Tại bảo tàng Văn hóa các Dân tộc Việt Nam Thái Nguyên, các thông tin về nhóm ngữ hệ Môn – Khơ me được trình bày ở: - Phòng trưng bày số 4 của khu vực trưng bày trong nhà.. Một số hình ản
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
KHOA NHÂN HỌC
- -
NHÂN HỌC CHỮ VIẾT
Tiểu luận cuối kỳ:
DÂN TỘC XƠ – ĐĂNG
Khoa: Nhân học
Giảng viên: TS Phan Phương Anh
Hà Nội, tháng 5 năm 2021
Trang 2Câu 1:
Tộc người Xơ – Đăng còn có tên gọi khác là Xơ-teng, Hđang, Tơ-đra, Mơ-nâm, Ha-lăng, Ca-dong, Kmrâng, ConLan, Bri-la, Tang,… Tiếng Xơ Ðăng thuộc ngôn ngữ Môn – Khơ me (ngữ hệ Nam Á), gần với tiếng Hrê, Ba Na, Gié Triêng
Tại bảo tàng Văn hóa các Dân tộc Việt Nam (Thái Nguyên), các thông tin về nhóm ngữ
hệ Môn – Khơ me được trình bày ở:
- Phòng trưng bày số 4 của khu vực trưng bày trong nhà Gồm các nội dung: Làng bản, nhà cửa; Sinh kế, lễ hội; Trang phục truyền thống và chùa Khơ me
- Vùng trưng bày miền Trung – Tây Nguyên của khu vực trưng bày ngoài trời Gồm 2 mô hình nổi bật là tháp Chăm và chùa Khơ me
Một số hình ảnh minh họa cho khu vực trưng bày của nhóm ngữ hệ Môn – Khơ me nói chung và các hình ảnh có liên quan đến tộc người Xơ – Đăng nói riêng:
Một số hình ảnh của nhóm ngữ hệ Môn – Khơ me:
Trang 3Bản đồ phân bố các dân tộc nhóm ngôn ngữ Môn – Khơ me tại Việt Nam
Thống kê dân số và địa bàn cư trú của
Trang 4các tộc người thuộc nhóm ngôn ngữ Môn – Khơ me
Một số từ vị cơ bản của các tộc người thuộc nhóm ngôn ngữ Môn – Khơ me
Một số dụng cụ sinh hoạt và canh tác hàng ngày của người dân thuộc nhóm ngôn ngữ Môn - Khơ me
Trang 7 Một số hình ảnh về dân tộc Xơ – Đăng được trưng bày trong bảo tàng:
Mô hình nhà rông truyền thống của người Xơ – Đăng tại tỉnh Kon Tum
Trang 8Cồng, chiêng trong lễ hội của người Xơ – Đăng
Trang 9Trang phục nam truyền thống của người Xơ – Đăng
Trang 10Hình ảnh nghề đan lát truyền thống của người Xơ – Đăng
Nghề dệt vải truyền thống của người Xơ – Đăng
Trang 11Câu 2:
Theo thông tin thu thập từ bảo tàng, tại Việt Nam, người Xơ Ðăng thuộc số cư dân sinh
tụ lâu đời ở Trường Sơn - Tây Nguyên và vùng lân cận thuộc miền núi của Quảng Nam, Quảng Ngãi.Hiện nay, cộng đồng người thuộc Dân tộc Xơ – Đăng cư trú chủ yếu ở các tỉnh Lâm Đồng, Kon Tum, Quảng Nam, Đà Nẵng, Quảng Ngãi, Bình Thuận
Theo Tổng điều tra dân số và nhà ở Việt Nam năm 2009, người Xơ – Đăng ở Việt Nam
có dân số 169.501 người, có mặt tại 41 trên tổng số 63 tỉnh, thành phố Người Xơ - Đăng cư trú tập trung tại các tỉnh: Kon Tum: 104.759 người, chiếm 24,4% dân số toàn tỉnh và 61,8% tổng số người Xơ – Đăng tại Việt Nam; Quảng Nam: 37.900 người; Quảng Ngãi: 17.713 người; Đắk Lắk: 8.041 người; và Gia Lai: 705 người (Ban chỉ đạo Tổng điều tra dân số và nhà ở,
29/06/2010)
Về sinh kế, người Xơ - Đăng sống bằng kinh tế nương rẫy, chủ yếu trồng trọt cây lúa khô còn gọi là lúa cạn hay lúa rẫy Người Xơ – Đăng sản xuất nông nghiệp nương rẫy nên phân định thời vụ theo những chu kỳ thống nhất trong năm Trải qua một quá trình lâu dài từ thế hệ này sang thế hệ khác 30 đã tích luỹ thành một: “Kinh nghiệm về nông lịch nương rẫy” (Đặng Nghiêm Phạm, 1998, pp 19 - 22) Đồng thời người Xơ – Đăng còn có nghề thủ công truyền thống là nghề đan lát do đàn ông đảm nhận, nghề dệt vải do phụ nữ đảm nhậnvà nghề rèn truyền thống khá nổi tiếng (thông tin thu thập từ bảo tàng Văn hóa các Dân tộc Việt Nam)
Trang 12Câu 3:
Bảo tàng Văn hóa các Dân tộc Việt Nam tại Thái Nguyên có một bảng thống kê “Một số
từ vị cơ bản của các tộc người thuộc nhóm ngôn ngữ Môn – Khơ me” Ngoài ra không còn bất
kỳ trưng bày hay có thông tin gì khác liên quan đến chữ viết của người Xơ – Đăng
Qua tìm hiểu và thu thập tài liệu, hiện tại, trong nhóm ngôn ngữ Môn – Khơ me, người
Xơ – Đăng sử dụng hệ thống chữ viết la – tinh và hệ thống chữ viết này mới được Đảng và Chính phủ Việt Nam chính thức xây dựng vào mấy chục năm gần đây (Nguyễn Văn Huy, 2001,
pp 167 - 172)
Trong nghiên cứu về việc truyền giáo trong vùng dân tộc thiểu số khu vực Kon Tum, PGS TS Nguyễn Hồng Dương có đề cập đến việc ghi chép lại những Kinh sách sang tiếng Xơ – Đăng Cụ thể là: “Năm 1852, nghĩa là chỉ sau 2 năm có mặt ở Tây Nguyên, các thừa sai soạn sách giáo lý và sách kinh bằng tiếng Bahnar và tiếng Xơ Đăng Mục sư Doirisboure viết: “Cha Comber thì soạn xong một tập giáo lý bằng tiếng Bahnar và đã dịch xong sách bổ bên kinh mà người giáo hữu nào cũng phải biết và phải đọc – người nói – đã dịch tất cả các công trình của người từ tiếng Bahnar sang tiếng Xơ Đăng”” (Nguyễn Hồng Dương, 14 - 16/07/2007) Đây chính là sự manh nha, bước mở đầu cho việc sử dụng chữ viết la – tinh để ghi chép lại tiếng Xơ – Đăng
Trang 13Câu 4:
Như đã nói ở trên, hiện tại, Đảng và Chính phủ đã có chính sách và đang thực hiện việc đưa chữ viết la – tinh vào văn hóa của người Xơ – Đăng, xây dựng nó thành hệ thống chữ viết nhằm ghi lại tiếng nói của cộng đồng tộc người này Việc xây dựng và giảng dạy, quản lý hệ thống chữ viết mới này do Bộ giáo dục và đào tạo thực hiện
Trong đánh giá về việc giảng dạy tiếng dân tộc trong trường phổ thông, TS Bùi Văn Thành nhận xét Xơ – Đăng là một trong số ít các dân tộc có bộ chữ mới xây dựng từ cơ sở hệ chữ la – tinh được các cấp chính quyền công nhận (Bùi Văn Thành, 2016)
Các bản sử thi truyền thống nổi tiếng của người Xơ – Đăng cũng đang dần được ghi lại bằng hệ thống chữ viết la – tinh mới xây dựng để lưu truyền, phục vụ cho việc giảng dạy (Lê Ngọc Bính, 2017)
Nhìn vào những thông tin, tài liệu ít ỏi về chữ viết hiện tại của người Xơ – Đăng mà tôi
đã thu thập được, tôi nhận thấy, hiện tại việc sử dụng chữ viết la – tinh để ghi âm và tạo dựng một hệ thống chữ viết riêng của người Xơ – Đăng là khá khả thi Tôi đưa ra nhận định này bởi ba
lý do sau:
Lý do thứ nhất, theo các tài liệu và nghiên cứu về người Xơ – Đăng ở Việt Nam hiện nay thì tôi nhận thấy, trước đây, người Xơ – Đăng chưa có chữ viết riêng của họ Do đó, nhiều sự kiện văn hóa – xã hội, sự kiện lịch sử hoặc một số nét văn hóa truyền thống của người Xơ – Đăng chỉ được truyền lại phần lớn qua thơ ca hoặc sử thi chứ không có văn bản cụ thể ghi lại hay làm chứng Điều này là một trong những đáng tiếc trong việc giữ gìn văn hóa của người Xơ – Đăng bởi các bài thơ ca, sử thi chủ yếu là truyền miệng chứ không được ghi chép lại, do đó việc
bị thiếu sót, dị bản, sai lệch sự kiện hoặc nội dung của các câu chuyện được đề cập đến là điều không thể tránh khỏi
Lý do thứ hai liên quan đến dân số, hiện tại ở Việt Nam, người Xơ – Đăng có dân số là 169.501 người (Ban chỉ đạo Tổng điều tra dân số và nhà ở, 29/06/2010) Có thể thấy, dân số của người Xơ – Đăng ở Việt Nam là không lớn, do đó việc giữ gìn và phát triển văn hóa truyền thống của dân tộc này là vô cùng quan trọng Đặc biệt trong bối cảnh hội nhập hóa và sự va chạm văn hóa giữa các dân tộc ngày càng lớn và đa dạng như hiện nay Mà hai yếu tố quan trọng nhất trong việc đánh giá một tộc người đó là ý thức tộc người và ngôn ngữ Và chữ viết chính là một trong những cách quan trọng giúp giữ gìn ngôn ngữ của tộc người
Trang 14Lý do thứ ba: Đây là lý do giải thích tại sao lại sử dụng chữ viết la – tinh để xây dựng hệ thống chữ viết cho người Xơ – Đăng chứ không phải bất kỳ chữ viết nào khác Như đã biết, chữ viết la – tinh có khả năng ký âm rất tốt, đồng thời cũng rất dễ học và ghi nhớ bởi số lượng ký tự không quá lớn, có khả năng ghép âm dễ dàng Đối với một tộc người không có chữ viết cổ truyền
và dân số không quá lớn như Xơ – Đăng thì chữ viết la – tinh hoàn toàn phù hợp Những ưu điểm nổi bật của chữ viết la – tinh giúp việc phổ cập và học tập hệ thống chữ viết mới được đơn giản, việc ghi lại và ghi nhớ tiếng nói của tộc người cũng sẽ dễ dàng hơn
Chính từ ba lý do nêu trên, tôi nghĩ rằng việc xây dựng một hệ thống chữ viết cho người
Xơ – Đăng là hoàn toàn cần thiết và việc lựa chọn chữ viết la – tinh là chữ viết cơ sở cho hệ thống chữ viết này là hoàn toàn phù hợp
Nói tóm lại, hiện tại, trong tộc người Xơ – Đăng, hệ thống chữ viết mới được xây dựng từ
cơ sở chữ viết la – tinh đã dần được hình thành và sử dụng trong cộng đồng
Trang 15Danh mục tài liệu tham khảo:
1 Ban chỉ đạo Tổng điều tra dân số và nhà ở (29/06/2010) TỔNG ĐIỀU TRA DÂN
SỐ VÀ NHÀ Ở 2009: KẾT QUẢ TOÀN BỘ Hà Nội: Tổng cục thống kê Retrieved from KẾT
QUẢ TOÀN BỘ TỔNG ĐIỀU TRA DÂN SỐ VÀ NHÀ Ở VIỆT NAM NĂM 2009
2 Bùi Văn Thành (2016, 08 09) Bộ Giáo dục và Đạo tạo Retrieved from Dạy học
tiếng dân tộc trong trường phổ thông - Những thành công và khó khăn thách thức:
https://moet.gov.vn/giaoducquocdan/giao-duc-dan-toc/Pages/tin-tuc.aspx?ItemID=4075
3 Đặng Nghiêm Phạm (1998) Người Xơ Đăng ở Việt Nam Hà Nội: Trung tâm
KHXH&NVQG
4 Lê Ngọc Bính (2017) Tổ chức xã hội và cố kết cộng đồng trong sử thi Xơ Đăng
Tạp chí Khoa học Đại học Đà Lạt, taaph 7, số 4, 447 - 460
5 Nguyễn Hồng Dương (14 - 16/07/2007) Truyền giáo trong vùng dân tộc thiểu số
ở giáo phận Kon Tum từ góc nhìn tín ngưỡng - văn hóa - xã hội Kỷ yếu hội thảo quốc thế lần thứ II: Việt Nam trên đường phát triển và hội nhập : truyền thống và hiện đại (pp 523 - 530)
thành phố Hồ Chí Minh: Việt Nam học
6 Nguyễn Ngọc Chinh, B T (2017) So sánh câu nghi vấn trong tiếng Việt và tiếng
Xơ Đăng Tạp chí Khoa học và Công nghệ, Đại học Đà Nẵng, số 4, 25 - 31
7 Nguyễn Văn Huy (2001) Bước tranh các dân tộc Việt Nam Hà Nội: NXB Giáo
dục