Song song đó, vấn đề về giải quyết bồi thường, giải phóng mặt bằng là vấn đề cần được quan tâm đầu tiên bởi nó ảnh hưởng đến cuộc sống người dân tại nơi làm dự án Đề tài “Đánh giá sinh k
Trang 1TẠ THỊ NGỌC CHÂU
ĐÁNH GIÁ SINH KẾ CỦA CÁC HỘ DÂN BỊ ẢNH HƯỞNG TỪ DỰ ÁN LÀM ĐƯỜNG 991B TRÊN ĐỊA BÀN HUYỆN TÂN THÀNH, TỈNH BÀ RỊA – VŨNG TÀU
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
TP Hồ Chí Minh – Năm 2018
Trang 2TẠ THỊ NGỌC CHÂU
ĐÁNH GIÁ SINH KẾ CỦA CÁC HỘ DÂN BỊ ẢNH HƯỞNG TỪ DỰ ÁN LÀM ĐƯỜNG 991B TRÊN ĐỊA BÀN HUYỆN TÂN THÀNH, TỈNH BÀ RỊA – VŨNG TÀU
Chuyên ngành: Quản lý công
Mã số: 8340403
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: PGS.TS TRẦN TIẾN KHAI
Trang 3chưa được sử dụng để bảo vệ cho một học vị nào Các đoạn trích dẫn và số liệu sử dụng trong luận văn đều được dẫn nguồn và có độ chính xác trong phạm vi hiểu biết của tôi Luận văn có sử dụng một số đánh giá, nhận xét, cơ sở lý thuyết của một số nghiên cứu khoa học, tài liệu, website… đều được tác giả ghi chú thích nguồn gốc trích dẫn
Tp Hồ Chí Minh, ngày tháng năm 2018
Tác giả
Tạ Thị Ngọc Châu
Trang 4MỤC LỤC
DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
DANH MỤC CÁC BẢNG
DANH MỤC HÌNH VẼ
DANH MỤC CÁC BIỂU ĐỒ
TÓM TẮT
CHƯƠNG 1: GIỚI THIỆU 1
1.1 Bối cảnh nghiên cứu: 1
1.2 Mục tiêu nghiên cứu: 2
1.3 Câu hỏi nghiên cứu: 2
1.4 Ý nghĩa thực tiễn của nghiên cứu: 3
1.5 Phương pháp nghiên cứu: 3
1.6 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu: 4
1.7 Kết cấu nghiên cứu: 4
CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ CÁC NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN 5
2.1 Các khái niệm: 5
2.1.1 Định nghĩa sinh kế ( livelihood): 5
2.1.2 Sinh kế bền vững (Sustainable livelihoods): 6
2.1.3 Bồi thường: 6
2.1.4 Tái định cư (TĐC): 7
2.2 Khung phân tích sinh kế bền vững (Sustainable Livelihood Framework): 7
2.2.1 Các nhân tố sinh kế chính: 8
2.3 Những nghiên cứu trước: 11
2.4 Đề xuất các tiêu chí đánh giá sinh kế bền vững: 16
CHƯƠNG 3: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 17
3.1 Quy trình nghiên cứu: 17
Trang 53.3.2 Dữ liệu sơ cấp 19
3.4 Bảng khảo sát 19
3.5 Mẫu nghiên cứu 19
3.6 Các bước thu thập thông tin nghiên cứu 19
3.7 Phương pháp phân tích số liệu 20
3.7.1 Phương pháp thống kê mô tả 20
3.7.2 Phương pháp so sánh 20
CHƯƠNG 4: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 21
4.1 Chính sách thu hồi đất, đền bù, giải tỏa, tái định cư của chính quyền địa phương áp dụng cho dự án nghiên cứu: 21
4.1.1 Phương án giải phóng mặt bằng: 21
4.1.2 Sự cần thiết và mục tiêu đầu tư dự án: 22
4.1.3 Các chính sách về bồi thường và chuyển đổi việc làm cho các hộ dân bị thu hồi đất: 23
4.1.4 Chính sách hỗ trợ thay đổi nghề nghiệp và tạo việc làm: 25
4.2 Kết quả khảo sát thống kê nhân khẩu và lao động: 26
4.3 Kết quả khảo sát về sinh kế của các hộ gia đình tại nơi tái định cư: 28
4.3.1 Kết quả khảo sát về tài sản sinh kế 28
4.3.2 Kết quả khảo sát về chiến lược sinh kế của các hộ gia đình: 35
4.3.3 Đánh giá của người dân về sự hỗ trợ của chính quyền địa phương: 40
CHƯƠNG V: KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 41
TÀI LIỆU THAM KHẢO
Tài liệu tham khảo Tiếng Việt
Tài liệu tham khảo Tiếng Anh
Trang 7Bảng 4.3: Phân bố loại nhà ở của các hộ gia đình 28
Bảng 4.4 Đánh giá tình trạng sử dụng điện, nước và chất lượng giao thông nơi tái định cư của các hộ gia đình 30
Bảng 4.5: Đánh giá tình trạng internet nơi tái định cư của các hộ gia đình 31
Bảng 4.6: Đánh giá về trường học, y tế, trung tâm thương mại, vệ sinh môi trường nơi tái định cư của các hộ dân 31
Bảng 4.7: Tình hình vay vốn của các hộ gia đình sau tái định cư 33
Bảng 4.8: Mục tiêu vay của các hộ gia đình 33
Bảng 4.9: Tình hình tham gia vào các tổ chức đoàn thể 34
Bảng 4.10: Đánh giá về lợi ích tham gia vào các tổ chức đoàn thể 35
Bảng 4.11: Đánh giá chung về sự thay đổi vốn xã hội 35
Bảng 4.12: Khảo sát công việc hiện tại của các hộ gia đình 36
Bảng 4.13: Khảo sát nguyên nhân thay đổi nghề nghiệp 36
Bảng 4.14: Thu nhập bình quân hàng tháng của các ngành nghề 37
Trang 8Hình 3.1: Quy trình nghiên cứu 17 Hình 4.1: Phân bố quy mô diện tích đất ở của các hộ gia đình 28 Hình 4.2: Thu nhập các ngành nghề (triệu đồng) 39
DANH MỤC CÁC BIỂU ĐỒ
Hộp 1: Mất đất sản xuất nông nghiệp ở nơi cũ ảnh hưởng như thế nào đến cuộc sống của người dân nơi đây? 37
Trang 9cấu kinh tế trên địa bàn tỉnh BR-VT nói chung và huyện Tân Thành nói riêng, đây
là điểm thu hút các nguồn lực đầu tư trong và ngoài nước Song song đó, vấn đề về giải quyết bồi thường, giải phóng mặt bằng là vấn đề cần được quan tâm đầu tiên bởi nó ảnh hưởng đến cuộc sống người dân tại nơi làm dự án
Đề tài “Đánh giá sinh kế của các hộ dân bị ảnh hưởng từ dự án làm đường 991B trên địa bàn huyện Tân Thành, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu” là tổng hợp các nội dung cần thiết mà tác giả đi sâu vào nghiên cứu, tìm hiểu thực trạng đời sống của người dân tái định cư sau khi bị thu hồi đất
Kết quả nghiên cứu cho thấy, mặc dù tại khu tái định cư có được cơ sở hạ tầng tốt hơn, người dân có nhiều tài sản giá trị hơn nhưng về lâu dài năng lực sinh
kế của họ ngày càng bị xói mòn do công việc không ổn định; trường học chưa đáp ứng được nhu cầu dạy và học; chất lượng y tế hầu như không có tại khu tái định cư…Nhiều chính sách hỗ trợ từ chính quyền địa phương đã ban hành nhưng việc thực hiện vẫn chưa hoàn thành…
Trên cơ sở phân tích đánh giá về đời sống kinh tế - xã hội của các hộ gia đình tại khu tái định cư, tác giả đề xuất một số giải pháp nhằm góp phần ổn định đời sống, giúp cho họ có được cuộc sống tốt hơn
Trang 10CHƯƠNG 1: GIỚI THIỆU 1.1 Bối cảnh nghiên cứu:
Huyện Tân Thành nằm dọc theo quốc lộ 51, thuộc tuyến Thành phố Hồ Chí Minh - Vũng Tàu, gần cảng Sài Gòn, cảng biển Vũng Tàu và trong tương lai có đường sắt Thành phố Hồ Chí Minh - Vũng Tàu Ngoài những thuận lợi về vị trí địa
lý, huyện Tân Thành có những điều kiện đất đai tương đối thuận lợi so với nhiều huyện khác Diện tích đất có khả năng phát triển công nghiệp, xây dựng các khu công nghiệp và đô thị, do đó huyện Tân Thành đã trở thành một địa chỉ hấp dẫn cho các nhà đầu tư trong và ngoài nước Đây là địa bàn sôi động trong phát triển công nghiệp cũng như đầu tư xây dựng cơ bản của tỉnh
Trong thời gian qua, huyện Tân Thành chú trọng công tác xây dựng hạ tầng nhất là công tác xây dựng hạ tầng giao thông để tạo thuận lợi thu hút các nguồn lực
và đầu tư bên ngoài Vì vậy, việc đầu tư xây dựng hoàn chỉnh, đồng bộ tuyến đường giao thông 991B từ Quốc lộ 51 đến hạ lưu cảng Cái Mép nhằm đảm bảo việc vận chuyển hàng hóa cho các địa điểm như cụm cảng biển cửa ngõ quốc tế Cái Mép - Thị Vải, trung tâm dịch vụ logistics, các khu công nghiệp hai bên, khu công nghiệp Long Sơn ra Quốc lộ 51 và ra tuyến đường cao tốc Biên Hòa - Vũng Tàu; phục vụ nhu cầu đi lại của nhân dân, góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh
Bà Rịa - Vũng Tàu cũng như của cả nước được lãnh đạo tỉnh BR-VT chú trọng quan tâm Như vậy, việc đầu tư tuyến được 991B được đánh giá là rất quan trọng
Ngày 29/7/2011 UBND tỉnh BR-VT ra Quyết định số 1661/QĐ-UBND về việc phê duyệt dự án đầu tư xây dựng công trình đường 991B từ QL51 đến hạ lưu cảng Cái Mép, huyện Tân Thành tỉnh BR-VT Công tác giải phóng mặt bằng và thu hồi đất để thực hiện dự án làm đường 991B trên địa bàn huyện là vấn đề hết sức nhạy cảm và phức tạp, gây ảnh hưởng không nhỏ đến sinh kế của 124 hộ dân nơi đây Huyện Tân Thành đã ban hành nhiều chính sách, trong đó xây dựng khu tái định cư Mỹ Xuân để ổn định cuộc sống cho những hộ dân bị di dời Tuy nhiên, sự quan tâm đến vấn đề cuộc sống, công ăn việc làm của người dân tái định cư sau khi
bị thu hồi đất chưa thực sự đầy đủ, gây ra nhiều bức xúc, dẫn đến tình trạng khiếu
Trang 11nại khiếu kiện trên địa bàn huyện có nhiều diễn biến phức tạp Nguyên nhân là do tình trạng thiếu việc làm, thất nghiệp, không chuyển đổi được nghề nghiệp, không còn phương tiện truyền thống để kiếm sống, khó khăn trong cuộc sống sinh hoạt nơi
ở mới, nhiều hộ trước đây ở chỗ cũ họ có thể nuôi trồng trang trải cuộc sống nhưng khi dời đến khu tái định cư thì họ không canh tác được,…
Nhằm phản ảnh đúng thực trạng và những thay đổi sinh kế của người dân tái định cư sau khi bị thu hồi đất phục vụ cho dự án đường 991B, tác giả thực hiện
nghiên cứu “Đánh giásinh kế của các hộ dân bị ảnh hưởng từ dự án làm đường 991B trên địa bàn huyện Tân Thành, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu” nhằm tìm ra những
hạn chế và bất cập trong quá trình thực hiện đền bù, giải phóng mặt bằng và tái định
cư cho hộ dân bị ảnh hưởng bởi dự án trên để đề xuất các biện pháp hỗ trợ bổ sung
từ chính quyền, nếu có thể, để ổn định sinh kế của người dân Đồng thời, kết quả nghiên cứu cũng là bài học cho công tác đền bù giải phóng mặt bằng trên địa bàn tỉnh nói riêng và các địa phương cả nước nói chung, với mục tiêu hướng đến sinh kế bền vững cho người dân sau tái định cư
1.2 Mục tiêu nghiên cứu:
Nghiên cứu này được thực hiện nhằm xác định thực trạng sinh kế của người dân bị ảnh hưởng từ dự án làm đường 991B trên địa bàn huyện Tân Thành, tỉnh BR-
VT sau khi tái định cư tại khu tái định cư Mỹ Xuân Xác định những yếu tố làm thay đổi và ảnh hưởng đến sinh kế của người dân khi bị di dời khỏi địa bàn cũ
Thông qua những phân tích, tác giả kỳ vọng đề xuất được một số giải pháp góp phần cho sinh kế của người dân được bền vững hơn và hoàn thiện chính sách bồi thường và tái định cư cho những dự án khác
1.3 Câu hỏi nghiên cứu:
Thứ nhất, sinh kế hiện nay của người dân tại khu tái định cư Mỹ Xuân của
dự án làm đường 991B như thế nào?
Thứ hai, sinh kế của người dân đã bị thay đổi như thế nào từ quá trình thực hiện bồi thường, giải phóng mặt bằng và tái định cư?
Trang 12Thứ ba, những giải pháp nào là cần thiết để giúp ổn định sinh kế của người dân bị ảnh hưởng từ dự án làm đường 991B trên địa bàn huyện Tân Thành, tỉnh BR-VT?
1.4 Ý nghĩa thực tiễn của nghiên cứu:
Việc đầu tư tuyến đường 991B sẽ giải quyết được rất nhiều vấn đề bức bách
về cơ sở hạ tầng ngoài hàng rào khu công nghiệp phục vụ cho sự phát triển kinh tế -
xã hội của tỉnh Do đó để xây dựng tuyến đường theo đúng quy hoạch được tỉnh phê duyệt, cần phải giải quyết nhanh chóng vấn đề giải phóng mặt bằng (GPMB), ổn định cuộc sống người dân Tuy nhiên, công tác GPMB hiện nay trên địa bàn huyện nói riêng và cả nước nói chung đang gặp nhiều khó khăn vướng mắc Các hộ dân bị giải tỏa tại tuyến đường 991B đa số có thu nhập đầu người thấp, chủ yếu sống bằng sản xuất nông nghiệp do đó nếu như bị mất đất sản xuất, người dân bị mất đi một nguồn thu nhập chính
Vì vậy, nghiên cứu phân tích đánh giá những tác động của việc thu hồi đất đã ảnh hưởng đến cuộc sống của người dân vùng dự án tuyến đường 991B như thế nào, đặc biệt là những chính sách hỗ trợ như đào tạo, chuyển đổi nghề nghiệp có thật sự phù hợp với thực tiễn đa dạng của địa phương, có hỗ trợ sinh kế bền vững cho người dân nơi đây hay không? Ngoài ra, kết quả nghiên cứu của đề tài sẽ được
sử dụng trong việc đề xuất chính sách cho các cơ quan liên quan đến việc đền bù, GPMB, tái định cư (TĐC) cho người dân bị thu hồi đất
1.5 Phương pháp nghiên cứu:
Thông tin sử dụng chủ yếu cho đề tài nghiên cứu dựa trên số liệu sơ cấp thu thập thông qua các bảng hỏi điều tra, những câu hỏi trong bảng hỏi đưa ra nhằm thu thập các số liệu định lượng tìm hiểu nguyên nhân chủ yếu dẫn đến sinh kế không bền vững của các hộ dân này Phỏng vấn sâu các hộ dân bị thu hồi đất trên tuyến đường 991B để xem xét tình hình sinh sống của các hộ dân sau khi bị thu hồi đất so với trước kia Ngoài ra còn phỏng vấn các chuyên gia: Phỏng vấn một số chuyên gia làm trong lĩnh vực liên quan, trong đó chú trọng đến các vị trí công tác về thực hiện các chế độ chính sách giải quyết việc làm cho người dân bị thu hồi đất để củng cố
Trang 13thêm lập luận và tính xác thực, đại diện của dữ liệu Các phân tích này đều được dựa vào khung lý thuyết sinh kế bền vững của Cơ quan phát triển quốc tế Vương quốc Anh (DFID) và số liệu thông qua phỏng vấn, bảng hỏi
1.6 Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu:
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là các khía cạnh sinh kế của các hộ gia đình tái định cư tại khu tái định cư Mỹ Xuân bị ảnh hưởng từ dự án làm đường 991B trên địa bàn huyện Tân Thành (nguồn nhân lực, nguồn lực tài chính, nguồn lực tự nhiên, nguồn lực xã hội và nguồn lực vật chất)
Phạm vi nghiên cứu là các hộ gia đình đang sinh sống trong khu tái định cư
Mỹ Xuân, huyện Tân Thành, tỉnh BR-VT
1.7 Kết cấu nghiên cứu:
Chương 1: Trình bày các nội dung cơ bản của nghiên cứu như bối cảnh nghiên cứu, mục đích, câu hỏi, đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Chương 2: Trình bày tổng quan cơ sở lý thuyết về sinh kế và khung phân tích sinh kế bền vững DFID, tóm tắt những nghiên cứu trước từ đó mô tả khung phân tích mà tác giả sử dụng để phân tích trong nghiên cứu này
Chương 3: Trình bày phương pháp nghiên cứu, chọn mẫu, phân tích dữ liệu Chương 4: Trình bày kết quả nghiên cứu dựa trên cơ sở lý thuyết Chương 2
và dữ liệu thu thập được của Chương 3 nhằm mục đích trả lời các câu hỏi nghiên cứu
Chương 5: Trình bày các giải pháp, đề xuất chính sách có thể giúp các hộ dân bị thu hồi đất có được sinh kế bền vững
Kết luận
Trang 14CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ CÁC NGHIÊN CỨU LIÊN
QUAN
Chương 2 trình bày cơ sở lý thuyết về sinh kế, sinh kế bền vững, tìm hiểu các nghiên cứu trước về vấn đề sinh kế cũng như sinh kế bền vững
2.1 Các khái niệm:
2.1.1 Định nghĩa sinh kế ( livelihood):
Sinh kế được định nghĩa theo nhiều cách khác nhau Một định nghĩa đề cập đến sinh kế là năng lực, tài sản và các hoạt động cần thiết để kiếm sống (CARE, 2005) Một sinh kế có thể được khái niệm hoá bao gồm tài sản (thiên nhiên, thể chất, con người, tài chính, và xã hội), các hoạt động và sự tiếp cận với các nguồn lực (trung gian bởi các thể chế và quan hệ xã hội) cùng xác định mức sống của cá nhân hoặc hộ gia đình (Ellis, 2000)
Một định nghĩa khác của FAO cho rằng, sinh kế không có nghĩa là các hoạt động mà mọi người kiếm được để kiếm sống Mà nó có nghĩa là tất cả các yếu tố khác nhau góp phần hoặc ảnh hưởng đến khả năng của họ để đảm bảo cuộc sống cho bản thân và gia đình của họ Điều này bao gồm: (1) tài sản mà hộ gia đình sở hữu hoặc có thể tiếp cận được với con người, tự nhiên, xã hội, tài chính và thể chất; (2) các hoạt động cho phép hộ gia đình sử dụng các tài sản đó để đáp ứng các nhu cầu cơ bản; (3) các yếu tố khác nhau mà chính bản thân hộ gia đình không thể kiểm soát trực tiếp, như vụ mùa, thiên tai hoặc xu hướng kinh tế ảnh hưởng đến tính dễ tổn thương của nó; (4) các chính sách, thể chế và quy trình có thể giúp họ hoặc gây khó khăn cho họ hơn để đạt được một cuộc sống đầy đủ (FAO,2004)
Sinh kế là hoạt động kiếm sống của con người thông qua việc sử dụng các nguồn lực (con người, tự nhiên, vật chất, tài chính, xã hội…) trong một môi trường
dễ bị tổn thương có sự quản lý của các tổ chức, định chế, chính sách (Wikipedia, truy cập ngày 30/11/2017)
Các nghiên cứu của Chambers và Conway (1992) cho rằng sinh kế là bao gồm tất cả những tài sản, những khả năng, những hoạt động cần thiết để kiếm sống
Trang 15Theo DFID (1999) thì sinh kế bao gồm các khả năng, các tài sản (bao gồm
cả các nguồn lực vật chất và xã hội) và hoạt động cần thiết để kiếm sống
2.1.2 Sinh kế bền vững (Sustainable livelihoods):
Theo Chambers và Conway (1992) cho rằng sinh kế là bền vững khi nó có thể đối phó và phục hồi từ những căng thẳng và cú sốc, duy trì hoặc tăng cường năng lực và tài sản, đồng thời không làm suy yếu nguồn tài nguyên thiên nhiên
Theo DFID (1999) cho rằng “Một sinh kế được xem là bền vững khi nó có thể đối phó và phục hồi vượt qua những căng thẳng, các cú sốc; duy trì và tăng cường hơn nữa năng lực và các nguồn tài sản ở hiện tại cũng như trong tương lai mà không phá hoại các nguồn tài nguyên thiên nhiên” Hơn nữa, sinh kế bền vững khi họ: (1) có sức chịu đựng trước các cú sốc và căng thẳng bên ngoài; (2) không phụ thuộc vào hỗ trợ bên ngoài; (3) duy trì năng suất lâu dài của tài nguyên thiên nhiên; Và (4) không làm suy yếu sinh kế, hoặc làm tổn hại đến các lựa chọn sinh kế của người khác, (DFID, 1999)
Một sinh kế bền vững là nó có khả năng đối phó và phục hồi khi bị tác động hay có thể thúc đẩy các khả năng và tài sản ở cả thời điểm hiện tại hay trong tương lai trong khi không làm xói mòn nền tảng nguồn lực tự nhiên (Tim Hanstad, Robin Nielsn và Jennifer Brown, 2004, trích bởi Nguyễn Văn Sửu, 2010)
Theo Koos Neefjes (2000), sinh kế bền vững là: “ Một sinh kế phải tùy thuộc vào các khả năng và của cải (cả nguồn lực vật chất và xã hội) và những hoạt động
mà tất cả là cần thiết để mưu sinh Sinh kế của một người hay một gia đình là bền vững khi họ có thể đương đầu và phục hồi trước các căng thẳng và chấn động và tồn tục được hoặc nâng cao thêm các khả năng và của cải của mình mà không làm tổn hại đến các nguồn lực môi trường”
2.1.3 Bồi thường:
Bồi thường là việc Nhà nước trả lại giá trị quyền sử dụng đất khi Nhà nước thu hồi đất đối với diện tích bị thu hồi cho người bị thu hồi đất (Luật đất đai 2003, 2013) Quá trình bồi thường dùng để đánh giá, đo lường những tổn thất của những người bị
Trang 16thu hồi đất bằng hình thức tiền hoặc hiện vật và được chi trả một lần cho người sở hữu đất
Bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất: Là việc Nhà nước trả lại giá trị quyền
sử dụng đất đối với diện tích đất bị thu hồi cho người bị thu hồi đất (Điều 4, Luật Đất đai năm 2003)
2.1.4 Tái định cư (TĐC):
Tái định cư bao hàm cả việc thực hiện chính sách bồi thường thiệt hại khi thu hồi đất Tái định cư theo nghĩa hẹp là quá trình di chuyển người dân đến nơi ở mới
2.2 Khung phân tích sinh kế bền vững (Sustainable Livelihood Framework):
Khung phân tích sinh kế bền vững được xây dựng nhằm mục đích để hiểu và phân tích sinh kế của người nghèo Đây là một công cụ trình bày các yếu tố chính ảnh hưởng đến sinh kế của người dân và mối quan hệ giữa những yếu tố đó Hình thức đơn giản nhất của khung là khung nhìn người dân như hoạt động trong một bối cảnh dễ bị tổn thương, trong bối cảnh này họ có quyền tiếp cận một số tài sản nhất định hoặc là các yếu tố giảm nghèo Bản thân sinh kế không thể tồn tại độc lập mà nó vận động và chịu tác động của các yếu tố khác thông qua môi trường xã hội, thể chế và tổ chức Môi trường này cũng ảnh hưởng đến các chiến lược sinh kế Tác giả phân tích dựa vào khung phân tích sinh kế bền vững của Bộ Phát triển quốc tế Vương quốc Anh (DFID) như hình 2.1
Khung phân tích của DFID nhằm mục đích làm tăng tính bền vững sinh kế của người nghèo thông qua:
+ Cải thiện cách tiếp cận giáo dục, thông tin, công nghệ, đào tạo chất lượng cao + Một môi trường xã hội có sự hỗ trợ và gắn bó hơn
+ Tiếp cận an toàn hơn và quản lý tốt hơn các nguồn tài nguyên thiên nhiên + Tạo điều kiện thuận lợi để tiếp cận tốt hơn với cơ sở hạ tầng cơ bản
+ Tiếp cận an toàn hơn đến các nguồn tài chính
Trang 17+ Một môi trường chính sách và thể chế hỗ trợ nhiều chiến lược sinh kế và thúc đẩy việc tiếp cận công bằng tới các thị trường cạnh tranh cho tất cả mọi người
Hình 2.1: Khung sinh kế bền vững
H: Nguồn vốn con người P: Nguồn vốn vật chất
N: Nguồn vốn tự nhiên F: Nguồn vốn tài chính S: Nguồn vốn xã hội
Nguồn: DFID (1999)
Khung sinh kế bền vững đã được phát triển bởi nhiều nhà nghiên cứu nhưng trong khung phân tích này có ba yếu tố cốt lõi đó là “tài sản sinh kế”, “chiến lược sinh kế” và “kết quả sinh kế”
2.2.1 Các nhân tố sinh kế chính:
2.2.1.1 Bối cảnh dễ bị tổn thương: là môi trường bên ngoài mà trong đó con
người tồn tại Sinh kế của con người và các tài sản sẵn có bị ảnh hưởng cơ bản bởi những xu hướng quan trọng cũng như các cú sốc và tính mùa vụ mà họ bị hạn chế hoặc không kiểm soát được Các yếu tố của bối cảnh dễ bị tổn thương gồm:
+ Các cú sốc: thay đổi về sức khỏe con người, tự nhiên, kinh tế, các mâu thuẫn và quá trình thay đổi trong trồng trọt và chăn nuôi
Trang 18+ Các xu hướng: xu hướng về nguồn lực, tài nguyên, kinh tế ( trong và ngoài nước), quản trị ( bao gồm chính trị) và công nghệ
+ Tính thời vụ: giá cả, sản xuất, sức khỏe, cơ hội việc làm
Các yếu tố tạo nên bối cảnh dễ bị tổn thương là rất quan trọng vì nó có ảnh hưởng bất lợi trực tiếp hoặc gián tiếp đến tài sản và đời sống của người dân, từ đó
có thể đưa ra các giải pháp nhằm hạn chế tiêu cực và tìm cách để các tác động bất lợi này ít ảnh hưởng đối với nhóm người dễ bị tổn thương
Theo DFID (1999), tài sản sinh kế là việc kết hợp 5 loại tài sản gồm nguồn vốn con người (H), nguốn vốn tự nhiên (N) , nguồn vốn tài chính (F), nguồn vốn vật chất (P), nguồn nguồn vốn xã hội (S)
+ Nguồn vốn tự nhiên (Natural capital): là thuật ngữ được sử dụng cho các nguồn tài nguyên thiên nhiên Có nhiều nguồn lực tạo thành vốn tự nhiên: từ khí quyển, đa dạng sinh học đến đất đai, cây cối, mùa màng, nguồn nước
Trong khung sinh kế bền vững, nhiều thảm họa tàn phá về sinh kế của người nghèo thường xuất phát từ tiến trình tự nhiên (lũ lụt, cháy rừng, động đất…), vì vậy giữa nguồn vốn tự nhiên và các tổn hại có sự gắn kết với nhau
+ Nguồn vốn con người (Human capital): vốn con người thể hiện các kỹ năng, kiến thức, kỹ năng lao động và sức khỏe tốt Cùng nhau giúp con người theo đuổi các chiến lược sinh kế khác nhau và đạt được các mục tiêu sinh kế của họ Ở cấp hộ gia đình thì vốn con người là yếu tố về số lượng và chất lượng lao động sẵn
có, tùy theo quy mô hộ gia đình, trình độ nghề nghiệp, tình trạng sức khỏe, khả năng quản lý… Trong tài sản sinh kế thì nguồn vốn con người là quan trọng nhất vì
nó là yếu tố cần thiết để tạo ra bốn tài sản còn lại
Trang 19+ Nguồn vốn xã hội (Social capital): trong khung sinh kế bền vững thì vốn
xã hội là nguồn lực xã hội mà người dân sử dụng để theo đuổi các mục tiêu sinh kế của mình Các mối quan hệ này được phát triển thông qua: các mạng lưới và sự liên kết làm tăng sự tin tưởng, khả năng làm việc của mọi người với nhau và mở rộng khả năng tiếp cận các tổ chức lớn hơn; là thành viên của các nhóm chính thức hóa; các mối quan hệ tin cậy, hỗ trợ và trao đổi nhằm tạo thuận lợi cho việc hợp tác
+ Nguồn vốn vật chất (Physial capital): bao gồm cơ sở hạ tầng cơ bản ( gồm những thay đổi đối với môi trường vật chất, giúp con người đáp ứng được những nhu cầu cơ bản và năng suất cao hơn) và hàng hóa sản xuất ( công cụ và thiết bị mà mọi người sử dụng để hoạt động hiệu quả hơn) cần thiết để hỗ trợ sinh kế
Các thành phần cơ bản của cơ sở hạ tầng: chi phí vận tải; chất lượng nhà cửa; cung cấp nước hợp vệ sinh; năng lượng sạch sẽ, giá cả phải chăng; và chất lượng truyền thông tin
+ Nguồn vốn tài chính (Financial capital): thể hiện nguồn lực tài chính mà mọi người sử dụng để đạt được mục tiêu sinh kế của họ Có hai nguồn tài chính chính: thứ nhất là tiền mặt, tiền gửi ngân hàng hoặc các tài sản thanh khoản như gia súc và đồ trang sức; thứ hai là dòng tiền thường xuyên như lương hưu, các khoản chuyển tiền khác…
Vốn tài chính có lẽ là linh hoạt nhất trong năm loại tài sản, nó có thể được chuyển đổi với mức độ khác nhau dễ dàng Tuy nhiên nó cũng là tài sản có xu hướng ít nhất có sẵn cho người nghèo, vì người nghèo thiếu vốn tài chính mà các nguồn vốn khác rất quan trọng với họ
2.2.1.3 Chiến lược sinh kế:
Chiến lược sinh kế là quá trình sinh ra quyết định về các vấn đề cấp hộ, bao gồm những vấn đề như thành phần của hộ, tính gắn bó giữa các thành viên, phân bổ các nguồn lực vật chất và chi phí vật chất của hộ (Seppala,1996)
Chiến lược sinh kế bao gồm các hoạt động tạo ra các phương tiện sống cho
hộ gia đình (Ellis, 2000) Nó thể hiện sự đa dạng và các lựa chọn mà con người tiến hành nhằm đạt được mục tiêu sinh kế của mình Con người dần thích nghi và lựa
Trang 20chọn sinh kế phù hợp khi có một cú sốc nào đó xảy ra với mình để tạo được sinh kế bền vững
Có ba yếu tố chính quyết định chiến lược sinh kế của hộ gia đình gồm động lực của hộ gia đình; nguồn sinh kế và khả năng tiếp cận; và môi trường sinh kế
2.2.1.4 Kết quả của sinh kế: là những thay đổi có lợi cho sinh kế cộng đồng
Kết quả sinh kế có thể gồm các chỉ số khác nhau: cuộc sống ổn định hơn, ít rủi ro, thu nhập cao, kiến thức chuyên môn sâu, chất lượng thực phẩm, sử dụng bền vững nguồn tài nguyên thiên nhiên…
2.3 Những nghiên cứu trước:
Theo tìm hiểu của tác giả, hiện nay chưa có đánh giá đầy đủ về cuộc sống của người dân bị ảnh hưởng bởi dự án làm đường 991B trên địa bàn huyện Tân Thành, tỉnh BR – VT nói riêng và cuộc sống của người dân sau khi bị mất đất sản xuất trên cả nước nói chung Do đó, để có một nhìn tổng quan về tài sản sinh kế và sinh kế bền vững thì việc xem xét các nghiên cứu trước đây là hết sức cần thiết
DFID là một tổ chức đi đầu trong việc xây dựng khung phân tích sinh kế, kết quả nghiên cứu cho thấy các yếu tố như: Giáo dục kỹ năng, Dân tộc và tính giai cấp, Giới tính, Vốn tài chính, Nguồn vốn xã hội, Cơ sở hạ tầng thông tin là những yếu tố quan trọng ảnh hưởng đến thu nhập và việc làm ở khu vực nông thôn ở các nước Nam Mỹ, Ấn Độ, Uganda
Scoones (2009) cho thấy khả năng để theo đuổi các chiến lược sinh kế khác nhau phụ thuộc vào vật liệu cơ bản và tài sản xã hội, hữu hình và vô hình
Zenteno et al (2013) nghiên cứu cho thấy tầm quan trọng của việc xem vốn sinh kế như một động lực thúc đẩy các thực hành chiến lược sinh kế, chỉ ra sự tương tác giữa các chiến lược sinh kế và vốn sinh kế là rất quan trọng để nâng cao sự hiểu biết về sinh kế bền vững ở khu vực nông thôn
Nghiên cứu của Nguyễn Văn Sửu về tác động của công nghiệp hóa và đô thị hóa đến sinh kế nông dân Việt Nam ở một làng ven đô Hà Nội Nghiên cứu cho thấy việc mất đất nông nghiệp đã ảnh hưởng lớn đến đời sống xã hội của những người nông dân ở khu vực nông thôn và ven đô, những con người mà văn hóa của
Trang 21họ được gọi là nền văn minh lúa nước và sinh kế của họ đã từ nhiều năm đã dựa vào đất nông nghiệp và sản xuất nông nghiệp Qúa trình chuyển đổi công nghiệp hóa và
đô thị hóa đã chuyển đổi sinh kế truyền thống của người dân địa phương từ một nguồn sinh kế dựa nhiều vào sản xuất nông nghiệp sang những nguồn sinh kế đa dạng khác trong đó cho thuê nhà trọ và buôn bán nhỏ đóng một vai trò quan trọng Tuy nhiên, nhiều lao động vốn là những người nông dân làm nông nghiệp còn thiếu vốn xã hội và vốn con người nên không thể tìm được việc làm, hay không có đủ việc làm, để đảm bảo các chiến lược sinh kế bền vững của mình trong một bối cảnh gia tăng áp lực của nền kinh tế thị trường và những tác động còn hạn chế của chính sách đào tạo nghề và tạo việc làm của nhà nước Do đó, nhiều người trong số họ cảm thấy cuộc sống của mình tiềm ẩn những rủi ro và thiếu ổn định
Nghiên cứu của Nguyễn Thị Diễn, Vũ Đình Tôn, Philippe Lebailly (2008) về ảnh hưởng của việc thu hồi đất nông nghiệp cho công nghiệp hóa đến sinh kế của các hộ nông dân ở tỉnh Hưng Yên Kết quả nghiên cứu cho thấy sau khi thu hồi đất nông nghiệp, ngân sách của địa phương (xã) tăng lên từ 2 đến 3 lần, cơ sở hạ tầng nông thôn được cải thiện, thu nhập bình quân đầu người của địa phương tăng lên hàng năm, tỉ lệ hộ nghèo giảm đi đáng kể Tuy nhiên việc thu hồi đất cũng đã ảnh hưởng trực tiếp đến việc làm, an toàn lương thực của các hộ nông dân cũng như của địa phương đồng thời đẩy nhanh quá trình phân tầng xã hội nông thôn Sau khi thu hồi đất cho công nghiệp hóa, chỉ có16,4% lao động trong các hộ điều tra tìm được việc làm trong các nhà máy.Có 77% số hộ điều tra không tự chủ về lương thực; 69,6
% số hộ điều tra lo ngại về các vấn đề ô nhiễm môi trường do các nhà máy xung quanh khu dân cư
Nghiên cứu của Vương Thị Bích Thủy (2012) dựa theo khung phân tích của DFID (1999) để tìm hiểu sinh kế của các hộ dân sau khi bị thu hồi đất tại Khu kinh
tế Đông Nam Nghiên cứu tập trung vào phân tích 05 loại tài sản theo khung DFID Kết quả nghiên cứu cho thấy cả năm loại tài sản sinh kế đều có sự thay đổi đáng kể Trong đó, nguồn vốn tự nhiên bị giảm đã chuyển sang nguồn vốn tài chính (tiền bồi thường); nguồn vốn vật chất tăng nhờ người dân dùng tiền bồi thường về mua đất
Trang 22làm nhà, mua sắm trang thiết bị sinh hoạt trong gia đình Tuy nhiên, nguồn vốn con người có vai trò quan trọng nhất, được đánh giá thông qua giáo dục, sức khỏe tốt và
kỹ năng làm việc lại không thấy sự thay đổi căn bản Sau khi bị thu hồi đất các yếu
tố này không được đầu tư nhiều cho lực lượng lao động chính trong các hộ dân
Nghiên cứu của Vũ Thị Xuân Lộc (2012) đã nghiên cứu về Cải thiện sinh kế cho cộng đồng ven biển ở tỉnh Bình Thuận Nghiên cứu cũng tập trung vào 5 loại tài sản của khung DFID Kết quả nghiên cứu cho thấy các sinh kế tập trung vào nông nghiệp, ngư nghiệp (đánh bắt, khai thác và nuôi trồng thủy sản), tiểu thủ công nghiệp (chế biến thủy sản như nước mắm, mắm tôm, sở chế các loại hải sản), dịch
vụ thương mại, và làm mướn Trong đó, nguồn vốn tự nhiên và nguồn vốn con người có ảnh hưởng lớn đến sinh kế người dân ven biển, đặc biệt là các hộ thuộc nhóm hộ nghèo nhưng không có sự thay đổi đáng kể Tình trạng thiếu kỹ năng, trình độ chuyên môn thấp, trẻ em nghèo bỏ học còn nhiều.Nghiên cứu cũng cho thấy được mối tương quan thuận giữa trình độ học vấn và mức độ giàu nghèo (các
hộ khá thì có kiến thức và kỹ năng cao hơn, được ứng dụng và tạo ra thu nhập)
Nghiên cứu của Nguyễn Hồng Hạnh (2013)nghiên cứu về sinh kế bền vững cho các hộ dân tộc thiểu số sống tại các vùng định canh, định cư ở huyện Vị Xuyên – tỉnh Hà Giang Kết quả nghiên cứu cho thấy các hộ dân nơi đây còn gặp nhiều khó khăn về trình độ nhân lực còn thấp; đất sản xuất ngày càng thiếu và kém màu mỡ; chưa biết cách sử dụng đồng vốn vay hiệu quả; lương thực, thực phẩm sản xuất
ra mới dừng ở mức đủ ăn, và không có nguồn dư thừa; tài sản vật chất của các hộ gia đình còn giản đơn; và điều kiện kinh tế của các hộ rất dễ bị suy giảm khi phải đối mặt với bệnh tật, thiên tai…
Nghiên cứu của Dương Minh Ngọc (2013) nghiên cứu về dự án định canh định cư ở xã Ea Kiết, huyện Cư M’gar, tỉnh Đắk Lắk Nghiên cứu điều tra các hộ gia đình cư trú trong rừng và trong khu định canh định cư để tìm hiểu về sinh kế của
họ Kết quả nghiên cứu cho thấy có sự khác biệt lớn trong tài sản sinh kế của hộ dân
cư trú trong rừng và cư trú trong khu định canh định cư Các hộ cư trú trong rừng sở hữu diện tích đất nhiều hơn, đem lại thu nhập cao, điều này dẫn tới tỷ lệ tiết kiệm
Trang 23cao Còn các hộ cư trú trong khu định canh định cư với diện tích đất ít hơn, đem lại
ít thu nhập hơn, dẫn đến tỷ lệ tiết kiệm thấp hơn những hộ cư trú trong rừng Điều này làm cho các hộ cư trú trong rừng không muốn ra cư trú trong khu định canh định cư
Nghiên cứu của Nguyễn Xuân Vinh (2014) đã nghiên cứu chính sách sinh kế kết hợp bảo vệ tài nguyên thiên nhiên tại xã Đất Mũi, huyện Ngọc Hiển, tỉnh Cà Mau Kết quả nghiên cứu cho thấy, phần lớn hộ gia đình không có tài sản sinh kế nào đáng kể ngoài nguồn lực lao động giản đơn, thiếu khoa học kỹ thuật, phương tiện công suất thấp, kém đa dạng và không có khả năng tiếp cận vốn Họ dễ bị tổn thương bởi bệnh tật, tỷ lệ lao động phụ thuộc cao, thời tiết khắc nghiệt, sự cạnh tranh trong khai thác thủy sản, suy giảm tài nguyên, biến đổi khí hậu như nước biển dâng, sạt lở đất, dịch bệnh và lệ thuộc hệ thống thương lái Trong bối cảnh đó, công ước RAMSAR và chính sách thắt chặt bảo vệ tài nguyên thiên nhiên đã trở thành cú sốc cuối cùng khiến người dân mất đi nguồn sinh kế chính yếu mà họ hiện có
Nghiên cứu của Lương Đình Huyên (2014)về cải thiện sinh kế những hộ dân tái định cư nông nghiệp thuộc dự án di dân, tái định cư thủy điện Sơn La trên địa bàn thị xã Mường Lay, tỉnh Điện Biên Kết quả nghiên cứu cho thấy tuy có được cơ
sở hạ tầng tốt hơn, có nhà mới to đẹp hơn, song sinh kế của những hộ gia đình này đang ngày càng trở nên bất ổn do thất nghiệp, nhiều gia đình đã và đang rơi vào tình trạng nghèo đói Việc khai hoang 3 bãi đất và xây các công trình thủy lợi đã tiêu tốn nhiều tỉ đồng của ngân sách, nhưng sau nhiều lần giao đất và trồng thử cây nhưng không loại cây nào sống được, người dân đã không nhận do là đất đá xít không có chất dinh dưỡng, địa hình dốc trên đồi núi cao, thiếu nước tưới, quá xa nơi ở nên người dân không thể canh tác và bảo vệ Thủ tục hành chính trong công tác bồi thường, hỗ trợ rườm rà, nhiều cấp, nhiều khâu dẫn đến xử lý vấn đề vướng mắc chậm trễ Nhiều chính sách hỗ trợ đời sống người dân, đã ban hành, song sau nhiều năm vẫn chưa được thực hiện
Nghiên cứu của Đỗ Vũ Gia Linh (2015)nghiên cứu về cải thiện sinh kế cho người dân trong yêu cầu bảo tồn tài nguyên tại ấp 5, xã Mã Đà, huyện Vĩnh Cửu,
Trang 24Đồng Nai Kết quả nghiên cứu cho thấy người dân sống trong khu vực vốn dĩ sở hữu các nguồn tài sản rất giới hạn về con người và phương tiện vật chất kĩ thuật Họ sống phụ thuộc vào tự nhiên, canh tác trên đất giao khoán hay khai thác sản vật rừng, khó tiếp cận vốn và cũng không có mạng lưới liên kết sản xuất kinh doanh hiệu quả Các nguồn tài sản có xu hướng bị suy giảm do tác động của chính sách di dời Việc trì hoãn và thiếu thông tin chính sách dẫn đến tình trạng quan hệ sở hữu không được xác lập lâu dài đối với tài sản và vốn đầu tư Việc khai thác tận diệt và thiếu trách nhiệm cải tạo nguồn tài nguyên không tái sinh góp phần làm suy giảm tài sản sinh kế hộ gia đình Họ càng dễ tổn thương trước các biến đổi về thời tiết, mùa vụ, bệnh tật và chính sách thắt chặt quản lí tài nguyên rừng Cơ sở hạ tầng về điện nước, giao thông, y tế, giáo dục đều hạn chế tại địa phương khiến cho hộ nghèo không thể cho con em đến trường Việc suy giảm vốn nhân lực dự báo tình trạng nghèo dai dẳng qua nhiều thế hệ
Nghiên cứu của Trương Thị Hồng Giang (2015)tìm hiểu về thực trạng sinh
kế của các hộ gia đình bị thu hồi đất trên địa bàn huyện Duyên Hải, tỉnh Trà Vinh Kết quả nghiên cứu cho thấy mặc dù phần đông các hộ gia đình có được khoản tiền bồi thường lớn so với mức thu nhập thông thường, nhưng không phải hộ gia đình nào cũng thay đổi cuộc sống theo hướng tích cực Một số hộ dân trở nên khá, giàu hơn trước từ việc sử dụng hiệu quả số tiền bồi thường như đầu tư phát triển kinh doanh dịch vụ, hoặc đầu tư mua đất mới để tiếp tục với nghề nông sau khi có số tiền lớn để trả hết nợ vay,…Tuy nhiên đa phần cuộc sống các hộ không có cải thiện, có
hộ còn có thu nhập thấp hơn trước đây, việc làm bấp bênh, thiếu việc làm, thất nghiệp, thất mùa,… Nguyên nhân của tình trạng này là do trình độ người lao động còn thấp, khó thích nghi với công việc mới, hoặc sử dụng tiền bồi thường không hiệu quả Chính quyền địa phương hỗ trợ gần như đầy đủ các chính sách cho người
bị thu hồi đất, tuy nhiên hiệu quả mang lại chưa cao, nhất là công tác đào tạo nghề
và tạo việc làm cho người lao động bị mất việc,…Ngoài ra, ô nhiễm môi trường cũng ảnh hưởng nghiêm trọng đến cuộc sống của cộng đồng
Trang 25Nghiên cứu của Phạm Văn Hùng (2016) nghiên cứu về thay đổi sinh kế của các hộ dân bị thu hồi đất sau tái định cư đối với dự án khu du lịch Vinpearl Quy Nhơn, Bình Định Kết quả nghiên cứu cho thấy rằng tài sản vật chất của các hộ gia đình thay đổi đáng kể, về tài sản tài chính của các hộ dân cũng tốt hơn so với trước, vốn xã hội kém đi so với trước, công việc và thu nhập không thay đổi nhiều
2.4 Đề xuất các tiêu chí đánh giá sinh kế bền vững:
Căn cứ vào các lý thuyết về sinh kế bền vững, tình hình thực tiễn, các công trình nghiên cứu sinh kế bền vững trước đây, tác giả đề xuất các tiêu chí để đánh giá tình hình sinh kế của các hộ gia đình thực hiện tái định cư tại khu TĐC Mỹ Xuân, huyện Tân Thành, tỉnh BR-VT như sau:
Về nguồn vốn:
- Nguồn vốn con người: Số nhân khẩu, số lao động, trình độ học vấn, số lao động có việc làm ổn định
- Nguồn vốn tự nhiên: Hoạt động sản xuất, khoảng cách so với nơi cũ
- Nguồn vốn xã hội: Việc tham gia vào các tổ chức chính trị - xã hội, cơ quan chính quyền, tôn giáo; cách tiếp cận các thông tin về chủ trương, chính sách pháp luật…
- Nguồn vốn vật chất: Đất đai, nhà cửa, số lượng tài sản, tình trạng cơ sở hạ tầng kỹ thuật và cơ sở hạ tầng xã hội của địa phương, tình trạng điện, nước, chợ, trường học, các hệ thống thông tin
- Nguồn vốn tài chính: Vốn tự có của gia đình; nhu cầu và mục đích vay vốn, trợ cấp
Về tình hình việc làm, thu nhập: Các ngành nghề đang công tác, thu nhập,
mức độ khó khăn/ổn định trong công việc hiện tại
Về sự hỗ trợ của các cấp chính quyền địa phương: Cơ chế đền bù, giải
tỏa, chính sách hỗ trợ ổn định đời sống người dân
Trang 26CHƯƠNG 3: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Chương 3 đề cập đến phương pháp nghiên cứu gồm: thiết kế nghiên cứu, thiết kế bảng hỏi, cách thức chọn mẫu, phương pháp nhập dữ liệu
3.1 Quy trình nghiên cứu:
Hình 3.1: Quy trình nghiên cứu
Bước 1: Xác định các vấn đề cần nghiên cứu dựa trên thực trạng sinh kế: + Các nguồn vốn sinh kế
+ Chính sách hỗ trợ của chính quyền
Xác định vấn đề, mục tiêu nghiên cứu
Cơ sở lý thuyết và các nghiên cứu có liên quan
Thiết kế bảng câu hỏi
Xác định địa điểm nghiên cứu
Thu thập dự liệu
Phân tích dữ liệu
Kết luận nghiên cứu
Trang 27Bước 2: Xác định địa điểm, dựa trên cơ sở lý thuyết và các nghiên cứu có liên quan, kết hợp với xác định vấn đề để thiết kế bảng hỏi
Bước 3: Thu thập dữ liệu dựa trên dữ liệu sơ cấp và dữ liệu thứ cấp
+ Dữ liệu sơ cấp: phỏng vấn chuyên gia đối với cán bộ nhà nước và phỏng vấn sâu các hộ gia đình
+ Dữ liệu thứ cấp: thu thập số liệu thứ cấp của địa phương về chính sách hỗ trợ, số liệu khảo sát thống kê hộ gia đình
Bước 4: Chỉnh sửa lại phiếu điều tra, tiến hành khảo sát các hộ gia đình, phân tích dữ liệu và viết báo cáo
3.2 Lựa chọn địa điểm nghiên cứu:
Việc thu thập dữ liệu khảo sát phục vụ cho việc phân tích được tác giả tiến hành lấy ý kiến từ các hộ gia đình hiện đang tái định cư tại khu tái định cư Mỹ Xuân, huyện Tân Thành, tỉnh BR-VT
Quy mô gồm 124 hộ, trong đó 100 hộ thuộc diện tái định cư từ dự án đường 991B thuộc xã Tân Hòa, huyện Tân Thành
3.3 Dữ liệu nghiên cứu
3.3.1 Dữ liệu thứ cấp
Đây là những thông tin dữ liệu được thu thập từ các nguồn sách báo, trang web, các báo cáo tổng kết có sẵn của UBND xã, Ban Quản lý dự án đường 991B
Cụ thể như sau:
- Nghiên cứu các văn bản của Nhà nước về chính sách bồi thường tái định
cư, báo cáo của các cơ quan liên quan đến công tác bồi thường tái định cư thực hiện
dự án đường 991B
- Thu thập thông tin từ các báo cáo, số liệu, tài liệu hiện trạng sử dụng đất, các quyết định thu hồi đất của tỉnh BR-VT đối với xã Tân Hòa, Ban Quản lý dự án (QLDA) huyện Tân Thành để có được thông tin về vùng nghiên cứu
- Thu thập những văn bản có liên quan đến chính sách thu hồi đất, bồi thường, hỗ trợ, cho người dân có đất nông nghiệp bị thu hồi
- Thu thập các chính sách giải quyết công ăn việc làm cho người có đất nông
Trang 28nghiệp bị thu hồi từ cơ quan Nhà nước
3.3.2 Dữ liệu sơ cấp
Thông qua phiếu khảo sát điều tra để thu thập thông tin để tìm hiểu sự thay đổi sinh kế người dân, thiết kế bảng hỏi điều tra và tiến hành khảo sát thu thập dữ liệu Đồng thời phỏng vấn sâu một số chuyên gia trong lĩnh vực đền bù, giải tỏa Mỗi cuộc ghi âm khoảng 20-25 phút
3.4 Bảng khảo sát
Bảng khảo sát gồm 5 phần chính:
- Phần I: Giới thiệu mục đích nghiên cứu, thông tin cơ bản về người được khảo sát như: Họ tên, giới tính, độ tuổi, học vấn, số nhân khẩu, số lao động, tình trạng hôn nhân
- Phần II: Các câu hỏi liên quan đến tài sản sinh kế của các hộ gia đình: Tài sản vật chất, tài sản tự nhiên, tài sản tài chính, vốn xã hội
- Phần III: Các câu hỏi liên quan đến chiến lược sinh kế của các hộ gia đình
- Phần IV: Các vấn đề liên quan đến sự hỗ trợ của các cấp chính quyền địa phương
- Phần V: Đề xuất ý kiến về mong muốn của các hộ gia đình
3.5 Mẫu nghiên cứu
Tác giả tiến hành các bước phỏng vấn nhóm, phỏng vấn sâu và điều tra cụ thể tại địa bàn nghiên cứu trong quá trình chọn mẫu
Tổng số hộ gia đình thuộc diện tái định cư từ dự án đường 991B là 100 hộ nhưng do quá trình điều tra sơ bộ tác giả nhận thấy những khó khăn mà người dân gặp phải là như nhau Do đó, tác giả tiến hành lập danh sách 40 hộ và khảo sát điều tra thu thập thông tin của 40 hộ này
3.6 Các bước thu thập thông tin nghiên cứu
Trên cơ sở danh sách 40 hộ dân tái định cư bởi dự án đường 991B và các chuyên gia về lĩnh vực quản lý công, hoạch định chính sách tác giả đã triển khai công tác thu thập thông tin như sau:
Trang 29Thứ nhất: Tác giả thiết kế bảng câu hỏi sau khi hình thành khung phân tích
nghiên cứu sinh kế của các hộ dân tái định cư dự án đường 991B
Thứ hai: Thông qua UBND xã Tân Hòa, Ban QLDA huyện Tân Thành, tác
giả gửi bảng hỏi cho các hộ dân tái định cư, phỏng vấn trực tiếp
Thứ ba: Nhận lại các phiếu hỏi, kiểm tra; trong trường hợp chưa rõ ràng về
kết quả trả lời, tác giả tiến hành gặp trực tiếp đối tượng khảo sát để xin ý kiến
3.7 Phương pháp phân tích số liệu
Xử lý số liệu bằng phần mềm Excel
3.7.1 Phương pháp thống kê mô tả
Để mô tả những đặc tính cơ bản của dữ liệu thu thập được qua các cách thức khác nhau nhằm cung cấp những tóm tắt đơn giản về mẫu và các thước đo thông qua biểu diễn dữ liệu bằng đồ thị mô tả giúp so sánh dữ liệu, biểu diễn dữ liệu thành các bảng số liệu tóm tắt, thống kê tóm tắt
3.7.2 Phương pháp so sánh
Để thấy rõ được sự khác biệt về đời sống và sinh kế của hộ dân giữa các thời điểm hoặc giữa các nhóm hộ dân tái định cư Đối với nghiên cứu này, tác giả chọn phương pháp so sánh trước – sau, so sánh giữa các mục tiêu nghiên cứu nhằm xác định sự thay đổi về: Đời sống của các hộ dân trước và sau khi bị thu hồi đất; lao động làm nông nghiệp trước và sau khi bị thu hồi đất; môi trường sống, văn hoá, phong tục tập quán trước và sau khi bị thu hồi đất; lao động tham gia vào các ngành, nghề trước và sau khi bị thu hồi đất; đánh giá tình hình công việc và thu nhập của các hộ gia đình sau khi tái định cư
Trang 30CHƯƠNG 4: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 4.1 Chính sách thu hồi đất, đền bù, giải tỏa, tái định cư của chính quyền địa phương áp dụng cho dự án nghiên cứu:
- Chủ đầu tư: Sở Giao thông Vận tải tỉnh BR – VT
- Nguồn kinh phí phục vụ phương án: do Ban QLDA đường liên cảng Cái Mép – Thị Vải chi trả
- Vị trí địa lý: Tân Thành là một huyện tại tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu, nằm dọc theo quốc lộ 51 và sông Thị Vải Huyện Tân Thành thuộc tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu được thành lập năm 1994 Trung tâm hành chính của huyện đặt tại thị trấn Phú Mỹ
- Địa lý:
+ Đông giáp huyện Châu Đức;
+ Tây giáp huyện Cần Giờ, TP HCM và vịnh Gành Rái;
+ Nam giáp thành phố Vũng Tàu và thành phố Bà Rịa;
+ Bắc giáp huyện Long Thành, tỉnh Đồng Nai
- Khí hậu thời tiết: Tân Thành có khí hậu nhiệt đới gió mùa, có 2 mùa rõ rệt: + Mùa khô: Có nền nhiệt độ cao và hầu như không thay đổi trong năm Mùa khô kéo dài từ tháng 12 đến tháng 4 sang năm
+ Mùa mưa: Bắt đầu từ tháng 5 đến tháng 11 lượng mưa phân bố đều trong các tháng (trừ tháng 11), còn các tháng lượng mưa không chênh lệch nhau nhiều lắm Lượng mưa trung bình: 1.356,5mm
Trang 31Nguyên tắc bồi thường của phương án về đất: là phương án bồi thường về đất bằng tiền có xem xét hỗ trợ giao đất tái định cư cho các hộ gia đình, cá nhân bị thu hồi hết nhà ở, đất ở, không phải là phương án hoán đổi đất
Tình hình sử dụng đất: Tổng diện tích đất thu hồi là 305.192,1 m2 Trong đó: + Xã Tân Hòa: 144.327,4 m2, trong đó đất giao thông, thủy lợi do nhà nước quản lý: 12.170,4m2, đất rừng phòng hộ quản lý: 20.595,0 m2, đất ở: 7.986,2 m2, đất nông nghiệp: 103.575,8m2
+ Xã Phước Hòa: 160.864,7 m2, trong đó đất giao thông thủy lợi 52.053,3
m2, đất rừng phòng hộ quản lý 108.811,4 m2
Hiện trạng mặt bằng thu hồi đất: Gồm đất ở, đất nuôi trồng thủy sản, đất chuyên dùng, đất an ninh quốc phòng, đất giao thông, đất thủy lợi, đất hoang, đất sông suối đất mặt nước biển
4.1.2 Sự cần thiết và mục tiêu đầu tư dự án:
Việc đầu tư tuyến đường 991B sẽ giải quyết được rất nhiều vấn đề bức bách
về cơ sở hạ tầng ngoài hàng rào khu công nghiệp phục vụ cho sự phát triển, ngoài ra việc đầu tư tuyến đường còn góp phần giải quyết các vấn đề sau:
- Toàn bộ hệ thống cảng dọc trên sông Thị Vải – Cái Mép là những cảng rất lớn
có thể đón những tàu tải trọng lên tới 100.000 tấn đang được các nhà đầu tư khẩn trương xây dựng để tạo ra cơ hội kinh doanh cho các nhà đầu tư tại khu vực cuối tuyến như cảng Container quốc tế SP-SSA, cảng Container quốc tế Cái Mép, cảng Cái Mép Thượng…
- Khu công nghiệp (KCN) Logistics của tỉnh hiện tại đã được quy hoạch nhưng chưa triển khai được do điều kiện hạ tầng xung quanh chưa được xây dựng
- Các KCN và các cảng nội địa hai bên tuyến khu vực sông Mỏ Nhát, Rạch Ông như: KCN Cái Mép (670ha), KCN Phú Mỹ III (942ha)…đang trong giai đoạn chuẩn bị đầu tư nhưng do điều kiện khu vực hiện hữu là khu sú vẹt lầy lội không có đường giao thông nên không thể triển khai xây dựng được
- Toàn bộ hệ thống cảng dọc theo sông Thị Vải với khối lượng xếp dỡ với công suất dự kiến đến năm 2020 có thể lên tới 208 triệu tấn/ năm, sau này sẽ được
Trang 32vận chuyển dọc theo đường Liên cảng, và tùy thuộc vào các vị trí đường ngang để giải tỏa bớt, hiện tại khu vực chỉ có tuyến đường ĐT965 là tuyến đường chính nối
từ QL51 vào các cảng hiện tại đã được đầu tư xây dựng bằng nguồn vốn ODA của Nhật, nhưng nếu chỉ có một tuyến đường này cũng không thể đáp ứng được nhu cầu vận chuyển hàng hóa trong khu vực
- Tuyến đường được đầu tư xây dựng ngoài các KCN hai bên tuyến, các cảng đường thủy nội địa ra thì toàn bộ hàng hóa của hệ thống cảng thuộc hạ lưu sông Cái Mép sẽ được vận chuyển nhanh chóng ra phía QL51 và tương lai ra đường cao tốc Biên Hòa – Vũng Tàu để đi theo hướng các tỉnh miền Trung và miền Bắc
4.1.3 Các chính sách về bồi thường và chuyển đổi việc làm cho các hộ dân bị thu hồi đất:
4.1.3.1 Các quy định pháp luật:
- Luật đất đai ngày 29/11/2013;
- Nghị định 43/2014/NĐ-CP ngày 15/5/2014 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số Điều luật Đất đai;
- Nghị định số 47/2014/NĐ-CP ngày 15/5/2014 của Chính phủ quy định về bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất
- Quyết định 52/2014/QĐ-UBND ngày 31/10/2014 của UBND tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu (BR-VT) về bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất trên địa bàn tỉnh BR – VT;
- Quyết định 52/2014/QĐ-UBND ngày 31/10/2014 của UBND tỉnh BR-VT
về cấp nhà, hạng nhà, giá nhà, giá vật kiến trúc khi Nhà nước thu hồi đất trên địa bàn tỉnh BR – VT;
- Quyết định 63/2015/QĐ-TTg của Chính phủ về Chính sách hỗ trợ đào tạo nghề và giải quyết việc làm cho người lao động bị thu hồi đất;
- Quyết định số 3178/QĐ-UBND Về việc sửa đổi bổ sung Quyết định số 3576/QĐ-UBND ngày 31/12/2010 của Ủy ban nhân dân (UBND) tỉnh phê duyệt “
Đề án đào tạo nghề cho lao động nông thôn đến năm 2020”
Trang 33- Quyết định số 65/2014/QĐ-UBND ngày 19/12/2014 của UBND tỉnh
BR-VT về việc Ban hành quy định Bảng giá các loại đất định kỳ 05 năm 31/12/2019) trên địa bàn tỉnh BR – VT;
(01/01/2015 Quyết định số 66/2014/QĐ(01/01/2015 UBND ngày 31/12/2014 của UBND tỉnh BR(01/01/2015
BR-VT về việc quy định giá bồi thường, hỗ trợ cây trồng, vật nuôi, diêm nghiệp khi Nhà nước thu hồi đất trên địa bàn tỉnh BR-VT;
- Kế hoạch số 3253/KH-UBND ngày 29/10/2015 của UBND huyện Tân Thành về việc thu hồi đất cá nhân, điều tra, khảo sát, đo đạc kiểm đếm để thực hiện
dự án: Đường 991B từ Quốc lộ 51 đến hạ lưu cảng Cái Mép, khu vực xã Tân Hòa,
xã Phước Hòa, huyện Tân Thành
- Quyết định số 5452/QĐ-UBND ngày 03/11/2015 của UBND huyện Tân Thành về việc phê duyệt phương án tổng thể về bồi thường, hỗ trợ và tái định cư để thu hồi đất thực hiện đầu tư dự án: Đường 991B từ Quốc lộ 51 đến hạ lưu cảng Cái Mép, khu vực xã Tân Hòa, xã Phước Hòa, huyện Tân Thành
4.1.3.2 Các chính sách đền bù được thực hiện như sau:
a/ Bồi thường về đất:
Theo bảng giá các loại đất do UBND tỉnh quy định tại Quyết định số 65/2014/QĐ-UBND ngày 19/12/2014 với số tiền là 13.678.946.400 đồng, tính trên 305,192.1 m2; trong đó xã Tân Hòa 144,327.4 m2, xã Phước Hòa 160,864.7 m2
Đơn giá đền bù phụ thuộc vào từng khu vực vị trí khu đất, đất nông nghiệp khu vực 3- vị trí 2 thì mức đền bù là 35.000 đ/m2, cao nhất là khu vực 1-vị trí 1 với đơn giá 1.500.000 đ/m2), so với giá đất khảo sát thực tế thì thấp hơn khoảng 33.500 đ/m2
b/ Mức bồi thường, hỗ trợ nhà, vật kiến trúc trên đất:
Trên diện tích đất thu hồi giải tỏa một số nhà cấp 4A1, 4A2, 4A3,4A4, hàng rào… Bồi thường, hỗ trợ nhà,vật kiến trúc do UBND tỉnh quy định tại quyết định số 53/2014/QĐ-UBND ngày 31/10/2014 với số tiền là 11.236.290.760 đồng
c/ Bồi thường hỗ trợ hoa màu, cây trái:
Theo bảng giá do UBND tỉnh quy định tại quyết định số 66/2014/QĐ-UBND ngày 31/12/2014 với số tiền là 3.536.742.700 đồng