THU HÚT ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP NƯỚC NGOÀI VÀO VIỆT NAM TRONG BỐI CẢNH MỚI HIỆN NAY Tóm tắt Dòng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) đóng vai trò quan trọng đối với nền kinh tế toàn cầu, giúp dịch chuyển v.
Trang 1THU HÚT ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP NƯỚC NGOÀI VÀO VIỆT NAM TRONG
BỐI CẢNH MỚI HIỆN NAY
Tóm tắt: Dòng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) đóng vai trò quan trọng đối
với nền kinh tế toàn cầu, giúp dịch chuyển và phân bổ nguồn vốn một cách hiệu quả và mang lại lợi ích cho các quốc gia, nhất là các quốc gia đang phát triển Tại Việt Nam, trong 35 năm thực hiện đổi mới, FDI là một trong những động lực đóng góp quan trọng cho phát triển kinh tế Tuy nhiên, thời gian gần đây dòng vốn FDI vào Việt Nam chịu tác động mạnh mẽ từ đại dịch Covid-19 Bài viết tập trung đánh giá thực trạng và tiềm năng thu hút FDI vào Việt Nam trong bối cảnh mới, trên cơ sở đó đề xuất ý kiến nhằm thu hút FDI đạt hiệu quả cân bằng.
Từ khóa: Covid-19; FDI; Dòng vốn FDI
Diễn biến tác động của đại dịch Covid 19
Bắt đầu vào tháng 1/2020 từ Vũ Hán, Trung Quốc và lan rộng trên toàn thế giới kể
từ tháng 2/2020, đại dịch Covid-19 đã khiến các nền kinh tế thế giới trải qua cú sốc kinh
tế vĩ mô tồi tệ GDP toàn cầu năm 2020 giảm khoảng 3,5%, trong đó giảm 4,9% ở các nền kinh tế tiên tiến và giảm 2,4% ở các nền kinh tế mới nổi và đang phát triển
Ở Việt Nam, mặc dù tốc độ tăng trưởng GDP của năm 2020 vẫn dương nhưng chỉ còn 2,91%, thấp nhất kể từ sau đổi mới vào những năm cuối 1980 Những tác động kinh
tế chính của đại dịch là làm giảm quy mô của lực lượng lao động và giảm năng suất lao động Về phía cung, nhiều doanh nghiệp đã bị đóng cửa, các chuỗi cung ứng bị đứt gãy hoặc gián đoạn tạm thời bởi các biện pháp phòng chống bệnh dịch nhằm ngăn chặn sự lây lan của virus, tránh sự sụp đổ của hệ thống y tế Về phía cầu, nhiều nhu cầu tiêu dùng sụp đổ do người tiêu dùng lo ngại nguy cơ mắc bệnh Hình thức tiêu dùng cũng có
sự xáo trộn mạnh mẽ theo hướng tự phục vụ tại nhà hoặc sử dụng nhiều dịch vụ trên các nền tảng trực tuyến thay vì tiếp xúc trực tiếp
Có thể nói, đại dịch Covid-19 hiện nay đang đặt ra những thách thức chưa từng có tiền lệ và những khó khăn vô cùng to lớn đối với toàn bộ nền kinh tế Diễn biến khó
Trang 2lường của đại dịch đặt ra khó khăn rất lớn đến khả năng duy trì sản xuất và sức chống chịu của nền kinh tế Trước những tác động tiêu cực nặng nề của đại dịch, Chính phủ các nước trên thế giới nói chung và Việt Nam nói riêng đã đưa ra những phản ứng với quy mô, tốc độ nhanh chóng và quyết liệt chưa từng có trong lịch sử Bên cạnh chính sách giãn cách xã hội và cách ly để kiểm soát dịch, các chính sách kinh tế được đưa
ra nhằm: (i) đảm bảo nhân lực, vật lực cho công tác chống dịch; (ii) đảm bảo những nhu cầu thiết yếu cho đời sống của người dân; (iii) hỗ trợ các doanh nghiệp nhỏ và vừa - đối tượng có tiềm lực tài chính hạn chế, dễ tổn thương do hoạt động sản xuất bị ngưng trệ; (iv) duy trì tính thanh khoản của hệ thống tài chính; và (v) hỗ trợ một số ngành chịu ảnh hưởng trực tiếp từ chính sách kiểm soát dịch bệnh như hàng không, du lịch, bán lẻ,…
Các chính sách của Chính phủ ứng phó với đại dịch
Trong bối cảnh đại dịch Covid -19, Bộ Tài chính đã bám sát chỉ đạo của Đảng, Quốc hội, Chính phủ và Thủ tướng Chính phủ đánh giá tình hình thực tiễn và nghiên cứu kinh nghiệm tại nhiều quốc gia trên thế giới, chủ động rà soát hệ thống pháp luật và đề xuất triển khai đồng bộ nhiều giải pháp về tài chính - NSNN để tháo gỡ khó khăn cho người dân, doanh nghiệp do đại dịch Cụ thể:
Tại Việt Nam, trong tháng 3/2020, thủ tướng Chính phủ đã ba lần ra các Chỉ thị 11/ CT-TTg (ngày 04/3/2020), 15/CT-TTg (ngày 27/3/2020) và 16/CT-TTg (ngày 31/3/2020) về các nhiệm vụ, giải pháp cấp bách tháo gỡ khó khăn cho sản xuất kinh doanh, bảo đảm an sinh xã hội và các biện pháp cấp bách phòng chống đại dịch
Covid-19
Trong tháng 4/2020, các văn bản pháp lý khác quan trọng hơn đã được ban hành bởi Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ và Quốc hội nhằm hỗ trợ doanh nghiệp và người dân
vượt qua các khó khăn kinh tế ứng phó với đại dịch Covid-19 Cụ thể: Nghị định 41/2020/NĐ-CP ngày 08/4/2020 về gia hạn thời hạn nộp các khoản thuế (thuế GTGT,
thuế TNDN, thuế TNCN thuế TTĐB) và tiền thuê đất; miễn, giảm các khoản thuế (như thuế TNDN, thuế TNCN, thuế nhập khẩu, thuế bảo vệ môi trường), phí, lệ phí và tiền thuê đất Tổng giá trị hỗ trợ khoảng 129 nghìn tỷ đồng; trong đó, số tiền thuế, phí, lệ phí
Trang 3và tiền thuê đất được gia hạn khoảng 97,5 nghìn tỷ đồng; số được miễn, giảm khoảng
31,5 nghìn tỷ đồng ; Nghị quyết 42/NQ-CP ngày 09/4/2020 về các biện pháp hỗ trợ người dân gặp khó khăn do đại dịch Covid-19; Quyết định 15/QĐ-TTg ngày
24/4/2020 quy định về việc thực hiện các chính sách hỗ trợ người dân gặp khó khăn do
đại dịch Covid-19; Nghị quyết 84/NQ-CP ngày 29/5/2020 về các nhiệm vụ, giải pháp
tiếp tục tháo gỡ khó khăn cho sản xuất kinh doanh, thúc đẩy giải ngân vốn đầu tư công
và bảo đảm trật tự an toàn xã hội trong bối cảnh đại dịch Covid-19; Nghị quyết 116/2020/QH14 ngày 19/6/2020 về việc giảm thuế thu nhập doanh nghiệp phải nộp của
năm 2020 đối với doanh nghiệp, hợp tác xã, đơn vị sự nghiệp và tổ chức khác
Đặc biệt, năm 2021, Bộ Tài chính đã trình Chính phủ và cấp có thẩm quyền ban hành và tiếp tục thực hiện một số giải pháp như: Gia hạn thời hạn nộp thuế (thuế GTGT, thuế TNDN, thuế TNCN) và tiền thuê đất cho các đối tượng gặp khó khăn do ảnh hưởng của dịch Covid-19; tiếp tục giảm thuế bảo vệ môi trường đối với nhiên liệu bay để hỗ trợ ngành Hàng không; thực hiện tính vào chi phí được trừ khi xác định thu nhập chịu thuế TNDN đối với các khoản chi ủng hộ, tài trợ của doanh nghiệp, tổ chức cho các hoạt động phòng, chống dịch Covid-19; tiếp tục giảm mức thu hơn 30 loại phí, lệ phí từ ngày 01/01/2021 đến hết ngày 31/12/2021
Ảnh hưởng của dịch bệnh Covid 19 đến dòng vốn FDI vào Việt Nam
(1) Về tổng dự án và vốn đầu tư
Giai đoạn 2010-2019 chứng kiến sự bùng nổ của dòng vốn FDI vào Việt Nam, số lượng dự án tăng bình quân 10% mỗi năm nhờ những nỗ lực hội nhập kinh tế toàn cầu
và cải thiện môi trường đầu tư Việc ban hành Luật đầu tư 2014 trên cơ sở sửa đổi và bổ sung luật đầu tư 2005 và Việt Nam tham gia và ký kết các hiệp định thương mại tự do như Cộng đồng kinh tế Asean (2015), phê chuẩn hiệp định Đối tác toàn diện và tiến bộ xuyên Thái Bình Dương (TPTPP), hiệp định thương mại tự do và hiệp định bảo hộ đầu
tư (EVFTA và IPA) năm 2019 là nền tảng giúp nước ta trở thành điểm sáng trong thu hút FDI
Trang 4Bước vào thời kỳ dịch bệnh, Việt Nam được là một trong những quốc gia chống dịch Covid-19 hiệu quả hàng đầu trên thế giới, được cộng đồng quốc tế đánh giá cao và đặc biệt là đón nhận nhiều sự phản hồi tích cực từ các nhà đầu tư lớn trên thế giới Tuy vậy, không thể phủ định khủng hoảng dịch bệnh, sự phục hồi kinh tế của nhiều quốc gia trên thế giới còn chậm có ảnh hưởng không nhỏ đến hiệu quả thu hút nguồn vốn FDI vào Việt Nam từ đầu năm 2020 đến nay Theo thống kê của Cục đầu tư nước ngoài (2020), dòng vốn FDI đăng ký vào Việt Nam năm 2020 giảm 25% so với cùng kỳ năm
2019, tuy nhiên vốn FDI thực hiện chỉ giảm giảm 2% Mặc dù trải qua làn sóng thứ tư của dịch bệnh với cường độ, mức độ nghiệm trọng hơn các đợt dịch trước, Việt Nam vẫn ghi nhận dòng vốn FDI đổ vào thị trường trong nước tăng trưởng tốt Cụ thể, vốn FDI đăng ký mới 5 tháng đầu năm 2021 tăng lên 8% và giá trị vốn thực hiện tăng 6,7%
so với 5 tháng đầu năm 2020 Trong đó ghi nhận, dòng vốn FDI đăng ký và thực hiện giảm mạnh nhất vào tháng 2/2020, do dịch bệnh bắt đầu xuất hiện, cũng là thời gian sau nghỉ lễ Sau đó là tháng 8/2020, khi nước ta ghi nhận làn sóng dịch bệnh thứ hai với 581
ca mắc (số ca mắc nhiều nhất trong năm 2020), dòng vốn FDI đăng ký giảm thấp nhất (720,9 triệu USD) và vốn thực hiện cũng giảm mạnh so với tháng 7/2020 Lũy kế đến hết tháng 5/2020 có 33.615 dự FDI còn hiệu lực đầu tư với tổng vốn 396.862,66 triệu USD Làn sóng đầu tư cũng chậm lại khi Việt Nam bước vào làn sóng dịch thứ ba (tháng 2/2021) và lần thứ tư (tháng 5/2021) Điều này cho thấy, sự tăng giảm của mức
độ phức tạp trong dịch bệnh kéo theo sự thay đổi của dòng vốn đầu tư vào Việt Nam Tình trạng tăng giảm của dòng vốn FDI tăng giảm theo chu kỳ của dịch bệnh là do ảnh hưởng của đại dịch Covid là rất đa dạng, nó ảnh hưởng đến sức khỏe cộng đồng và nền kinh tế của hầu hết các quốc gia có dịch Hơn nữa, các chính sách phòng chống dịch bệnh thường gây ra những hiệu ứng và tác động đến các lĩnh vực khác Cụ thể như chính sách đóng cửa biên giới, cách ly xã hội của Chính phủ Việt Nam làm chậm sự lây lan của dịch bệnh nhưng lại khiến nền kinh tế và dòng vốn đầu tư trì trệ, nhưng khi mở cửa nền kinh tế kéo theo dịch bệnh phức tạp trở lại Mặt khác, nền kinh tế thế giới được liên kết với nhau thông qua chuỗi giá trị toàn cầu và các chuyển động về nhân lực, vốn, hàng
Trang 5hóa, dịch vụ Hệ quả tất yếu của dịch bệnh Covid làm cho dòng vốn đầu tư giữa các quốc gia trở nên cô lập
Bảng 1: Tình hình thu hút vốn FDI của Việt Nam tính đến 5 tháng đầu năm 2021
Đơn vị tính: triệu USD
Chỉ tiêu Năm 2019 Năm 2020 5 tháng/2020 5 tháng/2021 So cùng kỳ
2020/2019
So cùng
tháng 2021/2020
Vốn thực hiện 20.380 19.980 6.700 7.150 98 % 106,7% Vốn đăng ký 38.019,11 28.530.1 13.885,75 3.995,08 75 % 100,8 %
Nguồn: Tác giả tổng hợp và tính toán dựa trên số liệu công bố của Cục đầu tư nước ngoài
(2) Về hình thức đầu tư
Tại Việt Nam trong thời kỳ khủng hoảng dịch bệnh có thể nhìn thấy cơ cấu lựa chọn hình thức đầu tư của các nhà đầu tư nước ngoài vào trong nước có sự thay đổi đáng kể Trước dịch bệnh, các nhà đầu tư lựa chọn hai hình thức đầu tư chủ yếu bao gồm đầu tư mới (44,05%) và góp vốn mua cổ phần (40,69%), chỉ có 15,26% điều chỉnh vốn Trong thời gian dịch bệnh, hình thức đầu tư FDI mới được các nhà đầu tư ưu tiên lựa chọn (chiếm 51,34%), trong khi hình thức góp vốn mua cổ phần giảm 14,51% xuống còn 26,18% Thậm chí khi dịch bệnh ở trong nước trở nên nghiêm trọng hơn, 5 tháng đầu năm 2021 ghi nhận 63,08% giá trị vốn đầu tư theo hình thức đầu tư mới và chỉ có 9,35% cho hình thức mua vốn góp, cổ phần Đặc biệt, tình hình dịch bệnh càng căng thẳng, các nhà đầu tư FDI tại Việt Nam có xu hướng điều chỉnh vốn ngày càng nhiều Điều này phần nào thể hiện sự yêu tâm và tin tưởng của các nhà đầu tư đã đầu tư trong nước về khả năng phục hồi và vượt qua dịch bệnh cũng như tăng trưởng kinh tế Việt Nam trong thời gian tới Điều này được lý giải do nguyên nhân FDI chịu sự ảnh hưởng của nhiều loại rủi ro khác nhau, ngoài hai yếu tố thường nhật là rủi ro quốc gia và ngành thì dòng vốn FDI toàn cầu đang phải đối mặt với rủi ro toàn cầu - đó là dịch bệnh Covid Nó không chỉ là một sự kiện không chắc chắn, khó kiểm soát mà còn có nguy cơ ảnh hưởng tiêu cực đến các quốc gia và lĩnh vực trong 10 năm tới Khi sự rủi ro càng lớn, các nhà đầu tư càng có xu hướng tìm kiếm hình thức đầu tư có mức an toàn cao
Trang 6(3) Về đối tác đầu tư
Tại Việt Nam, theo số liệu của Cục Đầu tư nước ngoài - Bộ Kế hoạch và Đầu tư, lũy
kế đến tháng 6 năm 2021, FDI từ Hàn Quốc dẫn đầu với tổng vốn đầu tư 72,1 tỷ USD, chiếm gần 18,11% tổng vốn đầu tư vào Việt Nam; Nhật Bản đứng thứ hai với tổng vốn đầu tư 63 tỷ USD, chiếm gần 15,85% tổng vốn đầu tư; Singapore đứng thứ 3 với tổng vốn đầu tư 62,3 tỷ USD, chiếm 15,65% tổng vốn đầu tư; tiếp theo là Đài Loan, Hồng Kông, Có thể thấy trong nhóm 10 nước đầu tư hàng đầu vào Việt Nam, thì có đến 8 nước Châu Á, đặc biệt 4 nước dẫn đầu bỏ xa phần còn lại đều từ châu Á đã chiếm đến 58,37% tổng số vốn FDI vào Việt Nam
Bảng 2: FDI tại Việt Nam theo đối tác lũy kế các dự án còn hiệu lực
đến tháng 06/2021
ký (triệu USD)
Tỷ trọng (%)
6 British Virgin Islands 867 22.154,46 5,57
Tổn
g
Nguồn: Cục Đầu tư nước ngoài – Bộ Kế hoạch và Đầu tư
Thách thức trong thu hút FDI vào Việt Nam trong khủng hoảng dịch bệnh
Thứ nhất, đại dịch Covid-19 đã ảnh hưởng đến tất cả các lĩnh vực kinh tế - xã hội
của Việt Nam, làm gián đoạn các chuỗi cung ứng và cản trở các hoạt động thương mại, đầu tư Dịch bệnh đang tiếp tục lây lan với tốc độ nhanh trên diện rộng tại nhiều nước trên thế giới, đặc biệt đã xuất hiện chủng vi rút mới có khả năng lây lan mạnh hơn tại
Trang 7khoảng 40 quốc gia, khiến nhiều nước phải áp dụng các biện pháp mạnh, tái phong tỏa
để phòng, chống dịch Việt Nam vẫn đang tiếp tục chống dịch trong diễn biến tình hình dịch ngày càng phức tạp và khó kiểm soát Do đó, đây vẫn là một trong những thách thức lớn nhất mà Việt Nam cần phải vượt qua để trở thành điểm đến an toàn của nhà đầu
tư nước ngoài
Thứ hai, tình trạng yếu kém của ngành công nghiệp phụ trợ Các ngành chế tạo lớn
như điện tử, da giày, dệt may vẫn chủ yếu phụ thuộc vào nguồn nguyên vật liệu từ nước ngoài, đặc biệt là từ Trung Quốc Trong mắt nhà đầu tư nước ngoài, Việt Nam vẫn
là điển hình của quốc gia thực hiện gia công sản xuất Bên cạnh đó, môi trường đầu tư của Việt Nam cũng còn tồn tại một số vấn đề nổi cộm như: sự kết nối giữa nhà đầu tư nước ngoài và nhà cung cấp trong nước còn yếu, bất cập trong thủ tục hành chính, sự thiếu minh bạch và khó dự đoán của nhiều chính sách, chi phí không chính thức cao
Đó là chưa kể tới các bất cập về cơ sở hạ tầng, đặc biệt là hạ tầng logistics phục vụ hoạt động sản xuất kinh doanh
Thứ ba, nguồn lao động dồi dào, giá rẻ sẽ không còn là yếu tố tạo nên lợi thế cạnh
tranh trong thu hút đầu tư nước ngoài vào Việt Nam, đặc biệt là trong bối cảnh CMCN 4.0 Xu hướng các công nghệ sử dụng nhiều vốn và kỹ năng đang phát triển nhanh chóng, thúc đẩy chuyển dịch sản xuất từ các nước có nhiều lao động phổ thông sang các nước có nhiều trung tâm R&D trong khi và vấn đề năng suất lao động cũng như chất lượng nguồn nhân lực vẫn là điểm yếu của thị trường trong nước
Các thách thức từ bối cảnh đầu tư toàn cầu
Một là, theo dự báo của WIPA (2020) lượng vốn FDI toàn cầu sẽ sụt giảm tới
30-40% trong giai đoạn 2020-2021 Thêm vào đó, xu hướng ưu tiên chuyển dịch sản xuất từ nước ngoài về nội địa hoặc các nước gần đang dần gia tăng nhằm nâng cao tính chủ động của nhiều nước trong chuỗi cung ứng, dẫn đến tình trạng cạnh tranh trong thu hút đầu tư càng trở nên gay gắt Trong khi các nguồn vốn đầu tư đang sụt giảm, thì các thị trường mới nổi hấp dẫn nhà đầu tư ngày càng xuất hiện nhiều như Ấn Độ, Thái Lan, Indonesia với đủ các hình thức thu hút đầu tư hấp dẫn khác nhau Họ có lợi thế tương
Trang 8đồng hoặc riêng biệt vẫn đang cạnh tranh quyết liệt với Việt Nam Các quốc gia này cũng đang ban hành nhiều chính sách rất mạnh mẽ để giữ chân cũng như lôi kéo các nhà đầu tư nước ngoài như ưu đãi về thuế, xây dựng các khu công, gói hỗ trợ đào tạo thợ lành nghề, hoặc những cam kết sẽ cải thiện môi trường kinh doanh nội địa
Hai là, các yếu tố không thuận lợi như sự trì trệ của các nền kinh tế của các đối tác
tham gia các FTA với Việt Nam, nguy cơ khủng hoảng kinh tế trong và sau dịch sẽ có thể hạn chế lợi ích của các FTA đối với nước ta trong thu hút FDI Cụ thể, Việt đã và đang trong lộ trình triển khai các cam kết trong khuôn khổ các EFFTA và IPA, tuy nhiên khủng hoảng dịch bệnh ở thị trường Châu Âu trong hơn một năm qua khiến cho thương mại đầu tư của khu vực này vào Việt Nam cũng có xu hướng giảm sút
Một số kiến nghị nhằm tiếp tục thu hút vốn FDI vào Việt Nam trong bối cảnh mới
Trong bối cảnh mới hiện nay, cơ hội và thách thức trong thu hút FDI là rất lớn Vì vậy, để tận dụng tốt cơ hội và hạn chế những thách thức, Việt Nam cần phải thực hiện triệt để những giải pháp sau:
Thứ nhất, dịch bệnh Covid-19 vẫn đang bùng phát tại Việt Nam và nhiều quốc gia
trên thế giới với nhiều biến chủng mới Dịch bệnh Covid-19 vẫn là thách thức lớn đối với nền kinh tế của mỗi quốc gia Vì vậy, trước mắt nước ta cần tích cực kiểm soát tốt dịch bệnh Covid-19, duy trì trạng thái vừa chống dịch, vừa phát triển sản xuất, hỗ trợ kịp thời và đồng hành cùng các doanh nghiệp Trên cơ sở đó, tạo niềm tin với các nhà đầu tư nước ngoài khi họ quyết định đầu tư vào Việt Nam
Thứ hai, trước làn sóng chuyển dịch vốn FDI ra khỏi Trung Quốc, để tránh nước ta
trở thành nơi đầu tư của các dự án FDI có quy mô vốn nhỏ, công nghệ lạc hậu, ô nhiễm môi trường, thâm dụng lao động Trong thời gian tới Việt Nam cần tích cực xây dựng
hệ tiêu chuẩn quốc gia về thu hút FDI như: quy mô vốn; lĩnh vực đầu tư có thuộc nhóm
ưu tiên thu hút hay không; mức độ sử dụng lao động, công nghệ, môi trường, giá trị gia tăng nội địa, khả năng liên kết lan toả và tham gia các chuỗi giá trị; mức độ ảnh hưởng đến an ninh, quốc phòng
Trang 9Thứ ba, trong bối cảnh cạnh tranh gay gắt giữa các quốc gia trong thu hút vốn FDI,
Việt Nam cần phải xây dựng một hệ sinh thái thu hút đầu tư hấp dẫn, nhiều chính sách
và tầng mức ưu đãi cho nhiều đối tác đầu tư, tránh kiểu “ưu đãi cào bằng” Ưu tiên các
nhà đầu truyền thống, quy mô vốn lớn vào Việt Nam; dự án có công nghệ tiên tiến, công nghệ mới, công nghệ cao, công nghệ sạch, quản trị hiện đại, có giá trị gia tăng cao, cam kết chuyển giao công nghệ, có tác động lan toả, kết nối chuỗi sản xuất và cung ứng toàn cầu
Thứ tư, Mỹ và EU là nơi tập trung nhiều các công ty xuyên quốc gia có thế mạnh về
tài chính và công nghệ hiện đại, mạng lưới thị trường quốc tế và kỹ năng quản trị kinh doanh tốt Tuy nhiên, thu hút FDI của Mỹ và EU vào Việt Nam còn khá khiêm tốn là do
sự không tương thích về thể chế và chính sách giữa hai bên Vì vậy, Chính phủ cần phải đẩy mạnh cải cách thể chế, chính sách trong đó tích cực hoàn thiện hệ thống pháp luật theo hướng đồng bộ, minh bạch, hạn chế thay đổi, sửa đổi luật và phù hợp với luật pháp quốc tế Nhất quán trong chính sách đầu tư và cần phải xây dựng chính sách ưu đãi “đơn nhất và đặc biệt” đối với Mỹ và EU nếu như các dự án đầu tư phù hợp với các tiêu chí của Việt Nam, đảm bảo đảm bảo phát triển kinh tế kết hợp chặt chẽ với an ninh, quốc phòng
KẾT LUẬN
Bài viết đã phân tích làm rõ thực trạng đầu tư trực tiếp nước ngoài vào Việt Nam Kết quả nghiên cứu cho thấy giai đoạn từ 2019-5/2021, Việt Nam đã thành công trong việc thu hút FDI với tổng số vốn đăng ký rất lớn Tuy nhiên, bên cạnh những kết quả đạt được, thu hút FDI vào Việt Nam trong bối cảnh mới cũng không tránh khỏi những khó khăn, thách thức như: FDI có xu hướng giảm; sự thay đổi chính sách đầu tư của các quốc gia có nền kinh tế phát triển và sự cạnh tranh gay gắt giữa các nước trong việc thu hút đầu tư Bên cạnh đó, một số vấn đề về cơ sở hạ tầng, chính sách pháp luật, môi trường đầu tư, chất lượng nguồn nhân lực là những lý do mà một số đối tác chưa lựa chọn Việt Nam để đầu tư Vì vậy, muốn tận dụng tốt cơ hội đòi hỏi Việt Nam cần thiết phải thay đổi và thích ứng, để thu hút mạnh mẽ nguồn vốn FDI trong thời gian tới
Trang 10Tài liệu tham khảo:
1 Cục đầu tư nước ngoài (2015-2020), Đầu tư vào Việt Nam, https://fia.mpi.gov.vn/, (Tổng hợp của tác giả về tình hình đầu tư vào Việt Nam giai đoạn 2015-2020)
2 Cục đầu tư nước ngoài (2021), Tình hình đầu tư nước ngoài 6 tháng đầu năm
2021, https://fia.mpi.gov.vn/, truy cập ngày 20/6/2021 4 Đảng Cộng sản Việt Nam
(2021), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, Nxb Chính trị quốc gia - Sự thật
3 Lê Thị Thanh Trang (2021), Giải pháp thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài vào Việt Nam, Tạp chí Tài chính kỳ 2 tháng 4/2021
4 Lê Xuân Sang (2021), Thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài vào Việt Nam trong bối cảnh mới, Tạp chí Tài chính kỳ 1+2 tháng 02/2021
5 Nguyễn Bích Lâm (2020), Nhìn nhận khủng hoảng do đại dịch COVID-19 để thu hút hiệu quả vốn FDI, http:// baochinhphu.vn/