1. Trang chủ
  2. » Tất cả

Giải pháp thúc đẩy doanh nghiệp việt nam phục hồi sau những ảnh hưởng của đại dịch covid 19

14 0 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Giải pháp thúc đẩy doanh nghiệp Việt Nam phục hồi sau những ảnh hưởng của đại dịch Covid-19
Trường học Trường Đại học Kinh tế Quốc dân
Chuyên ngành Kinh tế
Thể loại Báo cáo nghiên cứu
Năm xuất bản 2023
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 14
Dung lượng 193,48 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

GIẢI PHÁP THÚC ĐẨY DOANH NGHIỆP VIỆT NAM PHỤC HỒI SAU NHỮNG ẢNH HƯỞNG CỦA ĐẠI DỊCH COVID 19 Tóm tắt Đại dịch COVID 19 diễn ra từ đầu năm 2020 đến nay đã gây ra tác động nghiêm trọng đến hoạt động sản.

Trang 1

GIẢI PHÁP THÚC ĐẨY DOANH NGHIỆP VIỆT NAM PHỤC HỒI SAU

NHỮNG ẢNH HƯỞNG CỦA ĐẠI DỊCH COVID-19

Tóm tắt: Đại dịch COVID-19 diễn ra từ đầu năm 2020 đến nay đã gây ra tác

động nghiêm trọng đến hoạt động sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp và đẩy nền kinh tế thế giới rơi vào suy thoái Điều đó ảnh hưởng tiêu cực đến hầu hết các khu vực DN Hầu hết các DN đã áp dụng một hoặc nhiều biện pháp để giảm thiểu tác động tiêu cực của dịch COVID-19 như cung cấp đồ bảo hộ phòng dịch cho người lao động; triển khai mô hình làm việc mới, linh hoạt hơn Nghiên cứu thực hiện đánh giá tác động của đại dịch COVID-19 đến hoạt động sản xuất kinh doanh của DN, cùng với những chính sách hỗ trợ của Nhà nước nhằm thúc đẩy DN phục hồi sản xuất kinh doanh sau đại dịch COVID-19, từ đó chỉ ra những ảnh hưởng tiêu cực mà DN Việt Nam gặp phải, đánh giá những hạn chế chính sách hỗ trợ của Chính phủ để có thể đưa ra những giải pháp thúc đẩy DN phục hồi và phát triển hiệu quả hơn trong thời gian tới.

Từ khóa: Doanh nghiệp, doanh nghiệp phục hồi, Covid-19

1 Giới thiệu

Cuộc khủng hoảng COVID-19 đã giáng đòn mạnh vào hoạt động sản xuất kinh doanh, phản ánh áp lực đối với tốc độ tăng trưởng chung Cú sốc COVID-19 lan truyền tới doanh nghiệp thông qua nhiều kênh và có tác động lẫn nhau, bao gồm: giảm cầu, giảm và gián đoạn nguồn cung đầu vào, thắt chặt điều kiện tín dụng và suy giảm thanh khoản, cũng như gia tăng bất ổn Thành công ban đầu trong ngăn chặn đại dịch COVID-19 ở Việt Nam đã cho phép các DN tiếp tục hoạt động kinh doanh, làm tổng

tỷ lệ DN mở cửa tăng lên 94% vào tháng 10/2020 (Tan và Trang, 2020) Tuy nhiên, nhiều DN vẫn đang hoạt động ở mức thấp hơn bình thường và sẽ bị hạn chế hơn nữa bởi các biện pháp phong tỏa mới được áp dụng từ tháng 7/2021 Cầu giảm dường như

là kênh tác động lớn nhất

Trang 2

Trong thời gian qua, để hỗ trợ DN vượt qua được khủng hoảng của đại dịch Covid-19, Chính phủ đã đưa ra những chính sách, gói hỗ trợ DN Nhưng hiệu quả của các chính sách hỗ trợ DN vẫn còn tồn tại nhiều hạn chế Chưa tháo gỡ được những khó khăn mà DN gặp phải trong thời gian qua

Ngoải ra, tình trạng phục hồi còn chưa đồng đều, các DN phải đối mặt với áp lực lớn hơn và gay gắt hơn từ đợt đóng cửa mới do sự gia tăng các trường hợp mắc COVID-19 Ngay cả sau khi nhu cầu phục hồi, trong bối cảnh biến động, gánh nặng

nợ nần và kỳ vọng tiêu cực có thể gây sụt giảm đầu tư, đe dọa phá sản và mất việc làm dẫn đến chậm tăng trưởng hơn nữa

Cuộc khủng hoảng đã làm gia tăng áp lực lên ngân sách của Chính hủ vì phải chuyển sang hỗ trợ DN và hộ gia đình bị ảnh hưởng thông qua các biện pháp tài khóa Trong thời gian tới, sự phục hồi của Việt Nam vì thế sẽ dựa vào việc nâng cao vai trò của doanh nghiệp trong nền kinh tế

2 Tác động của đại dịch Covid đến sự phát triển của DN

2.1 Tác động của đại dịch COVID-19 đối với DN trong nước

Dịch COVID-19 đã gây ảnh hưởng lớn đến hầu hết các ngành, lĩnh vực của nền kinh tế thế giới Trong đó, các ngành du lịch, thương mại, vận tải (nhất là hàng không dân dụng), dịch vụ và tiêu dùng toàn cầu chịu tác động mạnh và trực tiếp nhất từ dịch bệnh Thách thức mà dịch COVID19 gây ra cho DN chủ yếu tập trung vào các vấn đề như: đầu ra (tiêu dùng); đầu vào (sản xuất); các yếu tố vận hành (tài chính, lao động); giảm số lượng DN, ảnh hưởng tới hoạt động sản xuất kinh doanh của DN; tác động tới việc làm và thu nhập của người lao động

 Thách thức về nguyên liệu đầu vào

Gián đoạn nguồn cung nguyên liệu đầu vào cho hoạt động sản xuất, kinh doanh là một trong những thách thức lớn nhất mà doanh nghiệp gặp phải, đặc biệt là giai đoạn đầu khi COVID bùng phát Theo kết quả điều tra doanh nghiệp lần thứ nhất của Tổng cục Thống kê về tác động của dịch COVID19 hồi tháng 4/2020, có khoảng 22,1% DN gặp tình trạng thiếu hụt thị trường cung cấp nguyên liệu đầu vào Thời điểm đó, các thị

Trang 3

trường nhập khẩu chủ yếu của Việt Nam như Trung Quốc, Hàn Quốc, Nhật Bản đều phải chịu hậu quả nặng nề từ dịch, cùng với các biện pháp kiểm soát dịch nghiêm ngặt, khiến cho việc cung ứng hàng hóa rất khó khăn Theo GSO, 2020 thống kê vào cuối tháng 9/2020: có khoảng 30% DN đang thiếu hụt nguyên, vật liệu đầu vào Nhiều nhất

ở các ngành da giày, may mặc… Đối với DN siêu nhỏ, việc tiếp cận nguyên, vật liệu đầu vào chỉ đạt 1/5 nhu cầu, DN lớn là 1/3 nhu cầu Hơn nữa, nguồn cung nguyên vật liệu còn bị ảnh hưởng ở khía cạnh chất lượng

 Thách thức về thị trường tiêu thụ

Theo kết quả khảo sát của GSO vào tháng 4/2020, có 57,7% DN bị ảnh hưởng bởi dịch Covid19 cho rằng thị trường tiêu thụ bị giảm mạnh Đặc biệt, có 47,2% DN xuất khẩu khẳng định hàng hóa sản xuất ra không xuất khẩu được Đồng thời, thị trường trong nước cũng không mấy khả quan Theo khảo sát của GSO, có 2/3 DN bị thu hẹp thị trường tiêu thụ DN xuất khẩu có quy mô càng lớn thì tỷ lệ DN gặp khó khăn cao

từ việc thị trường tiêu thụ thu hẹp càng cao: May mặc (trên 59% DN), da giày (trên 57%), điện tử (> 47%), sản xuất ô tô (> 40%)…

Nguyên nhân dẫn đến những khó khăn đó gồm: sự sụt giảm đơn hàng xuất khẩu (> 60%), đứt gãy chuỗi cung ứng và sụt giảm nhu cầu người dân (> 59%), khó khăn trong lưu thông hàng hóa, phí vận chuyển, lưu kho tăng (> 50%) Đối với DN siêu nhỏ, vấn

đề lớn nhất là lưu thông hàng hóa, DNNVV và DN qui mô lớn thì gặp khó khăn lớn nhất trong sụt giảm đơn hàng xuất khẩu

 Kết quả hoạt động của DN

Số lượng DN đăng ký đang hoạt động tại Việt Nam có sự tăng trưởng đều qua các năm, đặc biệt là khi Luật Doanh nghiệp 2014 có hiệu lực Năm 2020, số lượng DN đăng ký là 134.941 DN, giảm 2,3% so với năm 2019 Số lượng DN ngừng hoạt động tăng 13,93% so với năm 2019 Cho thấy COVID-19 gây tác động lớn đến hoạt động của DN

Trang 4

2010 2011 2012 2013 2014 2015 2016 2017 2018 2019 2020 0

20000

40000

60000

80000

100000

120000

140000

160000

89187

77548

69784 76995 74842

94754

110000

126859 131300 138139 134941

54198 54126 60737

67823 80858 73000

60533

74278

89282 101719

DN đăng ký thành lập Số lượng DN ngừng hoạt động

Hình 1: Số lượng DN đăng kí thành lập và ngừng hoạt động giai đoạn 2010-2020

Nguồn: Cổng thông tin quốc gia về đăng ký doanh nghiệp

Xét theo các ngành kinh tế, do ảnh hưởng của đại dịch COVID19, Chính phủ áp dụng giãn cách xã hội, phong tỏa các địa phương nên số lượng DN đăng ký thành lập mới đều giảm trong hầu hết các ngành, trừ ngành sản xuất phân phối điện và nước thì tăng trưởng đột biến (năm 2020 có số lượng DN đăng ký thành lập mới tăng 243,03%

so với năm 2019)

Với những hạn chế trong phát triển quy mô, doanh nghiệp Việt Nam đã cho thấy

sự khó khăn gặp phải ngày càng lớn, đặc biệt là với những doanh nghiệp mới thành lập Năm 2018, cả nước có 131.300 doanh nghiệp đăng kí thành lập mới (tăng 3,5% so với năm 2017), nhưng số doanh nghiệp tạm ngừng hoạt động là 90.651 doanh nghiệp (tăng 49,7% so với năm 2017) Năm 2020, cùng với tác động của đại dịch Covid19, số lượng DN ngừng hoạt động tiếp tục tăng trước những khó khăn của dịch bệnh

 Tác động tới việc làm và thu nhập của người lao động

Theo điều tra của GSO năm 2020, có 30,8 triệu người lao động từ 15 tuổi trở lên ở Việt Nam đã bị ảnh hưởng bởi đại dịch Covid19 Đáng chú ý, 17,6 triệu người (57,3%) đã bị giảm thu nhập Ngoài ra, có 53,1 triệu người lao động từ 15 tuổi trở lên

có việc làm 9 tháng năm 2020, giảm 1,3 triệu người so với cùng kỳ năm 2019 Số lượng lao động sụt giảm giữa các ngành: ngành vận tải hàng không và ngành du lịch giảm 30,4%; ngành dịch vụ lưu trú giảm 29,9%, ngành hoạt động thể thao, vui chơi, giải trí 17,4%, ngành xây dựng giảm 14,1%

Trang 5

Đồng thời, dịch Covid19 đã ảnh hưởng đến thu nhập của 90% lao động Việt Nam,

½ số lao động bị giảm thu nhập ít nhất 20%, trong đó, phần lớn là lao động trình độ thấp Thu nhập thấp hơn đã dẫn đến những thay đổi hành vi tiêu dùng hàng ngày của người Việt Nam Cụ thể, 17% hộ gia đình có thu nhập thấp, buộc phải thắt chặt chi tiêu, đặc biệt là đối với du lịch, thực phẩm, quần áo, các sản phẩm điện tử

2.2 Các chính sách hỗ trợ doanh nghiệp phát triển trong thời kỳ Covid19

2.2.1 Tổng quan các chính sách hỗ trợ DN chịu tác động tiêu cực bởi dịch Covid-19

Ngay sau khi dịch Covid-19 bắt đầu diễn ra ở Việt Nam, với quan điểm thực hiện tốt “mục tiêu kép” vừa chống dịch hiệu quả vừa đảm bảo sản xuất kinh doanh, phục hồi và tăng trưởng kinh tế, Chính phủ và các cấp chính quyền đã nhanh chóng ban hành các giải pháp hỗ trợ doanh nghiệp, hỗ trợ sản xuất kinh doanh, bảo đảm an sinh

xã hội đối phó với dịch Covid-19 Ngay từ tháng 3/2020 khi dịch mới bắt đầu bùng phát lần thứ nhất, Chính phủ, các bộ, ngành đã ban hành các chính sách hỗ trợ doanh nghiệp thông qua việc giảm lãi suất vay ngân hàng, cơ cấu lại thời hạn trả nợ, tạm dừng đóng vào quỹ hưu trí và tử tuất, lùi thời điểm đóng kinh phí công đoàn, giảm tiền điện… Nhiều chính sách có ý nghĩa đã nhanh chóng được triển khai, phần nào hỗ trợ cho các doanh nghiệp bị ảnh hưởng nặng nề do dịch Covid-19 Một số chính sách đáng chú ý trong thời điểm ban đầu bao gồm:

- Công văn số 897/TCT-QLN ngày 03/3/2020 của Tổng cục thuế về việc gia hạn nộp thuế, miễn tiền chậm nộp do ảnh hưởng bởi dịch bệnh Covid-19

- Chỉ thị số 11/CT-TTg ngày 04/3/2020 của Thủ tướng Chính phủ về các nhiệm

vụ, giải pháp cấp bách tháo gỡ khó khăn cho sản xuất, kinh doanh, đảm bảo an sinh xã hội, ứng phó với dịch Covid-19

- Chỉ thị số 06/CT-BCT ngày 11/3/2020 của Bộ Công Thương về việc tiếp tục tập trung thực hiện các giải pháp phòng, chống dịch và tháo gỡ khó khăn cho sản xuất kinh doanh của ngành Công Thương trước những diến biến mới của dịch bệnh Covid-19

Trang 6

- Thông tư số 01/2020/TT-NHNN ngày 13/3/2020 của Ngân hàng nhà nước quy định về việc tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài cơ cấu lại thời hạn trả

nợ, miễn, giảm lãi, phí, giữ nguyên nhóm nợ nhằm hỗ trợ khách hàng chịu ảnh hưởng bởi dịch viêm đường hô hấp cấp do chủng mới của virus corona (Covid – 19)

- Công văn số 860/BHXH-BT ngày 17/3/2020 của Bảo hiểm xã hội Việt Nam về việc tạm dừng đóng vào quỹ hưu trí và tử tuất đối với đối tượng bị ảnh hưởng bởi dịch Covid19

- Công văn số 245/TLĐ ngày 18/3/2020 của Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam

về việc lùi thời điểm đóng kinh phí công đoàn đối với các doanh nghiệp bị ảnh hưởng bởi dịch Covid-19

- Thông tư số 14/2020/TT-BTC ngày 18/3/2020 của Bộ Tài chính sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư số 127/2018/TT-BTC ngày 27/12/2018 của Bộ trưởng

Bộ Tài chính quy định giá dịch vụ trong lĩnh vực chứng khoán áp dụng tại Sở giao dịch chứng khoán và Trung tâm lưu ký chứng khoán Việt Nam nhằm hỗ trợ các tổ chức, cá nhân liên quan chịu ảnh hưởng do dịch Covid-19

- Nghị định số 41/2020/NĐ-CP ngày 08/4/2020 của Chính phủ về gia hạn thời hạn nộp thuế và tiền thuê đất

- Nghị quyết số 42/NQ-CP ngày 09/4/2020 của Chính phủ về các biện pháp hỗ trợ người dân gặp khó khăn do đại dịch Covid-19

- Công văn số 2698/BCT-ĐTĐL ngày 16/4/2020 của Bộ Công Thương về việc

hỗ trợ giảm giá điện, giảm tiền điện cho các khách hàng sử dụng điện bị ảnh hưởng của dịch Covid-19

Trên cơ sở đánh giá hiệu quả thực thi các giải pháp hỗ trợ nêu trên, Chính phủ điều chỉnh, bổ sung thêm một số văn bản chính sách khác nhằm hỗ trợ hiệu quả, thực chất hơn cho người dân và doanh nghiệp Ví dụ như: Nghị quyết số 154/NQ-CP ngày 19/10/2020 của Chính phủ sửa đổi, bổ sung Nghị quyết số 58 42/NQ-CP; Quyết định

số 32/2020/QĐ-TTg ngày 19/10/2020 của Thủ tướng Chính phủ sửa đổi, bổ sung một

số điều của Quyết định số 15/2020/QĐ-TTg

Trang 7

Tổng hợp, rà soát chi tiết cho thấy các chính sách tập trung vào 04 nhóm chính, bao gồm: (i) nhóm chính sách hỗ trợ về thuế, phí, lệ phí; (ii) nhóm chính sách hỗ trợ

về tín dụng; (iii) nhóm chính sách hỗ trợ về lao động, an sinh xã hội; (iv) nhóm chính sách hỗ trợ về giá dịch vụ

2.3 Đánh giá chung về hiệu quả các gói chính sách hỗ trợ doanh nghiệp chịu ảnh hưởng bởi đại dịch Covid19

 Mặt tích cực

Các chính sách hỗ trợ của Chính phủ đã có những tác động tích cực nhất định, phần nào cải thiện tình trạng khó khăn của người dân và doanh nghiệp Việc triển khai Nghị quyết số 42/NQ-CP, theo Bình (2020) chỉ có 13.000 hộ kinh doanh tiếp cận được các gói hỗ trợ

Đối với lĩnh vực ngân hàng và tín dụng, nhiều giải pháp thiết thực cũng được ban hành, trực tiếp hỗ trợ DN tiết giảm các chi phí lãi vay, chi phí phải trả trong hoạt động sản xuất kinh doanh Cụ thể, trong giai đoạn Covid-19, NHNN đã nhiều lần điều chỉnh giảm lãi suất nhằm ổn định và giảm lãi suất cho vay, hỗ trợ DN, người dân khắc phục khó khăn, phục hồi sản xuất Tính từ tháng 9/2019 – 6/2020, NHNN đã 3 lần giảm lãi suất điều hành với mức giảm là 1,75%/năm, đồng thời giảm 0,8-1,25%/năm trần lãi suất huy động, giảm 1,5%/năm trần lãi suất cho vay đối với các lĩnh vực ưu tiên Như vậy,

so với các nước trong khi vực, mức giảm lãi suất của Việt Nam là lớn nhất (Philippines: 1,25%, Thái Lan: 0,5%, Malaysia: 0,5%, Indonesia: 0,5%, Ấn Độ: 0,75%, Trung Quốc: 0,3%) Lãi suất cho vay đối với lĩnh vực ưu tiên hiện ở mức 5%/năm Ngoài ra, NHNN cũng chỉ đạo Napas và tổ chức tín dụng giảm, miễn giao dịch thanh toán, qua đó giúp giảm chi phí cho DN (Bộ Kế hoạch và Đầu tư, 2020b)

 Mặt hạn chế

Tuy nhiên, các chính sách hỗ trợ vẫn còn những hạn chế, chưa hỗ trợ được đa số

DN như kỳ vọng Việc tiếp cận chính sách còn rất khó khăn, khiến rất ít, hoặc thậm chí không có DN nào tiếp cận được (Ví dụ như chính sách hỗ trợ DN vay vốn để trả lương,

Trang 8

chính sách giãn, giảm tiền thuê đất…) Trình tự, thủ tục mà DN cần phải thực hiện còn phức tạp, không phù hợp trong hoàn cảnh dịch bệnh bùng phát Cụ thể:

- Để tiếp cận các gói hỗ trợ thì DN phải tự giải trình, chứng minh mất bao nhiêu doanh thu và lao động Việc này không cần thiết vì tất cả DN dù quy mô lớn hay nhỏ đều bị ảnh hưởng bởi Covid19 Thủ tục minh chứng phức tạp, tốn chi phí hơn cả khoản được hỗ trợ Ví dụ, những yêu cầu như phải ghi lại hình ảnh để làm bằng chứng

bị ảnh hưởng của dịch là không phù hợp vì thời điểm đó đã qua Ngoài ra, để chứng minh đáp ứng điều kiện thì DN cũng phải giành nguồn lực nhất định để thực hiện Trong khi giãn cách xã hội, nguồn lực của DN đã bị thu hẹp đáng kể

- Các điều kiện chưa hợp lý, gây khó khăn cho DN trong việc tiếp cận các gói hỗ trợ Ví dụ, điều kiện để hưởng gói hỗ trợ vay trả tiền lương cho người lao động có quy định “doanh nghiệp không có nợ xấu” là rất khó đáp ứng, đáng ra phải cho vay không điều kiện để kịp thời hỗ trợ DN Hoặc các quy định về doanh thu cũng rất khó đáp ứng (quy định phải hoàn toàn không có doanh thu trong 1 tháng (trong khi đợt giãn cách thường 15, 21 ngày), quy định doanh thu giảm 50% (trong khi DN vẫn giữ các đơn hàng từ trước dịch nên doanh thu không giảm đột ngột 50%)…

- Nhiều chính sách ban hành chưa có hướng dẫn cụ thể để triển khai, nên cơ quan thực thi địa phương lúng túng, chậm trễ thực hiện giải ngân các gói hỗ trợ Vì thế, dù

có nhận được hỗ trợ thì cũng chậm trễ, không đúng thời điểm

- Gói hỗ trợ 62.000 tỷ đồng của Chính phủ khó tiếp cận được nếu các quỹ của

DN từ năm trước, vẫn lấy ra để hỗ trợ người lao động Vận động người lao động để dừng đóng bảo hiểm xã hội là rất khó, công ty vẫn hỗ trợ đóng bảo hiểm xã hội nếu người lao động có nhu cầu nên không thể đảm bảo tiêu chí giảm lao động

- Gói hỗ trợ giảm 30% thuế thu nhập DN của năm 2020 không có nhiều ý nghĩa

vì DN không chắc có lợi nhuận để được giảm

- Các gói hỗ trợ chưa thực hiện theo thời gian, lộ trình phù hợp với khả năng phục hồi của DN

3 Giải pháp thúc đẩy DN Việt Nam phục hồi sau đại dịch Covid19

Trang 9

3.1 Bối cảnh biến động toàn cầu

Đại dịch Covid 19

Đại dịch Covid 19 đã gây ra một cuộc suy thoái toàn cầu nghiêm trọng Nhiều quốc gia bước vào cuộc khủng hoảng trong tình trạng tài khóa bấp bênh và ít có khả năng đưa ra các phản ứng chính sách mạnh liên quan đến chăm sóc sức khỏe hoặc hỗ trợ sinh kế Các biện pháp như giãn cách xã hội, tiêm chủng và điều trị y tế đã giúp làm chậm tiến trình lây lan virus và cứu mạng sống của nhiều người, đồng thời hỗ trợ cho quá trình tăng trưởng kinh tế Tuy nhiên, tương lai của thế giới vẫn còn khó dự đoán và phụ thuộc vào việc liệu các chủng COVID mới có nhạy cảm với vac-xin hay không, các phản ứng chính sách có hiệu quả hay không trong việc hạn chế những thiệt hại kinh tế dai dẳng Việt Nam cũng bị ảnh hưởng nặng nề bởi đại dịch COVID-19 Mặc dù tăng trưởng kinh tế của Việt Nam năm 2020 đạt dương (+2,9%) và được dự đoán là một trong những nền kinh tế tăng trưởng cao nhất khu vực Đông Nam Á vào năm 2021-2022 bởi ADB (2021) trong quý I/2021 nhưng làn sóng bùng phát dịch bệnh lần thứ tư (bắt nguồn từ chủng Delta) kể từ đầu tháng 5/2021 chắc chắn sẽ tạo thêm nhiều thử thách

Xu hướng số hóa nền kinh tế

Các ngành sản xuất hàng hóa và dịch vụ trên thế giới đều đẩy mạnh quá trình số hóa, đặc biệt đối với các ngành sản xuất tập trung tri thức, tập trung vốn Chương trình chuyển đổi số quốc gia (Quyết định số 749/QĐ-TTg) được chính thức phê duyệt tháng 6/2020 đã thể hiện quyết tâm hình thành nền kinh tế số, xã hội số và Chính phủ số tại Việt Nam Thương mại điện tử bùng nổ, tăng trưởng trung bình gần 30%/năm trong giai đoạn 2014-2020 Tuy nhiên, Việt Nam còn gặp nhiều thách thức trong việc triển khai nền kinh tế số so với một số quốc gia ASEAN khác (như Thái Lan, Indonesia, Philippines), xét về mức độ kết nối trung bình của người dân, cơ sở hạ tầng kỹ thuật số, phương thức thanh toán kỹ thuật số, tiến độ hấp thụ công trước trước làn sóng CMCN 4.0

Thách thức từ biến đổi khí hậu toàn cầu

Trang 10

Thế giới của chúng ta đang phải đối mặt với thách thức biến đổi khí hậu toàn cầu

mà không một quốc gia riêng lẻ nào có thể giải quyết được Điều này dẫn đến việc phải nhanh chóng tìm kiếm những giải pháp thúc đây phát triển bền vững Các chính sách về biến đổi khí hậu hiện đang được thông qua ở một số nước và các khối thương mại tự do sẽ có tác động cơ bản đến hoạt động sản xuất, thương mại và đầu tư Nhiều quốc gia xác định phát triển xanh là chiến lược quan trọng giúp phục hồi kinh tế sau đại dịch Các công ty đa quốc gia gặp phải những áp lực trong việc xây dựng những chuỗi giá trị không ảnh hưởng tới môi trường và tiến tới thiết lập những chuỗi giá trị

có ảnh hưởng tích cực tới môi trường Việt Nam là một trong những nước chịu thiệt hại nặng nề nhất từ BĐKH (xếp thứ 6 toàn cầu theo Báo cáo Chỉ số Rủi ro khí hậu toàn cầu KRI 2020) Trong xu hướng chung của thế giới, trong những năm gần đây, Chính phủ Việt Nam đã và đang thực hiện một số nỗ lực cải cách để vượt qua các rào cản nội tại nhằm hướng tới phát triển bền vững và xanh hoá nền kinh tế

Cạnh tranh chiến lược và điều chỉnh chính sách của các nền kinh tế lớn

Sự trỗi dậy của Trung Quốc khiến cạnh tranh chiến lược giữa các nền kinh tế lớn ngày càng trở nên gay gắt Có thể nói, cục diện thế giới “lưỡng siêu, đa cường” được định hình rõ nét hơn Mâu thuẫn giữa liên kết, hội nhập kinh tế với sự gia tăng xu hướng phân tách Mạng lưới sản xuất, chuỗi cung ứng toàn cấu được sắp xếp lại theo hướng giảm rủi ro đứt gãy, gián đoạn; theo hướng: (i) đưa sản xuất về gần thị trường hoặc về nước, (ii) dịch chuyển đầu tư và chuỗi cung ứng toàn cầu ra khỏi Trung Quốc

và (iii) chiến lược “Trung Quốc +1” Bên cạnh đó, các nước có xu hướng tìm kiếm sự cân bằng hơn giữa liên kết kinh tế với nâng cao năng lực tự chủ Xanh hóa và số hóa cũng là các xu hướng lớn được các nước tiếp tục thúc đây

Bối cảnh trong nước: Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội 2021-2030 và việc thực thi các Hiệp định thương mại tự do của Việt Nam.

Việt Nam đưa ra khát vọng, tầm nhìn trở thành nước phát triển theo định hướng XHCN với mục tiêu đến năm 2030 là nước thu nhập trung bình cao có công nghiệp hiện đại và đến năm 2045 là nước phát triển có thu nhập cao Chiến lược phát triển

Ngày đăng: 25/02/2023, 08:58

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w