THỊ TRƯỜNG LAO ĐỘNG THÍCH ỨNG VỚI ĐẠI DỊCH COVID 19 Tóm tắt Trong hai năm gần đây, đại dịch COVID 19 đã và đang càn quét khốc liệt trên phạm vi toàn thế giới, gây nhiều tác động tiêu cực chưa từng có.
Trang 1THỊ TRƯỜNG LAO ĐỘNG THÍCH ỨNG VỚI ĐẠI DỊCH COVID 19
Tóm tắt: Trong hai năm gần đây, đại dịch COVID-19 đã và đang càn quét
khốc liệt trên phạm vi toàn thế giới, gây nhiều tác động tiêu cực chưa từng có tiền
lệ lên nền kinh tế thế giới nói chung và Việt Nam nói riêng Cho đến nay, dịch bệnh COVID-19 vẫn đang diễn biến rất phức tạp tại nhiều quốc gia trên thế giới, tác động tiêu cực đến các nền kinh tế lớn như Mỹ, Trung Quốc, Nhật Bản, Liên minh châu Âu Tại Việt Nam, do ảnh hưởng của dịch bệnh tới sản xuất kinh doanh, tỷ lệ người mất việc, thất nghiệp tăng cao Mặt khác, trong thời gian ngắn vừa qua, nhiều người trở về quê, để lại nỗi lo đứt gẫy nguồn lực lao động cho doanh nghiệp, gây không ít khó khăn cho các doanh nghiệp trong việc tuyển dụng lao động khi mở cửa sản xuất kinh doanh trở lại Đến nay, dịch bệnh cơ bản đã được kiểm soát trên phạm vi toàn quốc, song để lại những ảnh hưởng nặng nề tới hoạt động sản xuất, kinh doanh và thị trường lao động
Bài viết thông qua số liệu thống kê tập trung trình bày về thị trường lao động trong bối cảnh trước, trong đại dịch Covid - 19 từ các chiều: (1) Tình hình lao động
và việc làm trước dịch bệnh Covid - 19; (2) Ảnh hưởng, tác động của Covid - 19 đến thị trường lao động (doanh nghiệp và người lao động) (3) Trên cơ sở đó đề xuất một số giải pháp nhằm phục hồi thị trường lao động trong tình hình mới
1 Tình hình thị trường lao động của Việt Nam trước dịch bệnh Covid - 19
Trước đại dịch Covid-19, theo kết quả của Tổng điều tra dân số và nhà ở Việt Nam năm 2019 (công bố vào ngày 19/12/2019), có gần 88% dân số tham gia lực lượng lao động (có độ tuổi từ 25-59) Trong đó tỷ trọng dân số tham gia lực lượng lao động cao nhất là 14,3% (nhóm tuổi 25-29) và 14,2% ở nhóm tuổi 30-34 (giảm nhẹ) Tỷ trọng tham gia lực lượng lao động thấp, dưới 10% thuộc về dân số ở nhóm tuổi 15-19, nhóm tuổi 20-24 và nhóm tuổi già (60 tuổi trở lên) (Tổng cục Thống kê - TCTK 2019a) Số lượng trong lực lượng lao động đã tốt nghiệp THPT
Trang 2trở lên chiếm tỉ lệ là 39.1% (tăng 13,5 điểm phần trăm so với 10 năm trước (2009)); số lượng lực lượng lao động đã được có bằng, chứng chỉ (từ sơ cấp trở lên) có tỉ lệ là 23,1%, trong đó, khu vực thành thị có số lượng cao cấp 2,5 lần so với khu vực nông thôn, tương ứng 39,3% và 13,6% Trong khi đó, tỉ lệ lực lượng lao động đã qua đào tạo (có bằng, chứng chỉ) ở đồng bằng sông Hồng (cao nhất, 31,8%) và Đông Nam bộ (27,5%), và đồng bằng sông Cửu Long (thấp nhất, 13,6%) (TCTK, 2019a, b)
Tỉ lệ thất nghiệp của dân số từ 15 tuổi trở lên ở mức thấp 2,05% Ở khu vực nông thôn tỉ lệ thất nghiệp thấp hơn gần 2 lần so với khu vực thành thị (1,64% và 2,93%) Đa số người thất nghiệp có độ tuổi từ 15-54 (chiếm 91,7% người thất nghiệp), trong đó, lao động có độ tuổi từ 15-24 có tỉ lệ thất nghiệp cao nhất chiếm 44,4% tổng số lao động thất nghiệp của cả nước (TCTK, 2019a)
Qua số liệu thống kê, tỷ trọng việc làm theo ngành đã có sự dịch chuyển tích cực trong giai đoạn 2009 - 2019 Trong đó, tỉ trọng lao động khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản có xu hướng giảm (53,9% năm 2009, 46,3% năm 2014 và 35,3% vào năm 2019) còn tỷ trọng lao động trong khu vực công nghiệp, xây dựng
và dịch vụ lại có xu hướng tăng, nhất là số lao động ở khu vực dịch vụ cao hơn số lao động làm việc trong khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản Với xu hướng dịch chuyển như vậy thì tỉ lệ lao động làm việc tại khu vực dịch vụ và công nghiệp sẽ sớm đạt được ngưỡng 70% (TCTK 2019a)
2 Tác động của đại dịch Covid 19 đến thị trường lao động của Việt nam thời gian qua
2.1 Tác động của Covid-19 đến các doanh nghiệp - nguồn cầu lao động
Đại dịch Covid-19 đã tác động mạnh tới hoạt động của các doanh nghiệp Trong 9 tháng đầu năm 2020, có tới 33,4% doanh nghiệp đã phải thực hiện các
biện pháp cắt giảm lao động so với cùng kỳ năm trước Đến cuối năm 2020, tỷ lệ
doanh nghiệp phải thực hiện các biện pháp cắt giảm lao động so với cùng kỳ năm
Trang 3trước là 36,4% Trong đó, những ngành có số lao động sụt giảm đáng kể như: ngành Vận tải hàng không và ngành Du lịch giảm 30,4%; ngành Dịch vụ lưu trú giảm 29,9%; ngành Hoạt động thể thao, vui chơi và giải trí giảm 17,4%; ngành Ăn uống giảm 15,4%; ngành Xây dựng giảm 14,1% Trong số lao động đang làm việc tại các doanh nghiệp được khảo sát tính đến thời điểm 10/9/2020, có 7,8% lao động bị giảm lương, 50% lao động giãn việc/nghỉ luân phiên và 2,4% lao động tạm nghỉ việc Tỷ lệ lao động bị giảm lương trong các doanh nghiệp thuộc ngành Vận tải hàng không là cao nhất, 99,5%; ngành Du lịch là 43,2%; ngành Dịch vụ lưu trú
là 27,8%
Trong 3 tháng đầu năm 2021, có 40,3 nghìn doanh nghiệp tạm ngừng kinh doanh có thời hạn, ngừng hoạt động chờ làm thủ tục giải thể và hoàn tất thủ tục giải thể, tăng 15,6% so với cùng kỳ năm 2020, bao gồm: 23,8 nghìn doanh nghiệp tạm ngừng kinh doanh có thời hạn, tăng 28,2% so với cùng kỳ năm trước; 11,3 nghìn doanh nghiệp ngừng hoạt động chờ làm thủ tục giải thể, giảm 7,3%; 5,2 nghìn doanh nghiệp hoàn tất thủ tục giải thể, tăng 26,4% Trung bình mỗi tháng có 13,4 nghìn doanh nghiệp rút lui khỏi thị trường Đây là một con số rất lớn với số lượng người lao động sẽ mất việc làm và mất cơ hội tìm việc trên thị trường lao động
2.2 Tác động của Covid-19 đến người lao động - nguồn cung lao động
Trong quý I/2021, tình hình lao động, việc làm cả nước chịu ảnh hưởng tiêu cực của dịch Covid-19 bùng phát trở lại vào cuối tháng 1 Tỷ lệ tham gia lực lượng lao động giảm 1,1 điểm phần trăm so với cùng kỳ năm trước Số người thiếu việc làm trong độ tuổi lao động quý I năm 2021 là 971,4 nghìn người tăng 143,2 nghìn người so với quý trước và tăng 78,7 nghìn người so với cùng kỳ năm trước Tỷ lệ thất nghiệp và tỷ lệ thiếu việc làm của lực lượng lao động trong độ tuổi lần lượt là 2,42% và 2,20%, tăng so với quý I/2020 Lực lượng lao động từ 15 tuổi trở lên của
cả nước quý I/2021 ước tính là 51 triệu người, giảm 1,1 triệu người so với quý
Trang 4trước và giảm 180,9 nghìn người so với cùng kỳ năm 2020 Tỷ lệ tham gia lực lượng lao động quý I/2021 ước tính đạt 68,7%, giảm 1,6 điểm phần trăm so với quý trước và giảm 1,1 điểm phần trăm so với cùng kỳ năm trước
Hình 1: Số người và tỷ lệ thiếu việc làm trong độ tuổi các quý, giai đoạn 2019-2021
Đơn vị: %
Nguồn: Tổng cục Thống kê
Tỷ lệ thất nghiệp chung cả nước quý I/2021 ước tính là 2,19%, trong đó, tỷ lệ thất nghiệp khu vực thành thị là 2,96%; khu vực nông thôn là 1,76% Tỷ lệ thất nghiệp của lao động trong độ tuổi quý I/2021 là 2,42%, trong đó khu vực thành thị
là 3,19%; khu vực nông thôn là 1,98% Tỷ lệ thất nghiệp của thanh niên (từ 15-24 tuổi) quý I/2021 ước tính là 7,44%, trong đó, khu vực thành thị là 10,34%; khu vực nông thôn là 5,99% Tỷ lệ thiếu việc làm của lao động trong độ tuổi quý I/2021 ước tính là 2,20%, trong đó tỷ lệ thiếu việc làm khu vực thành thị là 1,52%; khu vực nông thôn là 2,60% (tỷ lệ thiếu việc làm của quý I/2020 tương ứng là 1,98%; 1,07%; 2,47%)
Thu nhập bình quân tháng của người lao động quý III/2020 là 5,5 triệu đồng, tăng 258 nghìn đồng so với quý trước và giảm 115 nghìn đồng so với cùng kỳ năm trước Trong 9 tháng cuối năm 2020, thu nhập bình quân của người lao động giảm
Trang 51,5% so với cùng kỳ năm trước (tương ứng giảm 83 nghìn đồng) Thu nhập bình quân tháng của lao động phi chính thức trong 9 tháng cuối năm 2020 là 5,5 triệu đồng, thấp hơn 1,5 lần mức thu nhập bình quân tháng của lao động chính thức (8,4 triệu đồng) So với cùng kỳ năm trước, thu nhập bình quân tháng của lao động chính thức giảm 1,9%, thu nhập của lao động phi chính chính thức giảm 0,8% Lao động có thâm niên làm việc càng cao thì mức giảm thu nhập càng thấp So với cùng kỳ năm trước, thu nhập 9 tháng cuối năm 2020 của nhóm lao động có thời gian làm việc từ 3 năm trở lên có tốc độ giảm thấp nhất (giảm 0,6%), trong khi nhóm lao động có thời gian làm việc từ 3 tháng đến dưới 3 năm giảm 3,8%, nhóm lao động có thời gian làm việc dưới 3 tháng giảm 42,6%
Tỷ lệ thất nghiệp trong độ tuổi lao động quý III/2020 là 2,5%, giảm 0,23 điểm phần trăm so với quý trước và tăng 0,33 điểm phần trăm so với cùng kỳ năm trước
Tỷ lệ thất nghiệp trong độ tuổi lao động 9 tháng năm 2020 là 2,48%, cao hơn 0,31 điểm phần trăm so với cùng kỳ năm trước Tỷ lệ thất nghiệp của nhóm lao động không có trình độ chuyên môn kỹ thuật là 61,7%, cao hơn 23,2 điểm phần trăm so với nhóm có trình độ chuyên môn kỹ thuật (38,5%) Số thanh niên từ 15-24 tuổi thất nghiệp trong 9 tháng cuối năm 2020 là 437,4 nghìn người, chiếm 35,4% tổng
số người thất nghiệp (giảm 7,8 điểm phần trăm so với cùng kỳ năm trước) Tỷ lệ thất nghiệp của thanh niên trong 9 tháng cuối năm 2020 là 7,07%, tăng 0,45 điểm phần trăm so với cùng kỳ năm trước
Hiện nay, vẫn còn một bộ phận không nhỏ lực lượng lao động tiềm năng chưa được khai thác, đặc biệt là nhóm lao động trẻ; việc tận dụng nhóm lao động này trở nên hạn chế hơn trong bối cảnh dịch Covid-19 Tỷ lệ lao động không sử dụng hết tiềm năng của Việt Nam trước khi dịch Covid-19 xuất hiện ở các quý năm 2019 chỉ
ở mức 4% Tuy nhiên tỷ lệ này bắt đầu tăng lên khi dịch Covid-19 xuất hiện tại nước ta, chiếm 4,8% vào quý I năm 2020 và tăng lên mức cao nhất là 6,2% vào quý II năm 2020 khi dịch Covid-19 bùng phát Khi các hoạt động kinh tế – xã hội
Trang 6dần được khôi phục vào cuối năm 2020, tỷ lệ lao động không sử dụng hết tiềm năng giảm xuống còn 4,4% vào quý IV năm 2020 và tăng lên 4,9% vào quý I năm
2021 khi dịch Covid-19 quay trở lại
Hình 7: Tỷ lệ lao động không sử dụng hết tiềm năng các quý, giai đoạn 2019-2021
Đơn vị: %
Nguồn: Tổng cục Thống kê
Tỷ lệ lao động không sử dụng hết tiềm năng Quý I năm 2021 của khu vực thành thị cao hơn khu vực nông thôn (5,0% so với 4,9%), của lao động nam cao hơn lao động nữ (5,2% so với 4,6%) Đa số lao động không sử dụng hết tiềm năng
là những người dưới 35 tuổi (53,2%), trong khi đó lực lượng lao động dưới 35 tuổi chỉ chiếm 36% Điều này cho thấy Việt Nam vẫn còn một bộ phận không nhỏ lực lượng lao động tiềm năng chưa được khai thác, đặc biệt là nhóm lao động trẻ và trong bối cảnh dịch Covid-19 xuất hiện, việc nghiên cứu các chính sách để tận dụng nhóm lao động này càng trở nên cần thiết
3 Một số giải pháp nhằm phục hồi thị trường lao động trong tình hình mới
Những con số thống kê về tình hình lao động việc làm năm 2020 và quý I năm
2021 đã phản ánh những khó khăn và biến động của nền kinh tế nói chung và thị
Trang 7trường lao động Việt Nam nói riêng trong thời gian qua Để hỗ trợ doanh nghiệp, người lao động phục hồi sản xuất góp phần cải thiện tình hình lao động việc làm, cần thực hiện một số giải pháp cụ thể sau:
Một là, tích cực đẩy nhanh tốc độ đàm phán để nhập và tiêm vaccine để đạt
được miễn dịch cộng đồng, góp phần làm “giảm sốc” các tác động của dịch bệnh tới thị trường lao động Đặc biệt ưu tiên cho các lao động tuyến đầu, lao động tại các khu công nghiệp, khu chế xuất, lao động hoạt động trong lĩnh vực du lịch, logistics, xuất nhập khẩu… để duy trì sản xuất, ngăn chặn tình trạng đứt gãy chuỗi giá trị sản xuất toàn cầu Xây dựng các tiêu chí cần thiết để mở cửa thị trường du lịch quốc tế để giúp ngành dịch vụ nói chung và ngành du lịch nói riêng không bỏ
lỡ cơ hội để phục hồi và phát triển Các ngành này phát triển sẽ thu hút lượng lớn lao động tham gia, góp phần tận dụng tốt hơn tiềm năng sẵn có của lao động
Hai là, tiếp tục thực hiện các biện pháp nhất quán, đồng bộ từ trung ương đến
địa phương cũng như phối hợp chặt chẽ, điều hành linh hoạt hiệu quả các cơ chế, chính sách tài khóa, tiền tệ, an sinh xã hội trên tinh thần tối đa hóa nguồn lực để hỗ trợ người dân, doanh nghiệp, người lao động, đặc biệt là các doanh nghiệp nhỏ và vừa vượt qua khó khăn của đại dịch Covid -19 cũng như sẵn sàng chuẩn bị nhân lực để phục hồi sản xuất kinh doanh Ngoài ra, cần có thêm các chính sách hỗ trợ trực tiếp doanh nghiệp, người lao động như giảm lãi suất cho vay, cơ cấu lại thời gian trả nợ, giảm các phí, lệ phí… hỗ trợ người lao động trực tiếp như giảm lãi suất vay ngân hàng, giảm giá điện, nước, xăng… Thực hiện chính sách miễn, giảm một
số nghĩa vụ thuế đối với một số lĩnh vực, đối tượng chịu thiệt hại nặng nề do đại dịch Covid -19 trong năm 2020 Đồng thời, nghiên cứu để xây dựng các gói hỗ trợ đặc thù cho nhóm lao động yếu thế, bao gồm lao động nữ và lao động không có trình độ chuyên môn kỹ thuật chịu tổn thương bởi diễn biến khó lường của đại dịch Covid -19, nhằm giúp họ sớm vượt qua khó khăn, ổn định cuộc sống
Trang 8Ba là, cần tăng cường và hoàn thiện hệ thống ASXH trở thành một đòi hỏi bức
thiết nhằm thực hiện mục tiêu phát triển nhanh và bền vững, khắc phục những tác động tiêu cực của đại dịch Covid-19 đến cuộc sống và sức khỏe của nhân dân, tiến tới ổn định kinh tế-xã hội Qua đó, tạo điều kiện để người dân được thụ hưởng nhiều hơn thành quả tăng trưởng kinh tế ở Việt Nam Cần tiếp tục sửa đổi, bổ sung
và hoàn thiện các chính sách bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp, các chương trình trợ giúp và cứu trợ xã hội theo hướng khả thi, linh hoạt, và kịp thời đến tay đối tượng, nhất là các nhóm yếu thế, dễ bị tổn thương
Bốn là, tập trung hỗ trợ người sử dụng lao động đào tạo, đào tạo lại người lao
động đáp ứng yêu cầu mới; đẩy mạnh kết nối cung, cầu lao động trong nước, gắn với thị trường lao động quốc tế Bên cạnh đó, cần có các chương trình, chính sách khuyến khích thanh niên và lao động trẻ, đặc biệt là những người không có việc làm, không đang tham gia học tập đào tạo tích cực học tập nâng cao trình độ để sẵn sàng chủ động gia nhập thị trường lao động với hành trang là các kỹ năng cần thiết đáp ứng yêu cầu của nền kinh tế trong thời đại kỷ nguyên số 4.0, phục hồi sản xuất kinh doanh.Ngoài ra có thể xem xét và xây dựng các gói hỗ trợ đặc thù cho các nhóm lao động yếu thế (phụ nữ, lao động không có trình độ chuyên môn, lao động
ở khu vực kinh tế phi chính thức) để giúp họ có cơ hội tìm kiếm được việc làm
Năm là, doanh nghiệp và người lao động cần nắm bắt nhu cầu lao động của nền
kinh tế trong bối cảnh chuyển đổi phương thức sản xuất đáp ứng yêu cầu mới Các doanh nghiệp cần thay đổi cách thức sắp xếp công việc để bảo vệ sức khỏe của người lao động Tăng cường ứng dụng công nghệ thông tin trong các giao dịch về lao động, việc làm Nâng cao vai trò, hiệu quả hoạt động của hệ thống Trung tâm dịch vụ việc làm trên cả nước nhằm tăng cường kết nối cung – cầu lao động, tạo niềm tin cho người lao động về cơ hội có việc làm rút ngắn thời gian tìm việc của người lao động, thời gian tuyển dụng của người lao động, tăng tỷ lệ tham gia lực lượng lao động, góp phần tăng trưởng và giải quyết việc làm cho người lao động
Trang 9Sáu là, nâng cao nhận thức về bối cảnh “bình thường mới”, khả năng dịch
COVID-19 còn tồn tại trong một thời gian dài và tiếp tục tác động tiêu cực đến đời sống kinh tế - xã hội ngay cả khi tỷ lệ tiêm vắc-xin trong nước đạt 100% Trong các thách thức cho giai đoạn tiếp theo, lưu ý thách thức: rủi ro về lạm phát đến từ tác động của các gói kích thích kinh tế ứng phó đại dịch COVID-19 của nhiều quốc gia; tình trạng đứt gãy chuỗi cung ứng và đình trệ sản xuất, suy thoái toàn cầu vẫn chưa thể khắc phục ngay trong thời gian tới; nguy cơ suy giảm dòng vốn đầu tư trong và ngoài nước; các hàng rào kỹ thuật cao hơn trong bối cảnh các quốc gia mở cửa giao thương hậu COVID-19 có xu hướng ưu tiên các quốc gia, khu vực kiểm soát được dịch bệnh…
Tài liệu tham khảo:
1 Tổng cục thống kê, Báo cáo tác động của dịch covid-19 đến tình hình lao động, việc làm quý I năm 2020.
2 Nguyễn Hoàng (2020), Đại dịch Covid-19 ảnh hưởng tiêu cực đến tình hình lao động, việc làm, http://baochinhphu.vn/Utilities/PrintView.aspx?
distributionid=400408 (26/10/202)
3 GS.TS Nguyễn Quang Thuấn (2020), Tác động của đại dịch covid-19 và một số giải pháp chính sách cho Việt Nam trong giai đoạn tới.
4 Tổng cục Thống kê (2019a), Thông cáo báo chí Kết quả Tổng điều tra Dân
số và Nhà ở năm 2019.