Các vấn đề: Câu 1: Phân tích ảnh hưởng của Covid-19 lên thị trường kinh tế vĩ mô Việt Nam Thị trường hàng hóa, lao động và vốn.. Dịch bệnh đã khiến cho tình hình kinh tế trở nên khó khăn
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGOẠI NGỮ
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
Đề luận văn cuối kì:
“ Covid-19 và sự ảnh hưởng đến kinh tế vĩ mô Việt Nam ”
Họ và tên: Nguyễn Hồng Anh
MSV: 16042548 Ngày sinh: 30/01/1998 Khoa: NN&VH Nhật Bản
Hà Nội, ngày 15 tháng 5 năm 2021
Trang 2I Các vấn đề:
Câu 1: Phân tích ảnh hưởng của Covid-19 lên thị trường kinh tế vĩ mô Việt Nam (Thị trường hàng hóa, lao động và vốn)
Điểm cộng nếu có thể dùng những model đã học để giải thích sự dịch chuyển từ
đó định hướng rõ hơn về các ảnh hưởng này
Câu 2: Chính phủ Việt nam đã có những chính sách kinh tế vĩ mô gì để đối phó với những ảnh hưởng này
Tập trung đi sâu vào các chính sách tiền tệ và tài khóa đã học trên lớp, dùng model
để đánh giá tác động của các chính sách này
Câu 3: Trình bày cơ chế ảnh hưởng của những chính sách can thiệp của chính phủ, đánh giá tác dụng phụ có thể có trong ngắn hạn và dài hạn
II Tài liệu có thể tham khảo:
1) Bodenstein, M, Corsetti, G and Guerrieri, L 2020 'Social Distancing and Supply Disruptions in a Pandemic' London, Centre for Economic Policy Research
( https://cepr.org/active/publications/discussion_papers/dp.php?dpno=14629 ) 2) Jordà, Òscar, Sanjay R Singh, Alan M Taylor 2020 “Longer-Run Economic Consequences of Pandemics,” Federal Reserve Bank of San Francisco Working Paper 2020-09
( https://doi.org/10.24148/wp2020-09 )
III Giải quyết vấn đề:
• Kinh tế vĩ mô là gì ?
- Theo Wikipedia, kinh tế học vĩ mô ( hay Macroeconomic) là một phân ngành của kinh tế học chuyên nghiên cứu về đặc điểm, cấu trúc và hành vi của cả một nền kinh tế nói chung Kinh tế học vĩ mô nghiên cứu sự vận động và những mối quan hệ kinh tế chủ yếu của một đất nước trên bình diện toàn bộ nền kinh tế quốc dân Những đối tượng nghiên cứu cụ thể của kinh tế học vĩ mô bao gồm tổng sản phẩm, việc làm, lạm phát, tăng trưởng, chu kỳ kinh tế, vai trò ổn định kinh tế vĩ mô của chính phủ
- Sự khác nhau giữa kinh tế vi mô và vĩ mô: Kinh tế vi mô nghiên cứu hành vi, quan tâm đến mục tiêu kinh tế của từng cá nhân, từng doanh nghiệp Còn kinh tế
vĩ mô nghiên cứu những vấn đề về sự phát triển của nền kinh tế xã hội, nền kinh
tế của một quốc gia
• Covid-19 là gì ?
Covid-19 là một dạng mới của Virus Corona gây nhiễm trùng cấp tính với các triệu chứng hô hấp như sốt, ho, khó thở Các ca đầu tiên của Virus Corona đã được phát hiện ở Vũ Hán, Hồ Bắc, Trung Quốc Kể từ đầu tháng 2 năm 2020, vi rút đã lan rộng bên trong Trung Quốc và lan đến nhiều quốc gia khác, bao gồm
cả Việt Nam Virus Corona để lại hậu quả vô cùng nghiệm trọng đối với tính mạng con người cũng như nền kinh tế của mọi quốc gia trên toàn thế giới
Trang 3Câu 1: Phân tích ảnh hưởng của Covid-19 lên thị trường kinh tế vĩ mô Việt Nam
(Thị trường hàng hóa, lao động và vốn)
Điểm cộng nếu có thể dùng những model đã học để giải thích sự dịch chuyển từ
đó định hướng rõ hơn về các ảnh hưởng này
1 Tổng quan những ảnh hưởng của Covid-19 đến nền kinh tế vĩ mô Việt Nam:
nay, gây ảnh hưởng toàn diện đến nhiều quốc gia trên thế giới và hiện vẫn đang diễn biến phức tạp Kinh tế toàn cầu rơi vào suy thoái nghiêm trọng Không nằm ngoại lệ, nền kinh tế vĩ mô Việt Nam cũng chịu tác động không nhỏ từ đại dịch Covid-19
vẫn bị ảnh hưởng ít nhiều đối với nền kinh tế Theo Tổng cục thống kê, nhiều ngành nghề kinh tế của Việt Nam đang phải hứng chịu những ảnh hưởng tiêu cực
từ đại dịch
Nguồn số liệu: Tổng cục thống kê (2020)
- Theo biểu đồ trên, ta thấy rằng, ngành chịu hậu quả nặng nhất của đại dịch là các nhóm ngành dịch vụ.Trong đó, chịu ảnh hưởng nặng nhất phải kể đến là ngành dịch vụ khách sạn, nhà hàng, ghi nhận mức giảm đến -17% Tiếp đó là các ngành vận tải kho bãi và dịch vụ khác (hàng không, du lịch…) cũng ghi nhận mức giảm -4% đối với từng ngành Nguyên nhân là bởi chính sách hạn chế đi lại, giãn cách
xã hội và đóng cửa du lịch quốc tế của chính phủ đề ra
- Bên cạnh đó, chúng ta cũng ghi nhận mức tăng trưởng đáng kể ở ngành y tế, đạt 9.6%, cao hơn 3% so với mức ghi nhận của năm 2019 là 6.6% (theo hãng nghiên cứu thị trường Fitch Solutions) Điều này là hoàn toàn hợp lí giữa thời kì đại dịch
3 và tháng 7), nền kinh tế dần có những dấu hiệu phục hồi
-5.4
-4
-17
5.9 9.6
-4
-20
-15
-10
-5
0
5
10
15
Nông
nghiệp nghiệpLâm Thuỷ sản Khoáng sản dựngXây
Thương mại Vận tải kho bãi
Dịch vụ (Lưu trú, ăn uống)
Giáo dục Y tế Dịch vụ
khác TỐC ĐỘ TĂNG TRƯỞNG GDP THEO NGÀNH (%)
Tăng trưởng 9T/2020
Trang 4Nguồn số liệu: Tổng cục thống kê (2020)
0,39%, quí III tăng trở lại đạt 2,62%, đưa con số tăng trưởng của 9 tháng năm
Việt Nam được đánh giá là một trong số ít quốc gia có tăng trưởng dương, nhưng đây cũng là mức tăng trưởng thấp nhất so với cùng kỳ của các năm trong giai đoạn 2018-2020 (Số liệu được lấy từ Tổng cục thống kê năm 2020)
2 Ảnh hướng của Covid-19 đến thị trường hàng hoá:
- Thị trường hàng hoá là thị trường để mua, bán và kinh doanh các mặt hàng Bao gồm 2 lĩnh vực chính: thị trường xuất nhập khẩu và thương mại hàng hoá nội địa
- Trong năm 2020, thị trường hàng hóa trong nước cũng chịu nhiều ảnh hưởng của dịch Covid-19 Dịch bệnh đã khiến cho tình hình kinh tế trở nên khó khăn, người tiêu dùng cắt giảm chi tiêu, các hoạt động sản xuất, kinh doanh thương mại bị hạn chế, doanh thu bán hàng hóa giảm mạnh…
a) Xuất nhập khẩu:
- Khi chính phủ thực hiện biện pháp đóng cửa biên giới, hạn chế giao thương quốc
tế để phòng chống dịch thì cũng là lúc xuất nhập khẩu có nhiều biến động
Nguồn số liệu: Kết quả khảo sát của Đại học Kinh tế quốc dân (2020)
7.43 6.88 6.71 7.31
6.82
6.73 7.48 6.97 3.68 0.39 2.62
4.48
0
1
2
3
4
5
6
7
8
Quý I
/201 8
Quý I I/201 8
Quý I
2018
Quý I
2018
Quý I /201 9
Quý I I/201 9
Quý I
2019
Quý I
20
Quý I /202 0
Quý I I/202 0
Quý I
2020
Quý I
2020 TỐC ĐỘ TĂNG TRƯỞNG GDP (%)
Tốc độ tăng trưởng GDP (%)
29.10%
17.20%
60.20%
17.20%
3.40%
0.00%
10.00%
20.00%
30.00%
40.00%
50.00%
60.00%
70.00%
Thiếu hụt nguồn nguyên liệu từ nhập khẩu
Hàng hoá sản xuất không xuất khẩu được
Sụt giảm nguồn thu để bù đắp cho các chi phí phát sinh
Thiếu hụt nguyên liệu cho các hoạt động sản xuất
Khác
NHỮNG KHÓ KHĂN CÁC DOANH NGHIỆP TRONG NƯỚC PHẢI ĐỐI MẶT THỜI KÌ
COVID-19
Mức độ khó khăn của các doanh nghiệp (%)
Trang 5- Theo kết quả khảo sát trên 510 doanh nghiệp của Đại học kinh tế quốc dân (sơ
đồ bên trên) , nhiều doanh nghiệp tại Việt Nam đã phải chịu những khó khăn như thiếu hụt nguồn nguyên liệu từ nhập khẩu để sản xuất (29.1%) hoặc sản xuất hàng hoá không xuất khẩu được (17.2%) Điều này làm giảm thiểu đáng kể nguồn thu của các doanh nghiệp Dẫn đến việc phần lớn các doanh nghiệp không đủ khả năng chi trả cho các chi phí phát sinh (60.2%)
- Tuy nhiên, dưới sự điều hành khéo léo của chính phủ với mục tiêu “ vừa phòng chống dịch bệnh, vừa phát triển kinh tế xã hội”, Việt Nam vẫn giữ được đà tăng trưởng xuất nhập khẩu hàng hoá
Nguồn số liệu: Tổng cục hải quan (2021)
- Theo biểu đồ, ta thấy rằng giữa hai đợt dịch (tháng 3 và tháng 7), xuất nhập khẩu của nước ta vẫn giữ mức độ tăng trưởng ổn định Nhập khẩu giữ ở mức 22 tỷ USD và nhập khẩu là khoảng 24 tỷ USD Ảnh hưởng của đợt dịch thứ 3 (2/2021)
có gây ra ảnh hưởng nhẹ khi cả hai lĩnh vực đều có dấu hiệu giảm Ghi nhận ở mức 20.7 tỷ USD đối với nhập khẩu và 20.2 tỷ USD đối với xuất khẩu Nhưng sau đó chúng ta đã nhanh chóng ổn định và phục hồi tăng trưởng ở mức nhập khẩu 28.5 tỷ USD và xuất khẩu là 29.7 tỷ USD
b) Thương mại hàng hoá nội địa:
- Trong bối cảnh thời kì dịch bệnh, nước ta cũng chú trọng vào việc phát triển hàng hoá nội địa
- Nhu cầu hàng hóa tập trung cao vào các mặt hàng phục vụ phòng chống dịch như khẩu trang, nước sát khuẩn, thuốc phòng và chữa bệnh, một số mặt hàng thực phẩm tươi sống, đồ khô, thực phẩm chế biến sẵn
- Theo thống kê của Bộ Công thương, tính chung 10 tháng năm 2020, doanh thu bán lẻ hàng hóa đạt khoảng 3.263 nghìn tỷ đồng, chiếm 79,1% tổng mức và tăng 5,4% so với cùng kỳ năm trước Đây là chỉ số tăng duy nhất trong các yếu tố của tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng, cho thấy bán lẻ hàng hóa tiếp tục là một trong những động lực quan trọng, góp phần tăng trưởng thị trường hàng hoá nội địa và GDP cả nước trong thời kì khó khăn này
18.3920.98 24 18.82 19.18
22.58 24.87 27.7 27.16 27.2625.24 27.65 28.5
20.2 29.7
18.72 18.8222.09 17.6 17.89 20.67 22.09
22.72 24.2 24.32 24.69 27.9 26.5
20.7 28.5
-0.33
2.16 1.91 -1.22
1.29 1.94
2.78
4.98 2.96
2.94 0.55 -0.25 2.09
-0.461.2
-5
0
5
10
15
20
25
30
35
THÁN
G 1
THÁN
G 2
THÁN
G 3
THÁN
G 4
THÁN
G 5
THÁN
G 6
THÁN
G 7
THÁN
G 8
THÁN
G 9
THÁN
G 10
THÁN
G 11
THÁN
G 12
THÁN
G 1/
2021
THÁN
G 2/
2021
THÁN
G 3/
2021
DIỄN BIẾN XUẤT NHẬP KHẨU VÀ CÁN CÂN
THƯƠNG MẠI VIỆT NAM ( GIAI ĐOẠN TỪ 1/2020 ĐẾN 3/2021 )
Xuất khẩu (Tỷ USD) Nhập khẩu (Tỷ USD) Cán cân thương mại (Tỷ USD)
Trang 63 Ảnh hưởng của Covid-19 đến thị trường lao động:
- Thị trường lao động là thị trường trong đó có các dịch vụ lao động được mua và bán thông qua quá trình để xác định mức độ có việc làm của lao động, cũng như mức độ tiền công
- Dưới ảnh hưởng của đại dịch, nhiều hoạt động kinh tế sụt giảm mạnh dẫn đến những ảnh hưởng tiêu cực đối với thị trường lao động Việt Nam
- Tính đến tháng 12 năm 2020, cả nước có 32,1 triệu người từ 15 tuổi trở lên bị ảnh hưởng tiêu cực bởi dịch Covid-19 bao gồm người bị mất việc làm, phải nghỉ giãn việc/nghỉ luân phiên, giảm giờ làm, giảm thu nhập,… Trong đó, 69,2% người bị giảm thu nhập, 39,9% phải giảm giờ làm/nghỉ giãn việc/nghỉ luân phiên
và khoảng 14,0% buộc phải tạm nghỉ hoặc tạm ngừng hoạt động sản xuất kinh doanh
Nguồn số liệu: Tổng cục thống kê (2021)
- Theo biểu đồ, lực lượng lao động từ 15 tuổi trở lên có việc làm giảm mạnh nhất vào thời điểm quý II năm 2020 (đợt bùng dịch tháng 3 và 7 tại Việt Nam) Ghi nhận mức gần 2 triệu người mất việc làm so với quý I Bên cạnh đó, quý I năm
2021 là 51,0 triệu người, giảm 1,1 triệu người so với quý IV năm 2020, giảm khoảng 180 nghìn người so với cùng kỳ năm trước và thấp hơn cùng kì thời chưa
có đại dịch (năm 2019) khoảng 600 nghìn người
- Phần lớn các doanh nghiệp phải cắt giảm lao động, trong đó, ảnh hưởng nặng
nề nhất là ở các ngành như dịch vụ ( lưu trú, ăn uống), các dịch vụ vui chơi giải trí, vận tải, kho bãi và sản xuất
4 Ảnh hưởng của Covid-19 đến thị trường vốn:
- Thị trường vốn là một bộ phận của thị trường tài chính, có chức năng cung ứng vốn đầu tư dài hạn (trên 1 năm) cho nền kinh tế thông qua sự sắp xếp theo thể chế để vay và cho vay tiền với những điều kiện và thời hạn khác nhau
- Các công cụ tài chính trên thị trường vốn bao gồm: cổ phiếu, trái phiếu công ty, vay thế chấp, chứng khoán của chính phủ…
51.6
51.4 51.6
52.1
51.2
49.4
51.3
52.1
51
48
48.5
49
49.5
50
50.5
51
51.5
52
52.5
Quý I/2019 Quý II/2019 Quý
III/2019 IV/2019Quý Quý I/2020 Quý II/2020 III/2020Quý IV/2020Quý Quý I/2021
Số lao động từ 15 tuổi trở lên có việc làm theo các quý
( Giai đoạn 2019 - 2021)
Số lao động từ 15 tuổi trở lên có việc làm (triệu người)
Trang 7- Trong năm 2020, thị trường vốn Việt Nam được đánh giá là một trong mười thị trường có sức chịu đựng và phục hồi tốt nhất trên thế giới, tuy cũng không tránh khỏi ảnh hưởng của đại dịch (cụ thể: vốn đầu tư FDI) Điều này được thể hiện rõ
trên 3 phương diện:
HƯỚNG
1 Dòng vốn FDI vào
Việt Nam
Giảm Đến ngày 20/12,
tổng vốn đầu tư nước ngoài vào Việt Nam đạt 28,5 tỷ USD, giảm 25% so với năm 2019
Số liệu của
hoạch và đầu tư
2 Thị trường chứng
khoán
Tăng Tại thời điểm
12/2020, thị trường chứng khoán có chỉ số
VN Index vượt 1.100 điểm, đạt 1103,87 điểm, tăng mạnh tới 67% so với thời điểm thấp nhất của năm
2020, tăng 14,9% so với thời điểm cuối năm 2019; chỉ số HNX Index tăng gần 119% so với thời điểm cuối quý I/2020 và tăng 98,1% so với cuối
năm 2019
3 Cổ phiếu, trái phiếu Tăng Quy mô vốn hóa thị
trường cổ phiếu đạt gần 5.294 nghìn tỷ đồng, tăng 69% so với thời điểm cuối quý I
và tăng 20,8% so với cuối năm 2019, tương đương với 87,7%
GDP năm 2019 và 84,1% GDP năm
2020, vượt mục tiêu
đề ra Thị trường trái phiếu có 477 mã trái phiếu niêm yết với giá trị niêm yết đạt 1.388 nghìn tỷ đồng, tăng 16,8% so với cuối năm
2019 (tương đương
23% GDP)
Trang 8Câu 2: Chính phủ Việt nam đã có những chính sách kinh tế vĩ mô gì để đối phó với
những ảnh hưởng này (Tập trung đi sâu vào các chính sách tiền tệ và tài khóa đã học trên lớp, dùng model để đánh giá tác động của các chính sách này)
Trước ảnh hưởng của đại dịch, để hướng đến mục tiêu dài hạn, Việt Nam cần có giải pháp giúp vừa phát triển kinh tế, ổn định xã hội, vừa tạo nền tảng cho tăng trưởng kinh tế nhanh và bền vững Nhìn nhận được vấn đề đó, Chính phủ đã có những chính sách kinh tế vĩ mô để giúp nhanh chóng vực dậy và ổn định nền kinh tế Chính phủ Việt Nam đã nhanh chóng đưa ra các chính sách tiền tệ, tài khóa, an sinh xã hội nhằm hỗ trợ doanh nghiệp và người dân vượt qua giai đoạn khó khăn nhất của cú sốc COVID-19
- Thứ nhất, chính sách tiền tệ - tín dụng nhằm cơ cấu lại, giãn - hoãn nợ và xem xét giảm lãi đối với tổng dư nợ chịu ảnh hưởng
- Thứ hai, chính sách cho vay mới với tổng hạn mức cam kết khoảng 300.000 tỷ đồng với lãi suất ưu đãi hơn tín dụng thông thường từ 1% - 2,5%/năm
- Thứ ba, chính sách tài khóa (giãn, hoãn thuế và tiền thuê đất, giảm một số thuế
và phí) với tổng trị gía 180.000 tỷ đồng
- Thứ tư, chính sách an sinh xã hội 62.000 tỷ đồng cho hơn 20 triệu lao động và đối tượng yếu thế
Trong đó, quan trọng nhất phải kể đến là chính sách tài khoá và chính sách tiền tệ
a) Chính sách tài khoá:
- Chính sách tài khóa (Fiscal Policy) là các biện pháp can thiệp của chính phủ đến
hệ thống thuế khóa và chi tiêu công nhằm điều tiết mức chi tiêu chung của nền kinh tế, đạt được các mục tiêu của nền kinh tế vĩ mô như tăng trưởng kinh tế, tạo công ăn việc làm hoặc ổn định giá cả và lạm phát
- Theo lý thuyết của Keynes, khi nền kinh tế không thể tự điều chỉnh đi về trạng thái cân bằng thì Chính phủ sẽ sử dụng chính sách tài khoá để tác động vào nền kinh tế
- Dưới sự ảnh hưởng của đại dịch Covid-19, nền kinh tế Việt Nam bị đình trệ, giảm sản lượng sản xuất Khi sản lượng của nền kinh tế đạt ở mức độ thấp so với sản lượng tiềm năng thì chính phủ sẽ sử dụng đến những chính sách tài khoá
- Mức sản lượng tiềm năng được hiểu là mức sản lượng cao nhất mà nền kinh tế
có thể đạt được trong điều kiện nguồn nhân công đều có việc làm đầy đủ (toàn dụng nhân công) mà không gây lạm phát
Trang 9- Trong thời kì đại dịch, khi sản lượng của nền kinh tế đạt mức độ thấp so với mức sản lượng tiềm năng, theo mô hình bên trên sẽ dẫn đến những hệ quả như: + Giá thấp, doanh nghiệp làm ăn đình trệ, không đủ nguồn vốn, thiếu lao động
để đầu tư thêm
+ Vì ảnh hưởng của dịch bệnh, nhiều lao động mất việc làm, thu nhập giảm dẫn đến chi tiêu, tiêu dùng giảm
è Giải pháp cần làm là Chính phủ phải tăng chi tiêu công hoặc giảm thuế
- Theo chính sách thứ ba (chính sách tài khoá đã nêu ở trên), Chính phủ ta lựa chọn
sẽ giãn, hoãn thuế và tiền thuê đất, giảm một số thuế và phí với tổng trị giá
180.000 tỷ đồng (Nguồn: Viện hàn lâm khoa học xã hội Việt Nam)
b) Chính sách tiền tệ:
- Chính sách tiền tệ ( Monetary Policy) là chính sách kinh tế vĩ mô do ngân hàng trung ương thực hiện Sử dụng các công cụ của hoạt động tín dụng và ngoại hối
để đạt được các mục tiêu của chính phủ như ổn định tiền tệ, tỷ lệ thất nghiệp Từ
đó ổn định và tăng trưởng nền kinh tế
- Dựa theo mô hình IS-LM (bên trên), ta thấy rằng:
Khi tăng chính sách tiền tệ (M) ∆𝑀 >0 dịch chuyển đường LM (LM1 -> LM2) xuống dưới (hoặc sang phải) sẽ khiến lãi suất r (r1 -> r2) giảm
è Tăng đầu tư, tăng cả sản lượng và thu nhập
- Trong thời kì đại dịch như hiện nay, chính phủ chủ trương tăng cường chính sách tiền tệ - tín dụng Nhằm cơ cấu lại, giãn - hoãn nợ và xem xét giảm lãi đối với tổng dư nợ chịu ảnh hưởng
è Tăng đầu tư, tăng sản lượng của nền kinh tế
Trang 10Câu 3: Trình bày cơ chế ảnh hưởng của những chính sách can thiệp của chính phủ,
đánh giá tác dụng phụ có thể có trong ngắn hạn và dài hạn
- Dưới sự tác động mạnh mẽ của đại dịch Covid-19, với chủ trương “ vừa phòng dịch, vừa phát triển kinh tế xã hội” , Chính phủ Việt Nam đã phải đưa ra những chính sách phù hợp để giúp ổn định và phát triển kinh tế Đó là:
a) Chính sách tiền tệ:
- Chính sách tiền tệ - tín dụng nhằm cơ cấu lại, giãn - hoãn nợ và xem xét giảm lãi đối với tổng dư nợ chịu ảnh hưởng
- Ngân hàng nhà nước đã chủ động giảm các mức lãi suất điều hành nhằm tháo gỡ khó khăn cho sản xuất kinh doanh, hỗ trợ thanh khoản cho các tổ chức tín dụng, giảm chi phí vay vốn của doanh nghiệp và người dân Tính đến 20/10/2020, ngân hàng nhà nước đã điều chỉnh giảm lãi bốn lần tính tình 12/2019 và là lần thứ ba giảm lãi trong năm
- Chính phủ đã cơ cấu lại thời hạn nợ, miễn/giảm lãi vay hỗ trợ doanh nghiệp bị ảnh hưởng bởi đại dịch Tính đến 11/2020, các tổ chức tín dụng đã cơ cấu lại thời hạn trả nợ theo Thông tư 01/2020/TT-NHNN cho 272.183 khách hàng với dư nợ 341,9 nghìn tỷ đồng; đồng thời, miễn, giảm, hạ lãi suất cho 552.725 khách hàng với dư nợ hơn 931 nghìn tỷ đồng
- Trong ngắn hạn, chính sách tiền tệ cần phải tập trung vào cắt giảm lãi suất cho vay hơn là lãi suất huy động Các chính sách hỗ trợ cần phải rõ ràng, minh bạch Các rào cản không cần thiết cần được gỡ bỏ
- Trong dài hạn, vì tình hình dịch còn diễn biến phức tạp, có thể kéo dài hơn chúng
ta dự tính nên Chính phủ cần phải hết sức cẩn trọng về quy mô Đặc biệt là khi hoạt động kinh tế sôi động trở lại Rủi ro kinh tế vĩ mô có thể gia tăng khi tiếp tục nới lỏng mạnh hơn chính sách tiền tệ để hỗ trợ nền kinh tế
b) Chính sách cho vay mới:
- Với tổng hạn mức cam kết khoảng 300.000 tỷ đồng với lãi suất ưu đãi hơn tín dụng thông thường từ 1% - 2,5%/năm
- Tính đến tháng 11/2020, cho vay mới lãi suất ưu đãi với doanh số lũy kế từ 23/1 đạt gần 2.017,8 nghìn tỷ đồng cho 356.385 khách hàng
- Gói hỗ trợ tín dụng của các ngân hàng thương mại, đến tháng 10/2020, số lượng vốn mà các ngân hàng cam kết tham gia đã lên tới 600.000 nghìn tỷ đồng Kết quả là chính sách Cho vay mới lãi suất ưu đãi với doanh số lũy kế từ 23/1/2020 đạt 1,6 triệu tỷ đồng cho hơn 310.000 khách hàng, lãi suất thấp hơn phổ biến từ 0,5-2,5%/năm so với trước dịch
- Trong ngắn hạn: Còn nhiều bất cập ở khâu thực thi khi doanh nghiệp muốn tiếp cận gói hỗ trợ này phải thực hiện nhiều thủ tục phức tạp với chi phí lớn Do đó khó đến tay những đối tượng cần được hỗ trợ
- Trong dài hạn: Các ngân hàng phải tự cân đối nguồn vốn và tiết kiệm chi phí hoạt động để vừa thực hiện cơ cấu lại nợ, miễn/giảm lãi vay, phí thanh toán, vừa xem xét cho vay mới phục vụ sản xuất kinh doanh Tránh để lãng phí nguồn vốn vay, làm mất ổn định mặt bằng lãi suất huy động và cho vay hoặc chính sách cho vay mới hỗ trợ doanh nghiệp không đến được với những đối tượng phù hợp