GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN DOANH NGHIỆP VIỆT NAM TRONG TÌNH HÌNH MỚI 1 Đặt vấn đề Doanh nghiệp có vị trí đặc biệt quan trọng trong nền kinh tế quốc dân, là bộ phận quan trọng đóng góp vào tổng sản phẩm tron.
Trang 1GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN DOANH NGHIỆP VIỆT NAM TRONG TÌNH
HÌNH MỚI
1 Đặt vấn đề
Doanh nghiệp có vị trí đặc biệt quan trọng trong nền kinh tế quốc dân, là bộ phận quan trọng đóng góp vào tổng sản phẩm trong nước (GDP) Trong những năm qua, doanh nghiệp Việt Nam đã có bước phát triển vượt bậc, sự lớn mạnh cả
về số lượng, quy mô hoạt động và nội lực đã góp phần to lớn vào sự phát triển kinh
tế xã hội, tăng kim ngạch xuất khẩu, tăng thu ngân sách và tham gia giải quyết hiệu quả các vấn đề xã hội như tạo việc làm, xóa đói, giảm nghèo
Tính đến hết 31/12/2019, cả nước có khoảng 668.505 doanh nghiệp hoạt động trong đó số doanh nghiệp nhỏ và vừa (DNNVV) là 651.138 doanh nghiệp chiếm 97,4% với tổng số nguồn vốn khoảng 14.475 nghìn tỷ đồng, số doanh nghiệp lớn là 17.367 doanh nghiệp chiếm 3,6% với tổng nguồn vốn là 28.834 nghìn tỷ đồng Hàng năm, các DNNVV đóng góp khoảng 60% GDP và thu hút khoảng 90% lao động…Mặc dù DNNVV chiếm tỷ lệ lớn nhưng số lượng doanh nghiệp nhỏ và siêu nhỏ là chủ yếu chiếm 96,5% còn số lượng doanh nghiệp vừa chỉ chiếm 3,5% Chính bởi quy mô nhỏ cho nên các doanh nghiệp này có đặc điểm rất linh hoạt, thích nghi với các nhu cầu thay đổi của thị trường tuy nhiên cũng dễ phải đối mặt với những tổn thương khi có những thay đổi của thị trường
Năm 2020 là một năm đầy khó khăn đối với nền kinh tế Việt Nam cũng như đối với cộng đồng doanh nghiệp Theo Báo cáo Tình hình kinh tế - xã hội quý VI
và năm 2020 của Tổng cục Thống kê, tổng sản phẩm trong nước (GDP) năm 2020 tăng 2,91%, là mức tăng thấp nhất của các năm trong giai đoạn 2011-2020 Năm
2020 có 101,7 nghìn doanh nghiệp tạm ngừng kinh doanh có thời hạn, ngừng hoạt động chờ làm thủ tục giải thể và hoàn tất thủ tục giải thể, tăng 13,9% so với năm trước Trung bình mỗi tháng có 8,5 nghìn doanh nghiệp rút lui khỏi thị trường Một
Trang 2số ngành bị ảnh hưởng nghiêm trọng, như: dịch vụ lưu trú, ăn uống, ước tính doanh thu đạt 510,4 nghìn tỷ đồng, chiếm 10,1% tổng mức và giảm 13% so với năm trước (năm 2019 tăng 9,8%); du lịch lữ hành, với doanh thu năm 2020 ước tính đạt 17,9 nghìn tỷ đồng, chiếm 0,3% tổng mức và giảm 59,5% so với năm trước; vận tải hành khách và vận tải hàng hóa lần lượt giảm giảm 29,6% và 5,2% so với năm 2019…Bởi vậy trong thời gian tới, cần có những giải pháp phục hồi phát triển doanh nghiệp đặc biệt tập trung phát triển các doanh nghiệp nhỏ và vừa để tiếp tục phát huy tính năng động của các doanh nghiệp này
2 Những kết quả đạt được trong phát triển doanh nghiệp Việt Nam
Thứ nhất, Về quy mô và số lượng DN: Trong những năm qua, nhờ có sự ban
hành hàng loạt cơ chế, chính sách và triển khai nhiều giải pháp tích cực, môi trường kinh doanh của Việt Nam đã có sự chuyển biến tích cực, khơi dậy tinh thần doanh nhân và sự đăng ký quay trở lại hoạt động mạnh mẽ của các doanh nghiệp
Số lượng doanh nghiệp thành lập mới và số lượng doanh nghiệp tạm ngừng hoạt động quay trở lại hoạt động tăng lên Bình quân giai đoạn 2016-2020 hàng năm cả nước có 128.263 doanh nghiệp thành lập mới, với số vốn đăng ký 1,5 triệu tỷ đồng, tốc độ tăng số doanh nghiệp thành lập mới bình quân giai đoạn 2016-2020 là 7,3% Bình quân giai đoạn 2016-2020, khu vực dịch vụ có số doanh nghiệp mới nhiều nhất với 90.949 doanh nghiệp tăng 53,1% so với bình quân giai đoạn 2014-2015; khu vực công nghiệp và xây dựng có bình quân 35.243doanh nghiệp thành lập mới, tăng 9,4%; khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản có bình quân 2.071 doanh nghiệp thành lập mới, tăng 15,6% Năm 2020 có 4.096 doanh nghiệp quay trở lại hoạt động, tăng 11,9% so với năm 2019 Đây là năm có số lượng doanh nghiệp quay trở lại hoạt động cao nhất trong giai đoạn 2016-2020 trong đó có 30.690 doanh nghiệp thuộc khu vực dịch vụ quay trở lại hoạt động, tăng 12,5% so với năm 2019; có 12.629 doanh nghiệp công nghiệp và xây dựng, tăng 10,5% và 777 doanh nghiệp nông, lâm nghiệp và thủy sản, tăng 8,8% Sự gia tăng này là nhờ môi
Trang 3trường kinh doanh được cải thiện, các chính sách của Nhà nước hỗ trợ, phát triển doanh nghiệp như Luật Doanh nghiệp 2014 và Luật Đầu tư 2014 Các luật này tạo
cơ chế thông thoáng, tác động trực tiếp, thuận lợi cho doanh nghiệp trong quá trình kinh doanh, khi các doanh nghiệp có quyền tự quyết về số lượng, hình thức, nội dung của con dấu; được tự do kinh doanh trong những ngành nghề mà pháp luật không cấm; đồng thời, thời gian đăng ký thành lập doanh nghiệp đã được rút ngắn còn 03 ngày (bảng 1 và bảng 2)
Thứ hai, Góp phần quan trọng trong chuyển dịch cơ cấu ngành thông qua tạo việc làm: tính đến 31/12/2019, tổng số lao động đang làm việc trong các doanh
nghiệp đang hoạt động có kết quả sản xuất kinh doanh là 15,15 triệu người, tăng 2,4% so với cùng thời điểm năm 2018 Theo khu vực kinh tế thì khu vực công nghiệp và xây dựng thu hút nhiều lao động nhất với gần 9,6 triệu lao động, chiếm 63,3% lao động toàn khu vực doanh nghiệp, tăng 2,3% so với năm 2018 Theo loại hình doanh nghiệp: khu vực doanh nghiệp ngoài nhà nước và khu vực FDI thu hút lần lượt 9,1 triệu lao động và 5,0 triệu lao động, chiếm tương ứng 59,9% và 32,8% tăng 1,5% và 5,4% so với năm 2018 Theo quy mô doanh nghiệp: doanh nghiệp quy mô lớn thu hút 9,5 triệu lao động dù doanh nghiệp quy mô lớn có tỷ trọng số doanh nghiệp nhất chỉ chiếm 2,6%, tuy nhiên lại có tỷ trọng lao động chiếm tới 62,5% cao nhất trong các khu vực doanh nghiệp Ngược lại mặc dù doanh nghiệp quy mô siêu nhỏ và nhỏ có số lượng doanh nghiệp lớn nhất nhưng số lao động chỉ chiếm 28,7% (bảng 3)
Bảng 1: Số doanh nghiệp thành lập mới theo ngành kinh tế
Đơn vị: Doanh nghiệp, %
Bình quân giai đoạn 2014-2015 2018 2019 2020
Chỉ số phát triển Năm 2020
so với năm 2019
BQ giai đoạn
2016-2020 so với BQ giai đoạn 2014-2015
Trang 4Nông nghiệp, lâm nghiệp
Nguồn: Sách trắng doanh nghiệp Việt Nam 2021
Bảng 2: Số doanh nghiệp quay trở lại hoạt động theo ngành kinh tế
Đơn vị: Doanh nghiệp, %
Bình quân giai đoạn 2014-2015 2018 2019 2020
Chỉ số phát triển Năm 2020 so
với năm 2019
BQ giai đoạn
2016-2020 so với BQ giai đoạn 2014-2015
Nông nghiệp, lâm nghiệp
Nguồn: Sách trắng doanh nghiệp Việt Nam 2021
Bảng 3: Lao động của DN đang hoạt động có kết quả sản xuất kinh doanh
thời điểm 31/12 theo quy mô, theo loại hình DN và theo ngành kinh tế
Đơn vị: Doanh nghiệp, %
Bình quân giai đoạn 2011-2015
2018 2019
Chỉ số phát triển
Năm 2019 so với năm 2018
Bình quân giai đoạn 2016-2019 so với bình quân giai đoạn 2011-2015
Phân theo quy mô
Phân theo loại hình doanh
nghiệp
Trong đó: Khu vực DN 100%
Trang 5- Khu vực DN ngoài nhà nước 7030971 8941071 9075625 101.5 129.9
- Khu vực doanh nghiệp FDI 3108622 4713951 4968747 105.4 147.6
Phân theo ngành kinh tế
-Nông nghiệp, lâm nghiệp và
- Công nghiệp và xây dựng 7616827 9379181 990929 102.3 122.8
Nguồn: Sách trắng doanh nghiệp Việt Nam 2021 Thứ ba, Doanh nghiệp Việt Nam có hoạt động đổi mới sáng tạo gia tăng: theo
báo cáo điều tra về Đổi mới sáng tạo trong doanh nghiệp tại Việt Nam do Bộ Khoa học và Công nghệ cùng Ngân hàng Thế giới (WB) phối hợp thực hiện năm 2017,
tỷ lệ doanh nghiệp có đổi mới sáng tạo trong giai đoạn 2014-2016 là 32,08% trong tổng số doanh nghiệp trả lời điều tra Bên cạnh đó, trong giai đoạn 2016-2020, Chỉ
số đổi mới sáng tạo của Việt Nam liên tiếp tăng thứ hạng và hiện đang đứng thứ nhất trong nhóm 29 quốc gia có thu nhập trung bình thấp, đứng thứ 3 trong ASEAN
Thứ tư, Khu vực kinh tế tư nhân đã có chuyển biến tích cực: giai đoạn
2016-2020, khu vực kinh tế tư nhân đóng góp khoảng 43% vào GDP, vốn đầu tư toàn xã hội của khu vực này liên tục tăng Năm 2015, khu vực kinh tế tư nhân Việt Nam mới đóng góp khoảng 39% vào tổng vốn đầu tư toàn xã hội Tỷ lệ đóng góp này liên tục tăng theo thời gian đạt 43,2% vào năm 2018 và 46% vào năm 2019 Đây là tín hiệu tốt cho thấy, nguồn lực trong dân đang được huy động và ngày càng tăng cho đầu tư toàn xã hội
Thứ năm, tình hình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp có nhiều khả quan
Tổng doanh thu thuần của toàn bộ khu vực doanh nghiệp đang hoạt động có kết quả sản xuất kinh doanh năm 2019 đạt hơn 26,3 triệu tỷ đồng, tăng 11,4% so với năm 2018 Bình quân giai đoạn 2016-2019 mỗi năm các doanh nghiệp đang hoạt động có kết quả SXKD tạo ra 22,0 triệu tỷ đồng doanh thu thuần, tăng 77,1% so
Trang 6với bình quân giai đoạn 2011-2015 Bình quân giai đoạn 2016-2019 mỗi năm doanh nghiệp đang hoạt động, có kết quả SXKD tạo ra 843,5 nghìn tỷ đồng lợi nhuận trước thuế, tăng 84,1% so với mức lợi nhuận thu được bình quân giai đoạn 2011-2015
Năm 2019, hiệu suất sử dụng lao động của toàn bộ khu vực doanh nghiệp đạt 15,8 lần, tăng 1,03 lần so với năm 2018; chỉ số nợ đạt 2,1 lần, bằng năm 2018; chỉ
số quay vòng vốn đạt 0,6 lần, bằng năm 2018; hiệu suất sinh lợi trên tài sản (ROA) đạt 2,2%, bằng 0,89 lần năm 2018; hiệu suất sinh lợi trên vốn chủ sở hữn (ROE) đạt 6,8%, bằng 0,89 lần năm 2018; hiệu suất sinh lợi trên doanh thu thuần (ROS) đạt 3,4%, bằng 0,89 lần năm 2018
Bảng 4: Một số chỉ tiêu chủ yếu về doanh nghiệp đang hoạt động có kết
quả sản xuất kinh doanh giai đoạn 2016-2019
Đơn vị: Tỷ đồng, %
Bình quân giai đoạn 2011-2015 2018 2019
Chỉ số phát triển Năm 2019
so với năm 2018
Bình quân giai đoạn 2016-2019 so với bình quân giai đoạn 2011-2015
Hiệu suất sinh lời trên doanh
Hiệu suất sinh lời trên tài sản
Hiệu suất sinh lời trên vốn
Nguồn: Sách trắng doanh nghiệp Việt Nam 2021
3 Những hạn chế trong phát triển doanh nghiệp
Trang 7Trong tổng số doanh nghiệp Việt Nam thì 97,4% là doanh nghiệp nhỏ và vừa (trong đó doanh nghiệp nhỏ và siêu nhỏ chiếm tỷ lệ lớn) Đây là những DN dễ bị tổn thương nhất trước những biến động của nền kinh tế Trong năm 2020, đây là năm khó khăn với hầu hết các doanh nghiệp do ảnh hưởng của đại dịch Covid Tổng số doanh nghiệp tạm ngừng kinh doanh có đăng ký trên phạm vi cả nước là 46.592 doanh nghiệp, tăng 62,2% so với năm 2019 Bình quân giai đoạn
2016-2020, mỗi năm cả nước có 28.810 doanh nghiệp tạm ngừng kinh doanh có đăng
ký, tăng 110,5% so với bình quân giai đoạn 2014- 2015 Năm 2020, cả nước có 17.464 doanh nghiệp giải thể, tăng 3,7% so với năm 2019; số lượng doanh nghiệp giải thể bằng 12,9% so với số lượng doanh nghiệp thành lập mới
Theo kết quả điều tra của Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI) và ngân hàng Thế giới (WB), với những doanh nghiệp có cung cấp thông tin về quy mô lao động và số lượng lao động đã phải cho nghỉ việc, ước tính chung cho thấy số lao động phải cho nghỉ việc chiếm khoảng 30% số lao động của một doanh nghiệp Các doanh nghiệp tư nhân trung bình phải cho nghỉ việc khoảng 32% lực lượng lao động, với các doanh nghiệp FDI, con số này là khoảng 17% Các doanh nghiệp quy mô siêu nhỏ, nhỏ có tỷ lệ lao động phải cho nghỉ việc trong tổng số lao động cao nhất, cả ở doanh nghiệp tư nhân và doanh nghiệp FDI Cụ thể, những doanh nghiệp tư nhân quy mô nhỏ đã phải cho nghỉ việc khoảng 40% lực lượng lao động Với doanh nghiệp FDI quy mô nhỏ, con số này là 22%
Cũng theo kết quả khảo sát cho thấy tỷ lệ doanh nghiệp cho biết bị giảm doanh thu của năm 2020 so với năm 2019 gia tăng theo số năm hoạt động Mặc dù các doanh nghiệp mới đi vào hoạt động có tỷ lệ chịu tác động tiêu cực bởi dịch
Covid-19 là cao nhất trong các nhóm, song đây lại là nhóm có tỷ lệ bị giảm doanh thu ít nhất Có thể doanh thu năm 2019 của các doanh nghiệp mới thành lập còn ít, do vậy tỷ lệ doanh nghiệp bị giảm doanh thu là ít hơn các nhóm có thời gian hoạt động lâu hơn Với khu vực kinh tế tư nhân trong nước, mức giảm doanh thu năm
Trang 82020 so với 2019 đó là các doanh nghiệp trong lĩnh vực thông tin truyền thông (53%), giáo dục, y tế, lao động (46%), hành chính và dịch vụ hỗ trợ (42%) Trong khu vực kinh tế FDI, đó là doanh nghiệp trong các ngành như thông tin truyền thông (60%), hành chính và dịch vụ hỗ trợ (50%) và xây dựng (46%)
Bên cạnh đó, các doanh nghiệp Việt Nam chỉ sử dụng có 10% máy móc, thiết
bị hiện đại, 38% trung bình và 52% là lạc hâu và rất lạc hậu; tỷ lệ sử dụng công nghệ cao mới chỉ có 2% Các DN Việt Nam đầu tư cho đổi mới công nghệ rất thấp, chỉ khoảng 0,2%-0,3% tổng doanh thu Trình độ thiết bị công nghệ trong các DNNVV ngoài nhà nước chỉ bằng 3% mức trang bị kỹ thuật trong các DN lớn Thực trạng này đang đặt ra những thách thức lớn đối với năng lực cạnh tranh của
DN Việt Nam
Giải pháp phát triển doanh nghiệp Việt Nam trong tình hình mới
Một là, Chính phủ cần đẩy mạnh hoàn thiện các cơ chế chính sách, môi trường
pháp lý nhằm hỗ trợ cho doanh nghiệp nhất là sau tác động của đại dịch Covid -19 như cắt giảm thuế, hỗ trợ lãi suất cho doanh nghiệp, hỗ trợ doanh nghiệp tiếp cận với nguồn lực (đất đai, tài chính, lao động, khoa học công nghệ…) Tiếp tục hỗ trợ các doanh nghiệp nhỏ và vừa theo Luật hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa và các nghị định hướng dẫn Hỗ trợ doanh nghiệp phục hồi, đổi mới mô hình kinh doanh, sản phẩm cho phù hợp với tình hình mới
Hai là, Có cách thức hỗ trợ phù hợp đối với các doanh nghiệp ở từng ngành,
lĩnh vực và từng giai đoạn, chú trọng các doanh nghiệp thuộc các ngành bị tổn thương nặng nề bởi dịch Covid-19 Cần quan tâm hơn nữa các doanh nghiệp có quy mô nhỏ, siêu nhỏ bởi khả năng chống chịu kém của nhóm doanh nghiệp này Nghiên cứu áp dụng thêm một số biện pháp mà các quốc gia khác hiện đang áp dụng như hỗ trợ tài chính cho các doanh nghiệp duy trì được tỷ lệ người lao động cao; hỗ trợ chi phí đào tạo nâng cao tay nghề, trình độ cho người lao động
Trang 9Ba là, Cần xây dựng chính sách phát triển công nghiệp, dịch vụ hỗ trợ theo
hướng bớt lệ thuộc vào nguồn cung từ bên ngoài, giảm tình trạng gia công đã kéo dài quá lâu, mặt khác cũng tạo thêm giá trị gia tăng và vị thế tốt hơn của Việt Nam trong các chuỗi cung ứng toàn cầu, tạo thêm cơ hội hưởng lợi từ các FTA đòi hỏi hàm lượng xuất xứ nội địa/nội khối cao Đại dịch Covid-19 đang tạo cho Việt Nam
cơ hội làm việc đó, khi các đối tác lớn như Nhật, Mỹ, EU, Úc… đang tìm kiếm nơi
để chuyển một phần nguồn cung cho các chuỗi của họ ra khỏi Trung Quốc Với một số FTA thế hệ mới như CPTPP và EVFTA, Việt Nam càng có cơ hội được chọn, nếu Chính phủ có chính sách, mục tiêu rõ ràng nhằm khuyến khích, tạo điều kiện cho DN Việt và thu hút đầu tư từ các đối tác trên vào những lĩnh vực/ngành cần phát triển công nghiệp, dịch vụ hỗ trợ nhất
Bốn là, Cần có chính sách hỗ trợ theo hướng tạo thuận lợi hơn cho các doanh
nghiệp tư nhân Việt trụ lại được và có khả năng vượt lên sau dịch Covid-19, đặc biệt về đổi mới sáng tạo, đào tạo nhân lực chất lượng cao, sẵn sàng cho cuộc cạnh tranh mới Việc này quan trọng không kém việc cứu các doanh nghiệp gặp khó khăn, vì sẽ giúp doanh nghiệp và nền kinh tế sớm vươn lên phục hồi tăng trưởng
và đi vào giai đoạn phát triển mới cao hơn Điều này cũng giúp các doanh nghiệp tìm cơ hội mới trong bối cảnh mới
Năm là, Tăng cường liên kết doanh nghiệp, tham gia chuỗi giá trị giữa doanh
nghiệp nhỏ và doanh nghiệp lớn, giữa doanh nghiệp trong nước và doanh nghiệp
có vốn đầu tư nước ngoài Cần xác định các nhóm ngành hàng và nguyên liệu nhập khẩu mà doanh nghiệp trong nước có thể sản xuất thay thế để có thể chủ động được nguồn nguyên liệu
Tài liệu tham khảo:
1 Bộ Kế hoạch và Đầu tư (2021), Sách trắng DN Việt Nam năm 2021
2 Phạm Thị Vân Anh (2020), Giải pháp nâng cao năng lực cạnh tranh của
doanh nghiệp trong hội nhập, Tạp chí Tài Chính.
Trang 103 Chu Thanh Hải (2020), Phát triển doanh nghiệp nhỏ và vừa ở Việt Nam hiện nay
4 Lê Mạnh Hùng (2020), Phát triển doanh nghiệp giai đoạn 2021-2025: Đề xuất mục tiêu và giải pháp
5 Bộ Khoa học và Công nghệ, Ngân hàng Thế giới (2019), Đổi mới sáng tạo trong DN Việt Nam – Phân tích từ một cuộc điều tra thống kê, Dự án First, Tiểu dự
án FIRST-NASATI, Tài liệu tham khảo, Hà Nội
6. VCCI và WB (2020), “Tác động của dịch bệnh Covid-19 đối với doanh nghiệp Việt Nam – Một số phát hiện chính từ điều tra doanh nghiệp 2020”