ quan xét xử của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, thực hiện quyền tư pháp”
Theo đó, Tòa án có thẩm quyền đương nhiên trong việc giải quyết tranh chấp của các bên trừ trường hợp các bên có thỏa thuận khác Tòa án là cơ quan xét xử mang tính cưỡng chế cao nhất, khi có Bản án hoặc Quyết định của Tòa án có hiệu lực pháp luật thì các bên bắt buộc phải tuân thủ, trường hợp nếu các bên không tự nguyện tuân thủ thì nhà nước sẽ đảm bảo thi hành bằng sức mạnh cưỡng chế của nhà nước
1.2 Thẩm quyền giải quyết vụ việc thương mại của tòa án Việt Nam
Điều 30 và Điều 31 BLTTDS năm 2015 quy định về các vụ, việc thương mại thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án Việt Nam Trong đó tại Khoản 5 Điều 30 và Khoản 6 Điều 31 có quy định các tranh chấp khác, các yêu cầu khác về kinh doanh thương mại trừ trường hợp thuộc thẩm quyền giải quyết của cơ quan, tổ chức khác theo quy định của pháp luật thì sẽ thuộc thẩm quyền của Tòa án
Như vây, có thể thấy dựa vào quy định này, nếu các tranh chấp, yêu cầu về kinh doanh thương mại thuộc thẩm quyền của Trọng tài thương mại thì sẽ không thuộc thẩm quyển của Tòa án và ngược lại
Do đó, thẩm quyền giải quyết vụ việc thương mại thông thường của Tòa án Việt Nam và thẩm quyền giải quyết của Trọng tài thương mại sẽ loại trừ lẫn nhau trong những trường hợp nhất định được quy định tại Luật trọng tài thương mại 2010 và Bộ luật Tố tụng dân sự 2015
1.2.1 Thẩm quyền riêng biệt của Tòa án Việt Nam về giải quyết vụ việc
thương mại
Đối với một số vụ việc dân sự có yếu tố nước ngoài, Bộ luật tố tụng dân sự năm
2015 của Việt Nam quy định chỉ có tòa án Việt Nam mới có thẩm quyền giải quyết
Trang 53
Theo quy định tại Điều 470, những vụ việc thuộc thẩm quyền riêng biệt của Tòa án Việt Nam trong quan hệ dân sự có yếu tố nước ngoài bao gồm:
(1) Vụ án dân sự có yếu tố nước ngoài có liên quan đến quyền đối với tài sản là bất động sản có trên lãnh thổ Việt Nam;
(2) Vụ án ly hôn giữa công dân Việt Nam với công dân nước ngoài hoặc người không quốc tịch, nếu cả hai vợ chồng cư trú, làm ăn, sinh sống lâu dài ở Việt Nam;
(3) Vụ án dân sự khác mà các bên được lựa chọn Tòa án Việt Nam để giải quyết theo pháp luật Việt Nam hoặc điều ước quốc tế mà Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam
là thành viên và các bên đồng ý lựa chọn Tòa án Việt Nam
(4) Các yêu cầu không có tranh chấp phát sinh từ quan hệ pháp luật dân sự quy định tại (1), (2) và (3)
(5) Yêu cầu xác định một sự kiện pháp lý xảy ra trên lãnh thổ Việt Nam;
(6) Tuyên bố công dân Việt Nam hoặc người nước ngoài cư trú tại Việt Nam bị mất tích, đã chết nếu việc tuyên bố đó có liên quan đến việc xác lập quyền, nghĩa vụ của
họ trên lãnh thổ Việt Nam, trừ trường hợp điều ước quốc tế mà Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên có quy định khác;
(7) Tuyên bố người nước ngoài cư trú tại Việt Nam bị hạn chế năng lực hành vi dân sự, mất năng lực hành vi dân sự nếu việc tuyên bố đó có liên quan đến việc xác lập quyền, nghĩa vụ của họ trên lãnh thổ Việt Nam;
(8) Công nhận tài sản có trên lãnh thổ Việt Nam là vô chủ, công nhận quyền sở hữu của người đang quản lý đối với tài sản vô chủ trên lãnh thổ Việt Nam
Theo Khoản 1 Điều 1 của BLTTDS 2015, có thể hiểu vụ việc dân sự là các tranh chấp, các yêu cầu về dân sự, hôn nhân gia đình, kinh doanh thương mại và lao động được Tòa án thụ lý, giải quyết theo trình tự, thủ tục theo pháp luật tố tụng dân sự quy định trên
cơ sở có đơn khởi kiện, đơn yêu cầu của cơ quan, tổ chức, cá nhân
Như vậy, các vụ việc dân sự có yếu tố nước ngoài thuộc thẩm quyền riêng biệt của Tòa án Việt Nam tại Điều 470 BLTTDS 2015 cũng sẽ bao gồm các vụ việc về vấn đề thương mại và do đó vẫn thuộc thẩm quyền riêng biệt của Tòa án Việt Nam
Như đã đề cập ở trên, với các vụ việc thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án Việt Nam thì chỉ có Tòa án Việt Nam được quyền giải quyết, Tòa án nước ngoài không có
Trang 64
thẩm quyển giải quyết những vụ việc đó và nếu đã giải quyết thì bản án, quyết định của Tòa án nước ngoài sẽ không được công nhận và cho thi hành tại Việt Nam1 Như vậy, thẩm quyền riêng biệt của Tòa án Việt Nam đã loại trừ thẩm quyền của Tòa án nước ngoài
Điều này đặt ra một vấn đề là, liệu thẩm quyền riêng biệt của Tòa án có loại trừ
thẩm quyền của Trọng tài thương mại trong nước và Trọng tài nước ngoài hay không?
1.3 Thẩm quyền của Trọng tài thương mại
Theo khoản 1 Điều 3 Luật trọng tài thương mại 2010, trọng tài thương mại là phương thức giải quyết tranh chấp do các bên thoả thuận và được tiến hành theo quy định của Luật Trọng tài thương mại 2010
Như vậy, khác với Tòa án, Trọng tài thương mại chỉ có thẩm quyền giải quyết khi các bên thỏa thuận với nhau một cách rõ ràng và thỏa thuận này phải hợp pháp
Trọng tài thương mại có thẩm quyền giải quyết các tranh chấp sau theo quy định tại Điều 2 LTTTM 2010:
- Tranh chấp giữa các bên phát sinh từ hoạt động thương mại
- Tranh chấp phát sinh giữa các bên trong đó ít nhất một bên có hoạt động thương mại
- Tranh chấp khác giữa các bên mà pháp luật quy định được giải quyết bằng Trọng tài
CHƯƠNG II MỐI QUAN HỆ GIỮA THẨM QUYỀN RIÊNG BIỆT CỦA TÒA ÁN VIỆT NAM VÀ VÀ THẨM QUYỀN CỦA TRỌNG TÀI THƯƠNG MẠI TRONG
NƯỚC VÀ NƯỚC NGOÀI
Theo quy định của Điều 6 Luật Trọng tài thương mại, khi các bên có thỏa thuận về phương thức giải quyết tranh chấp bằng trọng tài thương mại và thỏa thuận trọng tài đã có hiệu lực thì Tòa án phải từ chối thẩm quyền Pháp luật không quy định tranh chấp mà Tòa
án phải từ chối là tranh chấp thuộc thẩm quyền riêng biệt của Tòa án hay không mà chỉ quy định chung chung
Từ quy định này có thể thấy, thẩm quyền riêng biệt của Tòa án không loại trừ thẩm quyền của Trọng tài thương mại nếu các bên đã thỏa thuận lựa chọn phương thức giải
1 Khoản 4 Điều 439 và Khoản 1 Điều 440 BLTTDS 2015
Trang 75
quyết bằng trọng tài thương mại và thỏa thuận này có hiệu lực bất kể là Trọng tài trong nước hay trọng tài nước ngoài
2.1 Mối quan hệ giữa thẩm quyền riêng biệt của tòa án Việt Nam và và thẩm
quyền của Trọng tài thương mại trong nước
Như đã phân tích ở trên, đối với các vụ việc thương mại thuộc thẩm quyền riêng biệt của Tòa án Việt Nam, theo quy định của BLTTDS 2015 và Luật TTTM 2010, Trọng tài thương mại vẫn có quyền giải quyết nếu các bên thỏa thuận chọn Trọng tài thương mại trong nước để giải quyết và thỏa thuận thỏa các điều kiện tại Điều 2 LTTTM 2010 và Điều 2 Nghị quyết Số 01/2014/NQ-HĐTP
Các trường hợp có thỏa thuận trọng tài nhưng vẫn thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án2 gồm:
- Có quyết định của Tòa án huỷ phán quyết trọng tài, hủy quyết định của Hội đồng trọng tài về việc công nhận sự thỏa thuận của các bên;
- Có quyết định đình chỉ giải quyết tranh chấp của Hội đồng trọng tài, Trung tâm trọng tài quy định tại khoản 1 Điều 43 các điểm a, b, d và đ khoản 1 Điều 59 Luật TTTM;
- Tranh chấp thuộc trường hợp quy định tại các khoản 1, 2, 3 và 5 Điều 4 Nghị quyết
Số 01/2014/NQ-HĐTP gồm:
+ Các bên đã có thỏa thuận giải quyết tranh chấp tại một Trung tâm trọng tài cụ thể nhưng Trung tâm trọng tài này đã chấm dứt hoạt động mà không có tổ chức trọng tài kế thừa, và các bên không thỏa thuận được việc lựa chọn Trung tâm trọng tài khác để giải quyết tranh chấp
+ Các bên đã có thỏa thuận cụ thể về việc lựa chọn Trọng tài viên trọng tài vụ việc, nhưng tại thời điểm xảy ra tranh chấp, vì sự kiện bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan
mà Trọng tài viên không thể tham gia giải quyết tranh chấp, hoặc Trung tâm trọng tài, Tòa án không thể tìm được Trọng tài viên như các bên thỏa thuận và các bên không thỏa thuận được việc lựa chọn Trọng tài viên khác để thay thế
+ Các bên đã có thỏa thuận cụ thể về việc lựa chọn Trọng tài viên trọng tài vụ việc, nhưng tại thời điểm xảy ra tranh chấp, Trọng tài viên từ chối việc được chỉ định hoặc
2 Khoản 3 Điều 2 Nghị quyết Số 01/2014/NQ-HĐTP
Trang 86
Trung tâm trọng tài từ chối việc chỉ định Trọng tài viên và các bên không thỏa thuận được việc lựa chọn Trọng tài viên khác để thay thế
+ Nhà cung cấp hàng hóa, dịch vụ và người tiêu dùng có điều khoản về thỏa thuận trọng tài được ghi nhận trong các điều kiện chung về cung cấp hàng hoá, dịch vụ do nhà cung cấp soạn sẵn quy định tại Điều 17 Luật TTTM nhưng khi phát sinh tranh chấp, người tiêu dùng không đồng ý lựa chọn Trọng tài giải quyết tranh chấp
Như vậy, thẩm quyền riêng biệt của Tòa án Việt Nam sẽ loại trừ thẩm quyền của Trọng tài trong nước trong trường hợp các bên không có thỏa thuận chọn phương thức giải quyết là Trọng tài thương mại hoặc các bên có thỏa thuận chọn Trọng tài thương mại giải quyết nhưng lại rơi vào các trường hợp thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án như
đã nêu phía trên
Do đó, kết luận rằng, thẩm quyền riêng biệt của Tòa án Việt Nam không loại trừ thẩm quyền của Trọng tài trong nước trong trường hợp các bên có thỏa thuận phương thức giải quyết tranh chấp bằng Trọng tài trong nước và thỏa thuận này hợp pháp
2.2 Mối quan hệ giữa thẩm quyền riêng biệt của Tòa án Việt Nam và và thẩm
quyền của Trọng tài thương mại nước ngoài
Tương tự như đã phân tích về mối quan hệ giữa thẩm quyền riêng biệt của Tòa án Việt Nam với thẩm quyền của Trọng tài trong nước ở mục 1, thẩm quyền riêng biệt của Tòa án Việt Nam sẽ không loại trừ thẩm quyền của Trọng tài nước ngoài nếu các bên thỏa thuận chọn phương thức giải quyết tranh chấp là Trọng tài nước ngoài và thỏa thuận này hợp pháp theo pháp luật Việt Nam
Hơn nữa, Điều 472 BLTTDS 2015 quy định các trường hợp Tòa án Việt Nam phải
trả lại đơn khởi kiện, đơn yêu cầu hoặc đình chỉ giải quyết vụ việc dân sự có yếu tố nước
ngoài nếu vụ việc dân sự thuộc thẩm quyền chung của Tòa án Việt Nam nhưng:
- Các đương sự được thỏa thuận lựa chọn phương thức giải quyết tranh chấp và đã lựa chọn Trọng tài nước ngoài giải quyết vụ việc đó trừ các trường hợp thay đổi thỏa thuận, thỏa thuận vô hiệu, thỏa thuận không thực hiện được hay Trọng tài nước ngoài từ chối thụ lý3
3 Điểm a Khoản 1 Điều 472 BLTTDS 2015
Trang 97
- Vụ việc không thuộc thẩm quyền riêng biệt của Tòa án Việt Nam và đã được Trọng tài nước ngoài thụ lý giải quyết4
Như vậy, vụ việc thuộc thẩm quyền riêng biệt của Tòa án Việt Nam và có thỏa thuận chọn Trọng tài nước ngoài làm phương thức giải quyết tranh chấp và thỏa thuận đó
hợp pháp thì pháp luật không có quy định, vậy trường hợp này Tòa án có phải trả lại đơn
khởi kiện, đơn yêu cầu hoặc đình chỉ giải quyết hay không? Trọng tài thương mại nước ngoài có thẩm quyền giải quyết hay không?
Nếu áp dụng quy định tại Điều 6 LTTTM để giải thích như ở đầu mục II thì có thể trả lời rằng Trọng tài thương mại nước ngoài vẫn có thẩm quyền giải quyết và nếu có đơn khởi kiện hoặc đơn yêu cầu hoặc Tòa án đang giải quyết thì Tòa án phải trả lại đơn hoặc đình chỉ giải quyết vụ việc đó cho dù vụ việc thuộc thẩm quyền riêng biệt của Tòa án Việt Nam
Trường hợp vụ việc thuộc thẩm quyền riêng biệt của Tòa án Việt Nam và đã được Trọng tài nước ngoài thụ lý giải quyết mà không có thỏa thuận chọn giải quyết bằng
Trọng tài nước ngoài thì Tòa án có phải trả lại đơn khởi kiện, đơn yêu cầu hoặc đình
chỉ giải quyết hay không? Trọng tài thương mại nước ngoài có thẩm quyền giải quyết hay không?
Cũng áp dụng Điều 6 LTTTM 2010, trường hợp này thẩm quyền riêng biệt của Tòa án Việt Nam sẽ loại trừ thẩm quyền của Trọng tài nước ngoài và Tòa án Việt Nam sẽ giải quyết vụ việc đó mà không phải trả lại đơn khởi kiện, đơn yêu cầu hoặc đình chỉ giải quyết
4 Điểm c Khoản 1 Điều 472 BLTTDS 2015
Trang 108
KẾT LUẬN
Như vậy, sau khi đã phân tích ở phần nội dung, có thể kết luận rằng, thẩm quyền riêng biệt của Tòa án Việt Nam đối với các quan hệ dân sự có yếu tố nước ngoài cụ thể là quan
hệ thương mại sẽ không loại trừ thẩm quyền của Trọng tài thương mại trong nước lẫn Trọng tài thương mại nước ngoài nếu các bên có thỏa thuận về việc chọn Trọng tài thương mại làm phương thức giải quyết tranh chấp, yêu cầu và thỏa thuận này giữa các bên là hợp pháp theo quy định của pháp luật Việt Nam
Thẩm quyền riêng biệt của Tòa án Việt Nam chỉ loại trừ thẩm quyền của Trọng tài thương mại trong nước và nước ngoài trong trường hợp các bên không có thỏa thuận lựa chọn phương thức giải quyết tranh chấp bằng Trọng tài hoặc các bên có thỏa thuận lựa chọn Trọng tài nhưng thỏa thuận này không thỏa các điều kiện có hiệu lực theo pháp luật Việt Nam