Microsoft Word 17061003 ĒỊ Lan Anh ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI KHOA LUẬT Học phần Kỹ năng giải quyết tranh chấp Hợp đồng tín dụng ĐỀ TÀI TIỂU LUẬN CUỐI KÌ PHÁP LUẬT VỀ GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP PHÁT SI[.]
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT
Học phần: Kỹ năng giải quyết tranh chấp Hợp đồng tín dụng
ĐỀ TÀI TIỂU LUẬN CUỐI KÌ PHÁP LUẬT VỀ GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP
PHÁT SINH TRONG QUÁ TRÌNH GIAO KẾT HỢP ĐỒNG TÍN DỤNG
Họ và tên: Đỗ Lan Anh MSV: 17061003
Ngày sinh: 13/08/1999 Lớp: K62 LKD-A
Trang 2I Khái quát về hợp đồng tín dụng
1 Khái niệm:
Hợp đồng tín dụng về bản chất là những hợp đồng cho vay tài sản theo quy định của
Bộ luật Dân sự 2015 (BLDS) Tuy nhiên, chỉ gọi là hợp đồng tín dụng trong trường hợp bên cho vay là các tổ chức tín dụng (TCTD), trong đó chủ yếu là các ngân hàng
Hợp đồng tín dụng là sự thỏa thuận bằng văn bản giữa tổ chức tín dụng (bên cho vay) với khách hàng là tổ chức, cá nhân (bên vay) nhằm xác lập quyền và nghĩa vụ nhất định giữa các bên theo quy định của pháp luật, theo đó bên cho vay chuyển giao một khoản tiền tệ cho bên vay sử dụng một khoản tiền để sử dụng vào mục đích xác định trong một thời hạn nhất định theo thoả thuận với nguyên tắc có hoàn trả cả gốc và lãi Còn những hoạt động cấp tín dụng khác như bảo lãnh, cầm cố, chiết khấu giấy tờ có giá được gọi chung là hợp đồng cấp tín dụng
Quan hệ tín dụng về bản chất là một quan hệ dân sự nên HĐTD cũng là một dạng cụ thể của hợp đồng dân sự Từ khái niệm hợp đồng được quy định theo điều 385 BLDS 2015: “Hợp đồng là sự thỏa thuận giữa các bên về việc xác lập, thay đổi hoặc chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân sự.”
Như vậy, hợp đồng tín dụng ngân hàng là văn bản phản ánh thỏa thuận trực tiếp của
tổ chức tín dụng và khách hàng trong việc xác lập một quan hệcho vay, xác lập các quyền
và nghĩa vụ pháp lý cụ thể của các bên đó trong việc vay và hoàn trả vốn vay
2 Đặc điểm hợp đồng tín dụng:
Theo Điều 17, Quyết định 20 VBHN-NHNN quyết định về việc ban hành quy chế cho vay của tổ chức tín dụng đối với khách hàng quy định như sau:
“Việc cho vay của tổ chức tín dụng và khách hàng vay phải được lập thành hợp đồng tín dụng Hợp đồng tín dụng phải có nội dung về điều kiện vay, mục đích sử dụng vốn vay, phương thức cho vay, số vốn vay, lãi suất, thời hạn cho vay, hình thức bảo đảm, giá trị tài sản bảo đảm, phương thức trả nợ và những cam kết khác được các bên thỏa thuận.”
Theo quy định trên thì hợp đồng tín dụng sẽ có một số đặc điểm sau đây:
Về chủ thể:
Bên cho vay bắt buộc phải là tổ chức tín dụng, có đủ điều kiện luật định, còn bên vay có thể là tổ chức, cá nhân, hộ gia đình, tổ hợp tác có đủ điều kiện vay vốn do pháp luật quy định
Trang 3Về hình thức:
Hợp đồng tín dụng ngân hàng luôn luôn được lập thành văn bản Hợp đồng tín dụng ngân hàng đa phần là hợp đồng theo mẫu Tên gọi có thể là: Hợp đồng tín dụng; Hợp đồng vay; Khế ước vay vốn; hoặc phụ thuộc vào thời hạn vay, mục đích vay, hợp đồng có thể
có thêm các cụm từ: “ngắn hạn”; “trung hạn”; “dài hạn”; “đồng Việt Nam”; “ngoại tệ”;
“tiêu dùng”; “đầu tư”… Hợp đồng tín dụng có thể được công chứng, chứng thực phụ thuộc vào sự thỏa thuận của các bên
Về đối tượng:
Hợp đồng tín dụng ngân hàng có đối tượng là những khoản vốn được thể hiện dưới hình thức tiền tệ
3 Nguyên tắc của hoạt động cho vay theo hợp đồng tín dụng của tổ chức tín dụng:
Nguyên tắc tránh rủi ro, bảo đảm an toàn trong hoạt động tín dụng:
Trong hoạt động ngân hàng thường có tính rủi ro rất cao và thường mang tính chất dây chuyền đối với nhiều lợi ích khác nhau trong xã hội
Nguyên tắc phải sử dụng vốn vay đúng mục đích:
Nguyên tắc này đảm bảo cho các tổ chức tín dụng tránh được những rủi ro từ bên vay, đồng thời đảm bảo được tính thực hiện hợp đồng, nếu bên vay vi phạm nguyên tắc này thì bên cho vay có quyền huỷ bỏ hợp đồng và bên vay phải chịu sự điều chỉnh theo pháp luật
Nguyên tắc hoàn trả khoản tín dụng đúng hạn cả gốc và lãi theo thoả thuận: Bên vay phải đảm bảo thực hiện đúng nguyên tắc này Trường hợp bên vay có thể trả chậm hơn thời han quy định nếu có sự gia hạn và được bên cho vay chấp thuận, nhưng vẫn phải đảm bảo nguyên tắc này, thanh toán cả gốc và lãi theo đúng thời gian đã gia hạn
II Tranh chấp hợp đồng tín dụng:
1 Khái niệm:
Cùng với sự tồn tại và phát triển của các HĐTD là những tranh chấp trong HĐTD phát sinh từ sự mâu thuẫn hay không thống nhất về quyền và nghĩa vụ hoặc lợi ích trong quá trình thực hiện hợp đồng tín dụng của các bên tham gia Một hợp đồng tín dụng chỉ được coi là có tranh chấp khi sự xung đột, bất đồng về quyền lợi giữa các bên đã được thể hiện
ra bên ngoài thông qua những bằng chứng cụ thể và xác định được Theo TS Bùi Ngọc Cường, tranh chấp kinh tế được hiểu là những mâu thuẫn, xung đột về quyền, nghĩa vụ và lợi ích kinh tế giữa các bên chủ thể khi tham gia kinh doanh
Tranh chấp hợp đồng khác biệt với vi phạm hợp đồng Vi phạm hợp đồng là hành vi pháp lý của các bên đã xử sự trái với các điều khoản được cam kết trong hợp đồng Còn
Trang 4tranh chấp hợp đồng là ý kiến không thống nhất của các bên về hành vi vi phạm đó hoặc cách thức giải quyết hậu quả phát sinh từ sự vi phạm đó và được thể hiện ra bên ngoài Cho nên, không phải cứ khi nào vi phạm hợp đồng thì khi đó có tranh chấp mà đôi khi sự vi phạm hợp đồng diễn ra trước và tranh chấp hợp đồng lại là sự kiện diễn ra sau đó một khoảng thời gian nhất định Và đôi khi có sự vi phạm hợp đồng tín dụng nhưng không thể
có sự tranh chấp bởi các bên không bày tỏ ra bên ngoài về sự bất đồng hay xung đột lợi ích giữa họ với nhau bằng các hành vi phản kháng cụ thể có giá trị chứng cứ
Như vậy, tranh chấp HĐTD là những mâu thuẫn, bất đồng phát sinh từ quyền và nghĩa vụ trong hợp đồng tín dụng giữa bên cho vay (ngân hàng) và bên vay (khách hàng)
Đó là những tranh chấp về lãi suất, nợ gốc, nợ lãi, việc giải ngân, xử lý tài sản đảm bảo, thế chấp…
2 Đặc điểm tranh chấp hợp đồng tín dụng:
Giá trị của tranh chấp phát sinh từ hợp đồng tín dụng thường có giá trị lớn: Xuất phát từ mục đích vay của khách hàng là sự thiếu hụt về vốn mà chủ yếu để phục vụ hoạt động sản xuất kinh doanh, không thể tự mình xoay sở được hoặc khó có thể vay từ các tổ chức, cá nhân bên ngoài do nguồn vốn khá lớn Bên cạnh đó, cũng xuất phát
từ hoạt động cho vay từ các tổ chức tín dụng khi mà mọi hoạt động của họ đều nhằm tìm kiếm lợi nhuận Chính vì vậy, tổ chức tín dụng thường tìm đến những hợp đồng tín dụng
có giá trị lớn dựa trên sự định giá tài sản bảo đảm tại thời điểm cho vay
Tranh chấp hợp đồng tín dụng có thể được giải quyết dựa trên nguyên tắc thỏa thuận:
Do hợp đồng tín dụng là một loại hợp đồng dân sự mà quan hệ dân sự là quan hệ mang tính thỏa thuận, chính vì vậy trong việc thực hiện hợp đồng tín dụng mà phát sinh tranh chấp thì pháp luật vẫn ưu tiên các bên tự thỏa thuận với nhau để tìm ra phương án giải quyết tốt nhất cho cả hai bên Việc tôn trọng sự thỏa thuận của các bên mang lại hiệu quả tối ưu nhất trong việc giải quyết tranh chấp, góp phần tiết kiệm thời gian, tiền bạc cũng như bảo vệ mối quan hệ hợp tác giữa các bên tham gia hợp đồng tín dụng
Tranh chấp hợp đồng tín phát sinh từ sự xung đột về lợi ích giữa các bên tham gia hợp đồng:
Quan hệ tín dụng bắt đầu khi hai bên thỏa thuận, ký kết với nhau hợp đồng tín dụng ghi nhận quyền và nghĩa vụ các bên Chính vì vậy, khi lợi ích các bên bị ảnh hưởng thì tranh chấp phát sinh là điều tất yếu Khởi nguồn của tranh chấp có thể là do bên cho vay giải ngân không đúng hạn hay do bên vay không thực hiện nghĩa vụ trả nợ và lãi suất
Trang 5kèm theo Và dù cho là nguyên nhân dẫn đến tranh chấp xuất phát từ bên nào thì hậu quả tất yếu sẽ có một bên bị xâm phạm đến lợi ích
3 Nguyên nhân phát sinh tranh chấp hợp đồng tín dụng:
Tranh chấp hợp đồng là điều tất yếu khi mà lợi ích của một bên bị xâm phạm mà khởi nguồn chủ yếu là do vệc vi phạm nghĩa vụ của bên còn lại Chính vì vậy mà chúng
ta có thể thấy một vài nguyên nhân dẫn đến tranh chấp như sau:
- Nguyên nhân từ phía bên cho vay:
+ Bên cho vay vi phạm nghĩa vụ giải ngân: Đây là một trong những nguyên nhân phổ biến làm phát sinh tranh chấp hợp đồng tín dụng Việc vi phạm nghĩa vụ giải ngân của bên cho vay làm ảnh hưởng không nhỏ đến quyền và lợi ích hợp pháp của bên vay, làm
lỡ kế hạch kinh doanh, chậm tiến độ và hiệu quả của dự án, làm hạn chế khả năng trả gốc
và lãi sau này của bên vay
+ Năng lực, phẩm chất, đạo đức của cán bộ tín dụng: Đây là nguyên nhân xuất phát từ phía chủ quan của các tổ chức tín dụng khi nguồn nhân lực chủ chốt trong hoạt động tín dụng không được đảm bảo yêu cầu về năng lực chuyên môn cũng như đạo đức nghề nghiệp Các cán bộ tín dụng chỉ chú trọng việc tìm kiếm khách hàng; trong khi đó việc thẩm định, đánh giá biện pháp bảo đảm tiền vay còn hạn chế, chưa phân tích, đánh giá các điều kiện về biện pháp bảo đảm tiền vay Bên cạnh đó, trình độ thẩm định của nhân viên tổ chức tín dụng còn chưa cao, một số còn chú trọng tư lợi cá nhân trong hoạt động cho vay nên có những sai sót và thiếu chặt chẽ dẫn đến kết quả thẩm định chưa đạt yêu cầu
- Nguyên nhân từ phía bên vay:
+ Nguyên nhân khách quan: Việt Nam đang trong quá trình hội nhập, mở cửa thị trường, chính vì vậy luôn có sự thay đổi để phù hợp nhất là đối với các chính sách quản lý kinh
tế, quy hoạch, kế hoạch làm cho hoạt động của bên vay không đúng với kế hoạch ban đầu Ngoài ra, một số tác động ngoại cảnh như thiên tai, hỏa hoạn, sự biến động của thị trường, quan hệ cung cầu hàng hóa cũng tác động không nhỏ đến nghĩa vụ trả nợ của bên vay về sau
+ Nguyên nhân chủ quan: Theo thực tiễn nghiên cứu thì đây là nguyên nhân chủ yếu làm phát sinh tranh chấp khi mà cá nhân, tổ chức vay vốn đầu tư không hiệu quả, hàng hóa làm ra không có tính cạnh tranh trên thị trường, công nghệ lạc hậu, hiệu quả kinh doanh không đạt được, hậu quả là doanh nghiệp làm ăn thua lỗ lâm vào tình trạng phá sản Cũng
Trang 6có nhiều trường hợp là phía bên vay cố tình trốn tránh nghĩa vụ trả nợ hay do thiếu hiểu biết về pháp luật nên ký kết các hợp đồng có nhiều yếu tố bất lợi cho mình
- Nguyên nhân phổ biến khác:
Ngoài các nguyên nhân chủ yếu được phân tích ở trên thì còn một số nguyên nhân khác cũng làm phát sinh tranh chấp hợp đồng tín dụng như do sự bất cập của các quy định pháp luật; do việc thực hiện các chủ trương, chính sách của Nhà nước về bình ổn kinh tế hoặc do sự thay đổi, bổ sung, chấm dứt hợp đồng vay tiền tại các tổ chức tín dụng không đúng quy định pháp luật Hậu quả để lại là việc thu hồi vốn của các tổ chức tín dụng sau này gặp rất nhiều khó khắn, thậm chí là không thu hồi được
4 Phân loại tranh chấp hợp đồng tín dụng:
Khách hàng vay vốn có thể là cá nhân, tổ chức có đăng ký kinh doanh
hoặc không đăng ký kinh doanh và mục đích vay vốn để kinh doanh, sản xuất hoặc tiêu dùng, sinh hoạt Vậy, tranh chấp hợp đồng tín dụng có thể là tranh chấp về hợp đồng dân
sự và cũng có thể là tranh chấp kinh doanh, thương mại Vậy khi nào tranh chấp hợp đồng tín dụng là tranh chấp về hợp đồng dân sự và khi nào là tranh chấp kinh doanh, thương mại? Để trả lời câu hỏi này, ta cần nhận định rằng bản chất hợp đồng tín dụng là hợp đồng vay tài sản Vì vậy, HĐTD ngân hàng là một dạng đặc biệt của hợp đồng dân
sự xuất phát từ hoạt động cho vay của ngân hàng Nếu ngân hàng thực hiện cho vay mà bên vay là cá nhân, tổ chức và mục đích vay nhằm đáp ứng nhu cầu về sinh hoạt và tiêu dùng thì hợp đồng tín dụng ngân hàng mang tính chất là một hợp đồng dân sự theo đúng nghĩa Nếu ngân hàng thực hiện cho vay mà bên vay là các cá nhân, tổ chức hoạt động kinh doanh và mục đích nhằm đáp ứng cho nhu cầu phát triển sản xuất kinh doanh, thương mại thì hợp đồng tín dụng ngân hàng mang tính chất là hợp đồng kinh doanh, thương mại Do đó, tuỳ theo đối tượng và mục đích trong hoạt động cho vay của ngân hàng mà chúng ta nhìn nhận hợp đồng tín dụng ngân hàng ở góc độ thích hợp
Từ phân tích trên chúng ta có thể chia thành các loại tranh chấp hợp đồng tín dụng như sau:
- Tranh chấp phát sinh khi có sự vi phạm nghĩa vụ của các bên trong quá
trình thực hiện hợp đồng:
Đối với bên cho vay, khi hợp đồng tín dụng có hiệu lực bên cho vay đã không thực hiện hoặc thực hiện nhưng không đầy đủ nghĩa vụ giải ngân cho bên vay, làm ảnh hưởng
Trang 7không nhỏ đến quyền và lợi ích của họ dẫn đến việc hạn chế khả năng trả nợ của bên vay sau này
Đối với bên vay, hành vi phát sinh tranh chấp chủ yếu là việc vi phạm nghĩa vụ trả nợ gốc và lãi Theo thực tiễn nghiên cứu, đây là dạng tranh chấp xảy ra phổ biến nhất trong các dạng tranh chấp hợp đồng tín dụng
- Tranh chấp về chủ thể xác lập, thực hiện hợp đồng tín dụng:
Mặc dù đây không phải là dạng tranh chấp phổ biến nhưng lại là dạng tranh chấp đa dạng
và phức tạp, nhất là một bên chủ thể trong hợp đồng tín dụng có yếu tố nước ngoài
Khi ký kết hợp đồng tín dụng, việc xác định chính xác chủ thể có thẩm quyền ký kết hợp đồng là điều hết sức quan trọng bởi nó quyết định đến hiệu lực của hợp đồng và việc thực hiện nội dung hợp đồng sau này Có rất nhiều trường hợp, do phía bên tổ chức tín dụng không xác định đúng tư cách chủ thể dẫn đến hợp đồng bị tuyên vô hiệu, làm ảnh hưởng rất lớn đến tổ chức tín dụng là bên cho vay trong hợp đồng
- Tranh chấp phát sinh trong việc xử lý tài sản bảo đảm của hợp đồng tín dụng
có bảo đảm bằng tài sản
Xuất phát từ giá trị của hợp đồng tín dụng và bản chất rủi ro của nó nên các tổ chức tín dụng coi hợp đồng bảo đảm là nguồn cứu cánh của mình khi phát sinh tranh chấp về nghĩa vụ trả nợ gốc và lãi của bên vay
Các tranh chấp này xảy ra tương đối nhiều và chủ yếu liên quan đến việc xử lý tài sản bảo đảm Căn nguyên của tranh chấp này bắt đầu ngay từ khâu thẩm định, định giá tài sản bảo đảm của đội ngũ nhân viên tín dụng Nếu như bước đầu thẩm định không chính xác sẽ dẫn đến việc xử lý tài sản bảo đảm không hiệu quả, nguồn vốn thu về sẽ không cao
- Tranh chấp phát sinh từ chính pháp luật giải quyết tranh chấp hợp đồng tín dụng:
Pháp luật hiện nay đưa ra rất nhiều lựa chọn cho các bên về các phương pháp giải quyết tranh chấp phát sinh từ hợp đồng tín dụng Các phương thức giải quyết tranh chấp phổ biến có thể kể đến là: thương lượng; hòa giải; trọng tài
Tuy nhiên, nếu như ngay từ khi ký kết hợp đồng các bên không thỏa thuận trước với nhau
về việc lựa chọn cơ quan giải quyết tranh chấp cũng như luật áp dụng thì sau khi có tranh chấp phát sinh, bên cạnh tranh chấp về nghĩa vụ còn có thể dẫn đến tranh chấp về luật áp dụng để giải quyết tranh chấp
Trang 8III Các phương thức giải quyết tranh chấp hợp đồng tín dụng:
Để bảo đảm quyền lợi của các chủ thể tham gia giải quyết tranh chấp hợp đồng tín dụng nên việc giải quyết tranh chấp này đòi hỏi phải đạt được các yêu cầu sau :
Thứ nhất, tranh chấp phải được giải quyết một cách kịp thời, phải đảm bảo nhanh chóng, chính xác, đúng pháp luật nhằm hạn chế đến mức thấp nhất những rủi ro và có thể tận dụng được những cơ hội kinh doanh mới cho các chủ thể tham gia tranh chấp
Thứ hai, trong quá trình giải quyết tranh chấp phải bảo đảm giữ được bí mật của hoạt động kinh doanh cũng như uy tín của các bên trong quan hệ tranh chấp Bởi vì, các bên còn nhiều đối tác quan hệ kinh doanh khác
Thứ ba, quá trình giải quyết phải đảm bảo tính dân chủ và quyền tự định đoạt của các bên với chi phí giải quyết thấp Vì lợi ích kinh tế và sự ổn định trong kinh doanh của các bên tham gia giải quyết tranh chấp nên mỗi bên đều có quyền cân nhắc, lựa chọn phương thức và đưa ra yêu cầu giải quyết tranh chấp
1 Thương lượng:
- Khái niệm: Là phương thức giải quyết tranh chấp thông qua việc các bên trực tiếp cùng bàn bạc, tự giàn xếp, tháo gỡ, giải quyết những bất đồng để loại bỏ tranh chấp
- Đặc điểm: Bắt buộc các bên tranh chấp phải tham gia
Thỏa thuận thống nhất ý chí trong bàn bạc, giải quyết tranh chấp (không mang tính quyền lực Nhà nước)
-Hình thức: Thương lượng trực tiếp: gặp nhau, bàn bạc, trao đổi, đề xuất ý kiến tìm ra giải pháp để giải quyết tranh chấp ( đàm phán, tiếp xúc)
Thương lượng gián tiếp: gửi cho nhau tài liệu liên quan đến vấn đề cần giải quyết, quan điểm yêu cầu và đưa ra giải pháp nhằm loại bỏ tranh chấp
-Ưu điểm: thuận tiện, đơn giản, nhanh chóng, linh hoạt, ít tốn kém về thời gian, về tiền bạc, không ràng buộc bởi các thủ tục pháp lý phức tạp, đảm bảo bí mật, uy tín của các bên Nếu thương lượng thành công thì ít gây phương hại đến quan hệ hợp tác vốn có của các bên thậm chí còn được tăng cường về sự hiểu biết và hợp tác lẫn nhau khi kết thúc cuộc thương lượng
- Nhược điểm: thương lượng thành công phụ thuộc vào các bên có thiện chí muốn tìm giải pháp đối với tranh chấp Nếu bên vay muốn dùng hình thức thương lượng để kéo dài thời gian thực hiện nghĩa vụ thì thương lượng chỉ làm tốn kém và kéo dài thời gian giải
Trang 9quyết tranh chấp hơn Tính bắt buộc thực hiện không cao, hình thức giải quyết khép kín, không công khai có khi lại nảy sinh những tiêu cực, trái pháp luật
2 Hòa giải:
- Khái niệm: Là phương thức giải quyết tranh chấp có sự tham gia dàn xếp của bên thứ ba nhằm đưa ra giải pháp phù hợp cho các bên tranh chấp
- Đặc điểm: Có sự tham gia của bên thứ ba trong dàn xếp giải quyết tranh chấp
Dàn xếp giải quyết tranh chấp không mang tính quyền lực
Có thể diễn ra tại mọi thời điểm ( cả trong tố tụng trọng tài và tòa án) -Ưu điểm: thủ tục, thời gian, địa điểm hoà giải có thể được thỏa thuận và điều chỉnh do các bên tham gia giải quyết tranh chấp, các bên có quyền tự định đoạt, lựa chọn bất kỳ người nào làm trung gian hòa giải Quá trình hòa giải tạo cơ hội cho mỗi bên bày tỏ quan điểm của mình về tranh chấp, không dẫn đến tình trạng đối đầu, thắng thua như quá trình kiện tụng tại tòa án, duy trì được mối quan hệ vốn có của các bên Do hòa giải xuất phát
từ sự tự nguyện tham gia và tự do thỏa thuận của các bên, nên nội dung thỏa thuận luôn hướng tới lợi ích của tất cả các bên
- Nhược điểm: việc hòa giải có được tiến hành hay không phụ thuộc vào sự nhất trí của các bên, hòa giải viên không có quyền đưa ra một quyết định ràng buộc hay áp đặt bất cứ vấn đề gì đối với các bên tranh chấp thỏa thuận hòa giải, không có tính bắt buộc thi hành Các thỏa thuận, cam kết từ kết quả của quá trình hòa giải không có giá trị bắt buộc cưỡng chế thi hành mà phụ thuộc vào thiện chí, sự tự nguyện của các bên Vì vậy, phương pháp này ít được sử dụng nếu các bên không có sự tin tưởng với nhau
3 Giải quyết tranh chấp bằng trọng tài:
- Khái niệm: Là phương thức giải quyết tranh chấp ngoài tòa án trong đó tranh chấp của các bên được trọng tài viên hoặc Ủy ban trọng tài giải quyết và phán quyết có tính bắt buộc thực hiện
- Đặc điểm: Do các bên tranh chấp lựa chọn giải quyết
Giải quyết bởi cơ quan tài phán độc lập – Trọng tài viên hoặc Hợp đồng trọng tài
Tranh chấp được giải quyết bởi phán quyết của trọng tài
Trình tự, thủ tục giải quyết tranh chấp theo quy định của pháp luật
-Hình thức: Trọng tài vụ việc là hình thức giải quyết tranh chấp theo quy định của pháp luật và trình tự, thủ tục do các bên thỏa thuận
Trang 10+ Trọng tài vụ việc không thuộc tổ chức trọng tài nào, do các bên tranh chấp thỏa thuận quyết định tất cả mọi vấn đề: trọng tài viên, số lượng trọng tài, thủ tục tố tụng, luật
áp dụng, phân xử (Ủy ban trọng tài thực hiện)
+ Trọng tài quy chế: Là hình thức giải quyết tranh chấp tại một trung tâm trọng tài theo quy định của pháp luật và quy tắc tố tụng của trung tâm trọng tài đó
+ Trung tâm chỉ định trọng tài viên cho Ủy ban Trọng tài
-Trọng tài viên: Những người có đủ các tiêu chuẩn sau đây có thể làm Trọng tài viên:
+ Có năng lực hành vi dân sự đầy đủ theo quy định của Bộ luật dân sự;
+ Có trình độ đại học và đã qua thực tế công tác theo ngành đã học từ 5 năm trở lên; + Trong trường hợp đặc biệt, chuyên gia có trình độ chuyên môn cao và có nhiều kinh nghiệm thực tiễn, tuy không đáp ứng được yêu cầu nêu tại điểm b khoản này, cũng có thể được chọn làm Trọng tài viên
Những người có đủ tiêu chuẩn quy định trên nhưng thuộc một trong các trường hợp sau đây không được làm Trọng tài viên:
+ Người đang là Thẩm phán, Kiểm sát viên, Điều tra viên, Chấp hành viên, công chức thuộc Tòa án nhân dân, Viện kiểm sát nhân dân, Cơ quan điều tra, Cơ quan thi hành án;
+ Người đang là bị can, bị cáo, người đang chấp hành án hình sự hoặc đã chấp hành xong bản án nhưng chưa được xóa án tích
Trung tâm trọng tài có thể quy định thêm các tiêu chuẩn cao hơn tiêu chuẩn quy định trên này đối với Trọng tài viên của tổ chức mình
- Ưu điểm:
Phương pháp trọng tài thương mại trong giải quyết tranh chấp có nguyên tắc xử kín nếu các bên không có thỏa thuận khác
Quyết định của Trọng tài thương mại là chung thẩm và vì vậy nó có giá trị bắt buộc đối với các bên, các bên không có quyền chống án hay kháng cáo
Giải quyết tranh chấp bằng trọng tài thương mại thể hiện tính năng động, linh hoạt
và mềm dẻo, tạo quyền chủ động cho các bên về địa điểm, thời gian giải quyết tranh chấp, tiết kiệm được thời gian có thể rút ngắn thủ tục tố tụng trọng tài trong khi tòa
án khi xét xử phải tuân thủ một cách đầy đủ và nghiêm ngặt các quy định có tính chất quy trình, thủ tục, trình tự được quy định trong Bộ luật Tố tụng Dân sửa đổi,
bổ sung năm 2019 và các văn bản hướng dẫn liên quan