Mặt hàng thủ công mỹ nghệ của Việt Nam đã có mặt trên 120 nước trên thế giới, tuy nhiên, hiện đang gặp những khó khăn không nhỏ trong vấn đề sản xuất và đẩy mạnh lượng hàng xuất khẩu tr
Trang 1
LUẬN VĂN:
Một số giải pháp thúc đẩy xuất khẩu hàng thủ công mỹ nghệ tại công ty Artexport Việt Nam trong giai đoạn hậu khủng hoảng kinh tế thế giới
Trang 2
LỜI MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Trong xu thế toàn cầu hóa đang diễn ra mạnh mẽ, những mối quan hệ kinh tế ngày càng được mở rộng, việc hội nhập vào kinh tế khu vực và thể giới để phát triển là nhu cầu tất yếu khách quan của mỗi quốc gia Việt Nam không thể đứng ngoài luồng xoáy của sự vận động kinh tế thế giới đang diễn ra từng ngày, từng giờ này Bước sang thế kỉ 21, Việt nam đang đứng trước rất nhiều thời cơ cũng như thách thức đối với quá trình phát triển nền kinh tế của mình
Với mục tiêu đẩy mạnh quá trình công nghiệp hoá - hiện đại hoá đất nước hướng về xuất khẩu trong giai đoạn hiện nay thì việc tận dụng nguồn nguyên liệu sẵn có trong nước để phát triển những mặt hàng xuất khẩu là vấn đề hết sức cần thiết Trong chiến lược này, Đảng và Nhà nước ta đã xác định thủ công mỹ nghệ là một trong những mặt hàng xuất khẩu chiến lược, có khả năng tăng trưởng cao, không chỉ mang lại lợi ích kinh tế thiết thực mà còn có ý nghĩa chính trị xã hội rộng lớn
Chính sách mở cửa nền kinh tế đã và đang mở ra nhiều cơ hội cho ngành xuất khẩu thủ công mỹ nghệ của Việt Nam Mặt hàng thủ công mỹ nghệ của Việt Nam đã
có mặt trên 120 nước trên thế giới, tuy nhiên, hiện đang gặp những khó khăn không nhỏ trong vấn đề sản xuất và đẩy mạnh lượng hàng xuất khẩu trong giai đoạn khủng hoảng kinh tế thế giới hiện nay
Xuất phát từ thực tại trên, trong quá trình thực tập tại công ty Artexport, qua
việc tìm hiểu và thu thập thông tin, em đã quyết định chọn đề tài: “Một số giải pháp
thúc đẩy xuất khẩu hàng thủ công mỹ nghệ tại công ty Artexport Việt Nam trong giai đoạn hậu khủng hoảng kinh tế thế giới” làm đề tài cho chuyên đề thực tập tốt
nghiệp của mình
2 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
- Phân tích và đánh giá thực trạng xuất khẩu hàng thủ công mỹ nghệ của Công
Trang 3
ty Artexport sang các thị trường nước ngoài Từ đó, rút ra những thành tựu Công ty
đã đạt được trong hoạt động xuất khẩu thủ công mỹ nghệ của mình, cũng như những tồn tại và những nguyên nhân của những tồn tại đó
- Trên cơ sở dự báo về tình hình thị trường xuất khẩu thủ công mỹ nghệ, phân tích những cơ hội và thách thức đối với công ty Artexport khi xuất khẩu hàng thủ công mỹ nghệ sang thị trường nước ngoài Từ đó, đề xuất các giải pháp cho Công
ty và các kiến nghị đối với nhà nước nhằm đẩy mạnh xuất khẩu hàng thủ công mỹ nghệ của Công ty trong thời gian tới
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu: Hoạt động xuất khẩu hàng thủ công mỹ nghệ của Công ty Artexport
Phạm vi nghiên cứu:
- Về mặt hàng: tất cả các mặt hàng thủ công mỹ nghệ xuất khẩu của Công ty Artexport
- Về thời gian: từ năm 2006 đến năm 2009
4 Phương pháp nghiên cứu
Bài viết sử dụng phương pháp duy vật lịch sử biện chứng và phương pháp phân tích tổng hợp
5 Kết cấu của chuyên đề thực tập
Ngoài danh mục chữ viết tắt, danh mục bảng biểu hình vẽ, lời mở đầu, kết luận
và danh mục tài liệu tham khảo, bài viết được kết cấu gồm 2 chương như sau:
Chương 1 – Thực trạng xuất khẩu hàng thủ công mỹ nghệ của Công ty Artexport trong thời gian qua
Chương 2 – Một số giải pháp thúc đẩy xuất khẩu hàng thủ công mỹ nghệ tại
Trang 4
Công ty Artexport trong giai đoạn hậu khủng hoảng kinh tế thế giới
Chương 1 THỰC TRẠNG XUẤT KHẨU HÀNG THỦ CÔNG MỸ NGHỆ
CỦA CÔNG TY ARTEXPORT TRONG THỜI GIAN QUA
1.1 MỘT VÀI NÉT KHÁI QUÁT VỀ CÔNG TY ARTEXPORT
1.1.1 Quá trình hình thành và phát triển của Công ty
Tên Công ty: CÔNG TY CỔ PHẦN XUẤT NHẬP KHẨU THỦ CÔNG
MỸ NGHỆ
Tên tiếng Anh: HANDICRAFT AND ART ARTICLES EXPORT IMPORT JOINT STOCK COMPANY
Tên viết tắt: ARTEXPORT VIETNAM
Địa chỉ: 2A Phạm Sư Mạnh - Quận Hoàn Kiếm - Hà Nội - Việt Nam
Trang 5
được thành lập theo quyết định số 617/BNgT-TCCB ngày 23/12/1964 của Bộ Ngoại
thương (nay là bộ Công thương) với tên gọi là: Tổng Công ty xuất nhập khẩu thủ công mỹ nghệ Cơ sở vật chất ban đầu còn rất nghèo nàn, cán bộ quản lý kiêm
nghiệp vụ chỉ có 36 Chỉ sau một năm thành lập Công ty đã có kim ngạch xuất khẩu hàng thủ công mỹ nghệ đạt 600.000 rúp đôla Năm 1968, kim ngạch XK của Artexport lên đến 6 triệu rúp đôla, tăng 10 lần chỉ sau 4 năm thành lập Năm 1975, kim ngạch xuất khẩu đạt tới 30 triệu rúp đôla, đồng thời số lao động làng nghề phục
vụ sản xuất và làm hàng xuất khẩu cho Artexport đã tăng từ 2 vạn lên 20 vạn người Ngoài thị trường xuất khẩu chủ yếu là Liên Xô và các nước XHCN, Artexport còn tiếp cận được với một số thị trường TBCN như Nhật Bản, Hồng Kông, Singapore, Pháp, Ý, Tây Đức
1.1.1.2 Giai đoạn 1976 – 1991
Đây là thời kỳ hòa bình thống nhất đất nước nhưng cũng là giai đoạn Công ty chủ yếu xuất khẩu trả nợ và xuất khẩu theo đơn hàng đã ký theo Nghị Định Thư hàng năm giữa các nước xã hội chủ nghĩa Tổng Công ty đã hướng dẫn tay nghề làm hàng thủ công mỹ nghệ và đưa công ăn việc làm đến với người dân ở những vùng mới giải phóng, đồng thời giữ vững an ninh chính trị và trật tự an toàn xã hội Năm 1976, Tổng Công ty XNK thủ công mỹ nghệ đặt chi nhánh tại TP Hồ Chí Minh và Đà Nẵng Năm 1988, Công ty đã khắc phục mọi khó khăn sau khi đất nước thực hiện công cuộc đổi mới, từng bước đáp ứng được các đòi hỏi của thị trường thế giới, do vậy kim ngạch xuất khẩu lên tới 98 triệu rúp đôla, chiếm tỉ trọng cao nhất trong toàn ngành (toàn ngành Thương mại thời điểm này chỉ đạt 800 triệu rúp đôla) Đây là giai đoạn phát triển cao của Công ty, đã sử dụng một lực lượng lao động lên đến 40 vạn người ở khắp các miền đất nước Cán bộ của Công ty được cử đi làm đại diện thương mại ở nhiều nước trên thế giới và đã hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ là đầu mối xuất nhập khẩu hàng hóa của Việt Nam ở nước ngoài Năm 1991, sự sụp
đổ của Liên xô và hệ thống chính trị ở các nước Đông Âu đã khiến Công ty mất tới 85% thị trường xuất khẩu hàng hóa của mình Gánh nặng về các khoản nợ khó đòi
từ phía bạn cùng khoản vốn ứ đọng bởi lượng lớn hàng tồn ở các địa phương làm
Trang 6
cho Công ty vô cùng điêu đứng
1.1.1.3 Giai đoạn 1991 – nay
Giai đoạn này, công tác xúc tiến thương mại được Công ty đẩy mạnh hơn bao giờ hết Công ty cử nhiều đoàn tham gia các hội chợ, triển lãm, thông qua thương vụ, Việt kiều, đoàn ngoại giao ở các nước để tìm kiếm thị trường Chủ trương của Công ty là hướng cho các phòng nghiệp vụ đẩy mạnh xuất khẩu trực tiếp, tranh thủ làm ủy thác và coi trọng công tác nhập nhẩu Từ năm 1991 đến năm
1998, kim ngạch bình quân mỗi năm đạt khoảng 15 triệu USD, tuy mức độ chưa cao nhưng mức thực hiện có chiều hướng tăng dần và điều quan trọng, qua những giai đoạn khó khăn đó, Công ty đã tìm được cho mình hướng phát triển đầy triển vọng vào những năm tiếp theo Đây cũng là giai đoạn Công ty phải đối mặt với rất nhiều thách thức của kinh tế thị trường đang có bước chuyển đổi mạnh mẽ: từ thế độc quyền chuyển hẳn sang cạnh tranh bình đẳng với nhiều thành phần kinh tế khác trong tổ chức sản xuất kinh doanh xuất nhập khẩu hàng thủ công mỹ nghệ, cuộc khủng hoảng tài chính khu vực châu Á 1997, suy thoái kinh tế thế giới năm 2001 sau sự kiện ngày 11/9…Từ năm 2005 đến nay, Công ty chuyển sang hoạt động theo
mô hình cổ phần hóa Trên cơ sở những thành quả đã đạt được trong 40 năm xây dựng, Công ty ngày một tự chủ hơn trong sản xuất kinh doanh, chủ động kết hợp xuất nhập khẩu với khai thác các bất động sản có sẵn, tạo thêm ngành nghề mới và công ăn việc làm cho người lao động, tăng doanh thu và lợi nhuận cho Công ty
1.1.2 Nhiệm vụ và quyền hạn của Công ty
1.1.2.1 Nhiệm vụ
Căn cứ vào nghị định NĐ/HĐBTG ngày 9/1/1990 của Hội đồng bộ trưởng (nay là Chính phủ), ngày 8/6/1993 Bộ trưởng Bộ Thương mại đã quyết định nhiệm
vụ của Công ty Artexport Vietnam như sau:
Xây dựng và tổ chức thực hiện các kế hoạch kinh doanh nhằm thực hiện được mục đích của Công ty:
Trang 7 Tuân thủ pháp luật của Nhà nước về quản lý kinh tế, tài chính, quản lý xuất nhập khẩu và giao dịch đối ngoại, nghiêm chỉnh thực hiện các cam kết trong hợp đồng mua bán ngoại thương và hợp đồng kinh tế có liên quan đến việc sản xuất kinh doanh của Công ty
Quản lý và sử dụng có hiệu quả các nguồn vốn, đồng thời tự tạo ra các nguồn vốn cho sản xuất kinh doanh, đầu tư mở rộng sản xuất, đổi mới trang thiết bị, tự
bù đắp các chi phí, tự cân đối giữa xuất khẩu và nhập khẩu, đảm bảo thực hiện kinh doanh có lãi, làm tròn nghĩa vụ nộp ngân sách cho Nhà nước
Nghiên cứu và thực hiện có hiệu quả các biện pháp nâng cao chất lượng các mặt hàng do Công ty sản xuất kinh doanh nhằm tăng sức cạnh tranh và mở rộng thị trường tiêu thụ
1.1.2.2 Quyền hạn
Được chủ động đàm phán, ký kết và thực hiện các hợp đồng mua bán ngoại thương, hợp đồng kinh tế trong nước, hợp đồng hợp tác liên doanh liên kết đã ký kết với khách hàng trong và ngoài nước thuộc nội dung hoạt động của Công ty
Được vay vốn ở trong nước và ngoài nước nhằm phục vụ cho hoạt động sản xuất kinh doanh của Công ty theo đúng pháp luật hiện hành của Nhà nước
Trang 8
Được liên doanh, liên kết, hợp tác sản xuất với các tổ chức kinh tế và cá nhân,
kể cả các đơn vị khoa học kỹ thuật trong và ngoài nước để đầu tư khai thác nguyên liệu sản xuất, gia công, huấn luyện tay nghề trên cơ sở tự nguyện
Được mở các cửa hàng trong và ngoài nước khi Bộ thương mại cho phép, được giới thiệu hàng mẫu hoặc bán các sản phẩm do Công ty sản xuất hoặc do liên doanh liên kết mà có và được tham dự hội chợ triển lãm, quảng cáo về hàng hoá của Công ty ở trong và ngoài nước theo quy định hiện hành
Được lập đại diện chi nhánh của Nhà nước, được tham dự các hội nghị, thảo luận có liên quan đến sản xuất kinh doanh của Công ty trong và ngoài nước, được cử cán bộ, công nhân viên của Công ty đi công tác ở nước ngoài ngắn hạn hoặc dài hạn hoặc mời bên nước ngoài vào Việt Nam làm việc theo quy chế của Nhà nước và Bộ Thương mại
1.1.3 Cơ cấu tổ chức kinh doanh và tổ chức bộ máy quản trị
Cơ cấu tổ chức bộ máy của Artexport được chia thành 2 khối: Khối các đơn
vị quản lý và Khối các đơn vị kinh doanh
Đại hội cổ đồng cổ đông: gồm tất cả các cổ đông có quyền biểu quyết, là cơ quan có thẩm quyền cao nhất trong Công ty, quyết định những vấn đề được Luật pháp và điều lệ Công ty quy định
Hội đồng quản trị: là cơ quan quản lý Công ty, có toàn quyền nhân danh Công ty
để quyết định mọi vấn đề liên quan đến mục đích, quyền lợi của Công ty, trừ những vấn đề thuộc thẩm quyền của Đại hội đồng cổ đông
Ban kiểm soát: là cơ quan trực thuộc Đại hội đồng cổ đông, do Đại hội đồng cổ đông bầu ra, có nhiệm vụ kiểm tra tính hợp lý, hợp pháp trong điều hành hoạt động kinh doanh, báo cáo tài chính của Công ty Ban kiểm soát hoạt động độc lập với Hội đồng quản trị và Ban giám đốc
Ban giám đốc: Giám đốc là người điều hành và quyết định cao nhất về tất cả các
Trang 9
vấn đề liên quan đến hoạt động hàng ngày của Công ty và chịu trách nhiệm trước Hội đồng quản trị về việc thực hiện các quyền và nhiệm vụ được giao Hai phó giám đốc là Phó giám đốc phụ trách tài chính và Phó giám đốc phụ trách nghiệp vụ, ngoài việc thực hiện chuyên môn của mình còn phải giúp Giám đốc trong chỉ đạo hoạt động của Công ty và đại diện cho Công ty khi Giám đốc vắng mặt
Khối quản lý:
Phòng Tài chính kế hoạch: có chức năng trong việc lập kế hoạch sử dụng
và quản lý nguồn tài chính của Công ty, phân tích các hoạt động kinh tế,
tổ chức công tác hạch toán kế toán theo đúng chế độ hạch toán thống kê
và chế độ quản lý tài chính của Nhà nước, định kỳ báo cáo Ban Giám đốc các thông tin về việc thực hiện các hợp đồng kinh tế lớn, lưu giữ hồ sơ chứng từ, sổ sách liên quan đến tài chính, kế toán, kế hoạch
Phòng Tổ chức hành chính: có chức năng xây dựng phương án kiện toàn
bộ máy tổ chức trong Công ty, quản lý nhân sự, thực hiện công tác hành chính quản trị
Khối kinh doanh: Các phòng xuất nhập khẩu được chia làm hai loại: loại đánh
số và loại không đánh số Sở dĩ như vậy vì trước kia mỗi phòng sẽ phụ trách xuất nhập khẩu một mặt hàng như cói, mỹ nghệ, thêu, gốm…nhưng từ khi cổ phần hoá – hạch toán kinh doanh độc lập, các phòng tự tìm kiếm đơn hàng với phương châm kinh doanh “Nếu 2 tháng liên tục kinh doanh thua lỗ thì phòng đó
sẽ tự giải thể.” Vì thế mà hiện giờ chỉ còn 4 phòng xuất nhập khẩu chính
Xưởng sản xuất:
Xưởng thêu (trực thuộc Phòng thêu): có bộ phận thêu mẫu sáng tác và thể hiện mẫu phụ vụ chung cho toàn Công ty, tính toán và xác định giá phù hợp giúp các đơn vị trong Công ty đàm phán với khách hàng nước ngoài
Xưởng gỗ Đông Mỹ(trực thuộc Phòng mỹ nghệ): có bộ phận sản xuất
Trang 10 Các chi nhánh và văn phòng đại diện
Chi nhánh tại Hải Phòng (25 Đà Nẵng)
Văn phòng đại diện tại Đà Nẵng (102 Nữ Vương)
Chi nhánh tại TP Hồ Chí Minh (31 Trần Quốc Thảo)
Mô hình cơ cấu tổ chức quản lý của Công ty được thể hiện qua sơ đồ sau:
Trang 11
Hình 1.1 – Mô hình cơ cấu tổ chức quản lý của Công ty
Đại hội cổ đông
- Phòng mỹ nghệ
Khối liên doanh
- Công ty TNHH FABI – tỉnh Hà Nam
Chi nhánh
- Chi nhánh Hải Phòng
- Văn phòng đại diện Đà Nẵng
- Xưởng gỗ Đông
Mỹ
Trang 12
1.1.4 Các lĩnh vực kinh doanh
Kinh doanh xuất nhập khẩu (trực tiếp, uỷ thác) hàng thủ công mỹ nghệ, nguyên vật liệu, vật tư, máy móc, thiết bị các loại (thi công xây dựng, ngành điện, văn phòng, trang thiết bị y tế), vật liệu xây dựng, nội thất, hoá chất (trừ hoá chất Nhà nước cấm), hàng tiêu dùng, hàng nông, lâm, hải sản, khoáng sản, hàng công nghệ phẩm, dệt may, hàng da, sản xuất và gia công chê biến các sản phẩm gỗ
mỹ nghệ, thêu ren, các hàng hoá tiêu dùng
Kinh doanh bất động sản, cho thuê văn phòng và nhà ở, kho bãi, nhà xưởng sản xuất
Kinh doanh dịch vụ đại lý bán hàng hoá cho các nhà sản xuất, thương mại, tổ chức hội chợ, triển lãm thủ công mỹ nghệ ở trong và ngoài nước theo quy định của pháp luật
Kinh doanh phương tiện vận tải
Xuất nhập khẩu các mặt hàng Công ty kinh doanh
1.1.5 Kết quả hoạt động kinh doanh
Từ khi thành lập đến nay, Công ty đã gặp phải rất nhiều khó khăn thử thách Song bằng sự nỗ lực vươn lên, Công ty đã gặt hái được những thành quả nhất định
Kết quả sản xuất kinh doanh của Công ty trong một vài năm qua được thể hiện trong bảng sau:
Trang 13Biểu đồ 1.1 – Tổng doanh thu của Công ty giai đoạn 2006 - 2009
Nhìn chung, trong giai đoạn trước khủng hoảng kinh tế thế giới (năm 2006 – 2007), hoạt động sản xuất kinh doanh của Công ty có sự tăng trưởng nhanh về mặt chất lượng Cụ thể doanh thu của năm 2006 là 583 tỉ đồng, năm 2007 đạt một kỷ lục
về doanh thu là 646 tỉ đồng, tăng 63 tỉ đồng và tăng 11% so với năm 2006 Có thể nói đây là thời kỳ hoạt động mãnh mẽ nhất của Công ty Tuy nhiên sang đến năm
2008, do ảnh hưởng của cuộc khủng hoảng kinh tế thế giới, dẫn đến nhu cầu nhập khẩu của các thị trường lớn như Mỹ, EU và Nhật Bản bị chững lại, khiến cho doanh
Trang 14
thu của Công ty bị suy giảm nặng nề Cụ thể là doanh thu của năm 2008 chỉ là 546
tỉ, thấp hơn cả năm 2006 Và đặc biệt doanh thu của năm 2009, năm suy thoái sâu của nền kinh tế thế giới, chỉ còn ở mức 464 tỉ đồng, thấp hơn rất nhiều so với các năm trong cùng thời kỳ, giảm 28% so với năm doanh thu đạt đỉnh điểm – năm
2007
Đơn vị: Tỉ đồng
Biểu đồ 1.2 – Lợi nhuận của Công ty giai đoạn 2006 - 2009
Tuy nhiên, mức lợi nhuận sau thuế của Công ty không hề tỷ lệ thuận so với mức doanh thu mà Công ty đạt được hàng năm Điều đó có nghĩa là lợi nhuận sau thuế của Công ty chưa chắc sẽ đạt mức cao hơn vào các năm 2006, 2007 khi chưa xảy ra khủng hoảng kinh tế toàn cầu và đạt mức thấp hơn vào các năm 2008, 2009 khi cuộc khủng hoảng kinh tế toàn cầu đã ảnh hưởng tới nền kinh tế nói chung và ngành xuất khẩu của Việt Nam nói riêng Cụ thể, mức lợi nhuận sau thuế đạt mức thấp nhất trong giai đoạn 2006-2009 là năm 2006 với 7,1 tỉ đồng Năm 2007 vẫn là năm có mức lợi nhuận sau thuế cao nhất là 25 tỉ đồng, do năm này có mức doanh thu đạt kỷ lục Năm 2008 và 2009 tuy có sự suy giảm trong tổng doanh thu nhưng mức lợi nhuận sau thuế vẫn tăng so với năm 2006 Năm 2008, mức lợi nhuận sau thuế đạt gần 11 tỉ đồng và năm 2009 đạt 21 tỉ đồng, tăng gần gấp đôi so với năm trước đó
Trang 152008 và 2009 có mức thu nhập bình quân đầu người xấp xỉ 4 triệu đồng, có tăng so với năm 2006 và 2007 Tuy nhiên vào các năm 2008 và 2009, mức lạm phát của nền kinh tế trong nước khá cao (năm 2008 mức lạm phát của Việt Nam xấp xỉ 20%), vì vậy mức thu nhập bình quân đầu người thực tế tăng không đạt được 4 triệu, như vậy là đời sống của cán bộ công nhân viên chưa hề được cải thiện hơn so với các năm trước đó
1.2 PHÂN TÍCH THỰC TRẠNG XUẤT KHẨU HÀNG THỦ CÔNG MỸ NGHỆ CỦA CÔNG TY GIAI ĐOẠN 2006 – 2009
Trang 16
1.2.1 Theo cơ cấu mặt hàng thủ công mỹ nghệ xuất khẩu
Trong chiến lược kinh doanh của mình trong giai đoạn hiện nay, cũng như trong giai đoạn ngay trước đó, Công ty đã luôn xác định cho mình những nhóm hàng mũi nhọn sau: Nhóm hàng thêu ren, dệt may; Nhóm hàng sơn mài, mỹ nghệ,
đồ gỗ; Nhóm hàng cói, mây tre; Nhóm hàng gốm sứ, đất nung Để tìm hiểu rõ cơ cấu tổng kim ngạch xuất khẩu của Công ty theo nhóm hàng, chúng ta sẽ đi phân tích bảng sau:
Bảng 1.2 - KNXK theo cơ cấu nhóm hàng giai đoạn 2006-2009
Trang 17
Nguồn: Artexport
Qua bảng 1.2 và biểu đồ 1.4 dưới đây, ta thấy cơ cấu xuất khẩu theo mặt hàng của Công ty không có nhiều thay đổi lắm trong giai đoạn 2006-2009 này Nhóm hàng thêu ren, dệt may vẫn chiếm tỉ trọng lớn nhất trong kim ngạch xuất khẩu, dao động trong khoảng 30-34% Nhóm hàng sơn mài, mỹ nghệ, đồ gỗ chiếm
tỉ trọng lớn thứ hai trong kim ngạch xuất khẩu, dao động trong khoảng 24-30% Nhóm hàng cói, mây tre và nhóm hàng gốm sứ, đất nung thì có tỉ trọng chiếm khoảng xấp xỉ 10%
Biểu đồ 1.4 – Cơ cấu KNXK theo mặt hàng giai đoạn 2006-2009
1.2.1.1 Hàng thêu ren, dệt may
Theo bảng 1.3 dưới đây thì kim ngạch xuất khẩu thêu ren, dệt may đạt giá trị cao nhất vào năm 2007, đạt hơn 3,9 triệu USD, tăng so với năm 2006 là 10%, tuy nhiên tỉ trọng của mặt hàng này năm 2007 lại thấp hơn so với các năm khác trong cùng giai đoạn Mặc dù năm 2008, 2009, tốc độ tăng trưởng kim ngạch của mặt hàng này thấp hơn hoặc thậm chí không tăng trưởng (năm 2008 tăng 4,56%, năm
2009 giảm 15,36% so với năm 2006) nhưng tỉ trọng của mặt hàng vẫn được duy trì
ở mức cao hơn so với năm 2007 Đặc biệt năm 2008, tổng kim ngạch chỉ đạt 11 triệu USD nhưng riêng kim ngạch hàng thêu ren dệt may đã là 3,7 triệu USD
Bảng 1.3 - KNXK hàng thêu ren, dệt may giai đoạn 2006-2009
Trang 18Tốc độ tăng (%)
Biểu đồ 1.5 - KNXK hàng thêu ren, dệt may giai đoạn 2006-2009
Có thể cho rằng Công ty đã có điều kiện quy tụ đội ngũ lao động và phát triển mặt hàng này nên tỉ trọng kim ngạch của mặt hàng vẫn đang có xu hướng tăng lên Hàng thêu ren với bàn tay khéo léo của các nghệ nhân đã thực hiện được nhiều sản phẩm đặc sắc, đề tài phong phú với nhiều thể loại: nắp bàn, khăn bàn, dép, phủ giường, áo gối, cà vạt, khăn choàng cổ, tranh thêu nổi, thêu phẳng, lụa tơ tằm thêu
1.2.1.2 Hàng sơn mài, mỹ nghệ, đồ gỗ
Trang 19
Nghề sơn mài Việt Nam đã xuất hiện từ trước công nguyên, cùng với Trung Quốc, Nhật Bản, tuy phần kỹ thuật có khác Năm 1932, nhờ một số giáo viên, sinh viên Trường Cao đẳng Mỹ thuật Đông Dương, nghề sơn đã được cải tiến với kỹ thuật đặc biệt, mở đường cho nghệ thuật sơn mài hiện nay Các sản phẩm sơn mài của Công ty khá đa dạng như bàn ghế, bình phong, tủ, tranh, bình, hộp được làm theo nhiều kiểu như cẩn ốc, cẩn trứng, đắp nổi, khắc trũng, vẽ phủ, vẽ vàng Hàng sơn mài của Công ty đã được xuất nhiều qua châu Âu, Bắc Mỹ, Nhật , không chỉ màu đen và marông như trước đây mà nay cải tiến nhiều màu, đáp ứng thị hiếu khách hàng
Hàng gỗ mỹ nghệ với lực lượng nghệ nhân cha truyền con nối, được đào tạo
từ trường lớp và có một số thiết bị vừa được nhập khẩu, Công ty đã cung cấp được nhiều loại hàng: tranh tượng, sofa, bình phong, tủ đẹp, bền chắc với những đường nét chạm công phu, điêu luyện, lôi cuốn sự yêu thích của khách hàng Khả năng có thể xuất khẩu sang các thị trường Đài Loan, Singapore, Nhật, Trung Đông, Pháp, Italia, Tây Ban Nha
Bảng 1.4 - KNXK hàng sơn mài – gỗ mỹ nghệ giai đoạn 2006-2009
Đơn vị: USD
mỹ nghệ
Tỷ trọng (%)
Tốc độ tăng (%)
Qua bảng trên, ta thấy kim ngạch xuất khẩu mặt hàng sơn mài-gỗ mỹ nghệ
Trang 20
đang có xu hướng giảm về giá trị, càng những năm gần đây thì giá trị càng giảm dần Năm 2007 kim ngạch xuất khẩu mặt hàng này giảm 1,57%; năm 2008 giảm 4,09% và năm 2009 giảm 8,61% so với năm 2006
1.2.1.3 Hàng cói, mây tre
Với đặc điểm gọn nhẹ, xinh xắn, dễ thay đổi kiểu dáng, khá bền và giá tương đối rẻ so với đồ gỗ, hàng cói, mây tre đã có bước phát triển khá vững chắc Từ một
số ít mặt hàng bàn ghế theo mẫu từ xa xưa, đơn giản, gần đây những mặt hàng cói, mây tre đã cải tiến, có thêm nhiều kiểu dáng đẹp mắt theo mẫu mã nước ngoài Nguồn nguyên liệu làm hàng này rất phong phú: từ mây tre, trúc, lá buông đến xơ dừa, lục bình, dứa dại dưới bàn tay khéo léo của những người thợ cũng có thể trở thành đôla xuất khẩu Mặt hàng này không đòi hỏi trình độ kỹ thuật cao, lao động tương đối đơn giản Nhiều cơ sở sản xuất của Công ty đã dùng mây tre lá kết hợp với thủy tinh, gốm, gỗ, kim loại để tạo ra nhiều sản phẩm có kiểu dáng đặc biệt, độc đáo, thu hút được sự chú ý của khách nước ngoài
Bảng 1.5 KNXK hàng cói, mây tre giai đoạn 2006-2009
Đơn vị: USD
(%)
Tốc độ tăng (%)
Qua bảng trên, ta thấy, kim ngạch xuất khẩu của mặt hàng mây tre cũng giống như các mặt hàng khác, cũng đạt giá trị cao nhất vào năm 2007 Riêng năm
Trang 21
2007, tốc độ tăng trưởng gần gấp đôi so với năm 2006 – đạt 81,07% Các năm 2008
và 2009 mặc dù tổng kim ngạch xuất khẩu giảm nhưng giá trị kim ngạch vẫn tăng
so với năm 2006, năm 2008 tăng 27,84% so với năm 2006, năm 2009 tăng 17,48%
1.2.1.4 Gốm sứ, đất nung
Mặt hàng gốm sứ của Công ty, nhất là những sản phẩm gốm ngoài vườn làm bằng tay đang rất được ưa chuộng trên thị trường châu Âu, vốn là thị trường tiêu thụ lớn cho mặt hàng này Hơn nữa, trong điều kiện Hiệp định Thương mại Việt-Mỹ đã được phê chuẩn, gốm sứ của Công ty sẽ có cơ hội phát triển tại thị trường Bắc Mỹ Theo các thương nhân nước ngoài, chất lượng gốm sứ Việt Nam không thua kém các cường quốc về gốm sứ khác như Italia, Trung Quốc, Malaysia
Với ưu điểm được làm bằng tay, chủng loại và chất liệu phong phú cho phép người mua hàng có nhiều lựa chọn từ hàng men, không men, đất đỏ Các sản phẩm cũng đa dạng như chậu tròn, oval, vuông, chữ nhật, hình thú, đôn, hũ, bình Điều này giúp khách hàng có một bộ sưu tập đầy đủ trong khi họ chỉ có thể mua hàng đất
đỏ tại Trung Quốc, hàng men dạng tròn tại Malaysia và hàng cao cấp tại Italia Về nguyên liệu sản xuất thì trừ một số hoá chất làm men phải nhập khẩu, chiếm tỷ lệ nhỏ, còn lại là nguyên liệu tại địa phương
Trang 22
(*): Năm cơ sở
Theo bảng 1.6 trên đây, ta thấy năm 2007 tuy là năm có doanh thu xuất khẩu đạt cao nhất, nhưng kim ngạch xuất khẩu mặt hàng gốm sứ, đất nung trong năm này không những không tăng trưởng, thậm chí còn giảm 11% so với năm 2006 Năm
2008, dù tổng doanh thu xuất khẩu thấp hơn năm 2007 nhưng kim ngạch xuất khẩu của mặt hàng này lại tăng so với cả 2 năm trước đó Trong giai đoạn này, kim ngạch xuất khẩu gốm sứ, đất nung cũng đạt giá trị cao nhất vào năm 2008 là 1,3 triệu USD, tăng 23,1% so với năm 2006 Có thể lý giải rằng năm 2008, mặt hàng gốm sứ, đất nung của Công ty đã thâm nhập được một số thị trường mới tiềm năng như Bắc
Mỹ Năm 2009 do suy thoái sâu nên các đơn đặt hàng cho mặt hàng gốm sứ, đất nung giảm mạnh, giá trị xuất khẩu năm 2009 chỉ còn 816.575 USD, giảm 23,3% so với năm 2006 và giảm tới gần 40% so với năm 2008
1.2.1.5 Các mặt hàng khác
Các mặt hàng xuất khẩu khác không nằm trong các nhóm hàng mũi nhọn nhưng vẫn đóng một vai trò quan trọng trong tổng doanh thu xuất khẩu mà Công ty đem về hàng năm Có thể kể đến các mặt hàng như: hàng nông sản, thực phẩm, rau quả; hàng tôn sắt mỹ nghệ; mùn cưa xay; bột Artesunate; hàng tạp hóa
Tốc độ tăng (%)
Trang 23
(*): Năm cơ sở
Giá trị kim ngạch xuất khẩu của nhóm các mặt hàng khác đem về cho Công
ty cũng giống với hầu hết các mặt hàng mũi nhọn, đều có xu hướng giảm vào 2 năm
2008 và 2009 Và năm 2007 cũng vẫn là năm có doanh thu đem về cao nhất, đạt 3,5 triệu USD, tăng 33,33% so với năm 2006
1.2.2 Theo cơ cấu thị trường xuất khẩu
Thực hiện theo chủ trương “Đa dạng hóa thị trường, đa phương hóa các mối quan hệ kinh tế quốc tế” của Nhà nước, Công ty đã không ngừng tìm kiếm thêm nhiều thị trường mới, nhằm bù đắp cho sự mất mát thị trường khu vực Đông Âu sau
sự sụp đổ của CNXH ở Liên Xô và Đông Âu Công ty Artexport hiện có quan hệ buôn bán với hơn 40 quốc gia và vùng lãnh thổ trên toàn thế giới
Bảng 1.8 - KNXK theo thị trường giai đoạn 2006-2009
Trang 24
trường
khác
Nguồn: Artexport
Biểu đồ 1.6 – Cơ cấu KNXK theo thị trường giai đoạn 2006-2009
Theo bảng 1.8 và biểu đồ 1.6, ta thấy trong giai đoạn hiện nay thì Tây Bắc
Âu vẫn là thị trường xuất khẩu lớn nhất đối với các mặt hàng của Công ty Tỉ trọng kim ngạch xuất khẩu tại thị trường này luôn chiếm trên 40% tổng kim ngạch xuất khẩu, dao động trong khoảng 42 đến 47% Thị trường lớn thứ hai đối với các sản phẩm của Công ty, đó là thị trường Châu Á-Thái Bình Dương, chiếm khoảng 20% tổng kim ngạch xuất khẩu Còn kim ngạch xuất khẩu tại thị trường Đông Âu có xu hướng giảm về mặt giá trị và tỉ trọng thì luôn chiếm dưới 5% trong những năm gần đây, dù trước đây Đông Âu từng là thị trường xuất khẩu quan trọng nhất đối với Công ty Tỉ trọng kim ngạch tại các thị trường khác đang có xu hướng tăng trong các năm tới, thể hiện sự nỗ lực tìm kiếm thị trường mới của Công ty
1.2.2.1 Tây Bắc Âu
Khu vực thị trường Tây Bắc Âu của Công ty bao gồm hầu hết là các nước có nền kinh tế phát triển ổn định, thu nhập bình quân đầu người cao Đây là một thị trường tiềm năng rất lớn đối với Công ty nói riêng và đối với toàn ngành xuất khẩu hàng thủ công mỹ nghệ của Việt Nam nói chung Chỉ khi có thu nhập cao thì người
Trang 25Tốc độ tăng (%)
Đơn vị: USD
Biểu đồ 1.7 - Kim ngạch xuất khẩu sang Tây Bắc Âu giai đoạn 2006-2009
Kim ngạch xuất khẩu tại thị trường Tây Bắc Âu đạt cao nhất vào năm 2007 gần 6 triệu USD Năm 2008 và 2009, xảy ra khủng hoảng kinh tế thế giới, và Tây Bắc Âu là một trong những trung tâm của cơn bão suy thoái, vì vậy số lượng đơn
Trang 26
đặt hàng của thị trường này giảm mạnh Kim ngạch xuất khẩu tại thị trường này, do
đó, đều giảm vào hai năm 2008 và 2009 Năm 2008 kim ngạch xuất khẩu sang Tây Bắc Âu là 4,9 triệu USD, giảm 15% so với năm 2007 Năm 2009 giá trị xuất khẩu sang thị trường này chỉ còn 4,4 triệu USD, giảm 3% so với năm 2008 và giảm 24%
so với năm 2007
1.2.2.2 Châu Á – Thái Bình Dương
Châu Á-Thái Bình Dương cũng là một khu vực thị trường đầy tiềm năng cho các sản phẩm xuất khẩu của Công ty Artexport Trong giai đoạn hiện nay, châu Á-Thái Bình Dương đang là khu vực phát triển năng động nhất của nền kinh tế thế giới Khu vực này bao gồm các nền kinh tế lớn, đang phát triển với tốc độ khá cao như Trung Quốc, Hàn Quốc, Đài Loan…Về điều kiện địa lý, do Việt Nam cũng nằm trong khu vực này nên việc giao thương giữa các doanh nghiệp xuất khẩu của Việt Nam với các nước khác trong khu vực rất thuận tiện, dễ dàng Đây cũng là khu vực có số dân đông nhất thế giới, tuy mức thu nhập bình quân đầu người tuy không cao như khu vực Tây Bắc Âu nhưng đang có xu hướng tăng nhanh dần, nhu cầu tiêu dùng sản phẩm hàng hóa nhờ đó mà cũng tăng lên nhanh chóng Hơn thế nữa, do cùng nằm trong một khu vực, nên Việt Nam và các nước này có khá nhiều nét tương đồng về văn hóa, nhu cầu, hay thị hiếu mua sắm Trong thời gian tới, chắc chắn khu vực thị trường này sẽ trở thành thị trường truyền thống không chỉ đối với các mặt hàng thủ công mỹ nghệ của Công ty Artexport mà còn là thị trường nhắm tới của tất cả các doanh nghiệp xuất khẩu thủ công mỹ nghệ khác của Việt Nam
Bảng 1.10 - KNXK sang châu Á-Thái Bình Dương giai đoạn 2006-2009
Đơn vị: USD
Á-Thái Bình Dương
Tỷ trọng (%)
Tốc độ tăng (%)
Trang 27
Nguồn: Artexport (*): Năm cơ sở
Qua bảng trên, ta thấy kim ngạch xuất khẩu tại thị trường này duy trì được mức ổn định từ năm 2006 đến 2008 Các năm 2007 và 2008 có tăng trưởng so với năm 2006 nhưng chỉ đạt ở mức khoảng 1-2% Năm 2009 là năm mà các nước tại khu vực châu Á-Thái Bình Dương chịu ảnh hưởng nặng hơn của cuộc suy thoái toàn cầu, vì vậy mà doanh thu xuất khẩu đem về cho Công ty tại thị trường này giảm mạnh, chỉ đạt 1,6 triệu USD, giảm 32% so với năm 2006 Có thể kể đến một nguyên nhân khác đã gây sự sụt giảm hoặc tăng trưởng chậm tại thị trường này, đó
là Công ty đã gặp phải sự cạnh tranh quá gay gắt, quyết liệt từ các công ty xuất khẩu thủ công mỹ nghệ khác trong nước, cũng như các công ty đến từ Trung Quốc, Thái Lan, Malaysia với các mặt hàng giá tương đối rẻ, chất lượng lại khá cao
Trong thời gian sắp tới, Công ty Artexport cần đề ra những biện pháp để khai thác tốt hơn nữa thị trường đầy tiềm năng này, đặc biệt là phải giành lấy thị phần tại một số thị trường đã mất từ tay các công ty đối thủ trong và ngoài nước
1.2.2.3 Đông Âu
Đông Âu đã từng là khu vực truyền thống cho hàng thủ công mỹ nghệ của Việt Nam nói chung và của Công ty Artexport nói riêng trong một thời gian khá dài Trong thời gian đó, xuất khẩu của Công ty sang thị trường này chủ yếu theo nghị định thư giữa Việt Nam với các nước trong khu vực Đông Âu Năm 1991, sự sụp đổ của khối CNXH ở Liên Xô và Đông Âu đã dẫn tới tình trạng xuất khẩu sụt giảm trên thị trường này Hiện nay, tuy Công ty vẫn còn thị phần tại thị trường Đông Âu nhưng quá nhỏ và chiếm tỉ trọng quá ít so với các khu vực thị trường khác, cũng như so với tổng kim ngạch xuất khẩu mà Công ty đã đạt được
Bảng 1.11 - KNXK sang Đông Âu giai đoạn 2006-2009
Trang 28Tốc độ tăng (%)
Trong giai đoạn 2006-2009 này, kim ngạch xuất khẩu tại thị trường này đạt thấp nhất vào năm 2006 – 156.260 USD Nguyên nhân có thể là do khi đó Công ty
đã không chú trọng tới thị trường này Sang năm 2007, Công ty đã kịp đề ra chiến lược đúng đắn đối với thị trường Đông Âu vì vậy mà đã tăng được kim ngạch xuất khẩu lên 525.367 USD, tăng gần gấp 3 lần so với năm 2006 Năm 2008 cũng có mức mức kim ngạch gần xấp xỉ năm 2007 Năm 2009, trong khi các mặt hàng của Công ty gặp khó tại các thị trường chính yếu như Tây Bắc Âu và Châu Á-Thái Bình Dương thì doanh thu xuất khẩu của Công ty tại thị trường Đông Âu không bị giảm quá nhiều về mặt giá trị Năm 2009, doanh thu xuất khẩu sang thị trường này đạt 300.393 USD, tăng gần gấp đôi so với năm 2006, nhưng giảm khoảng 40% so với năm 2007 và 2008
1.2.2.4 Thị trường khác
Những năm trước đây, Công ty đã có quan hệ với khá nhiều thị trường mới tuy nhiên kết quả xuất khẩu sang các thị trường mới này còn khá khiêm tốn vì thời gian đó mới là những bước đầu trong quá trình thâm nhập, thăm dò và nghiên cứu thị trường Những năm trở lại đây, Công ty đã có chính sách phát triển thị trường hiệu quả hơn Chính vì vậy mà kim ngạch xuất khẩu sang thị trường khác đang nắm giữ một vai trò quan trọng, bù đắp cho sự sụt giảm kim ngạch tại các thị trường
Trang 29
khác khi có những biến động trên thị trường thế giới Trong các thị trường này, Mỹ
là thị trường nhiều tiềm năng nhất đối với Công ty
Bảng 1.12 - KNXK sang thị trường khác giai đoạn 2006-2009
Đơn vị: USD
trường khác
Tỷ trọng (%)
Tốc độ tăng (%)
Nguồn: Artexport; (*): Năm cơ sở
Qua bảng trên, ta thấy kim ngạch xuất khẩu sang các thị trường khác cao nhất vào năm 2007, đạt 3,9 triệu USD, mức này cũng gần tương đương với mức đạt được năm 2006 Cả 4 năm từ 2006-2009 doanh thu xuất khẩu tại các thị trường này đều đạt trên 3 triệu USD Năm 2008 có mức doanh thu xuất khẩu 3,2 triệu USD giảm so với năm 2006 là 17%, năm 2009 đạt mức xấp xỉ 3 triệu USD, giảm 20% so với năm 2006
1.2.3 Theo hình thức xuất khẩu
Cùng với chính sách mở cửa nền kinh tế hướng về xuất khẩu, nhằm thức đẩy hơn nữa hoạt động xuất khẩu hàng hóa, Nhà nước đã mở rộng quyền kinh doanh xuất nhập khẩu đối với tất cả các loại hình doanh nghiệp Bất cứ doanh nghiệp nào cũng có quyền xuất nhập khẩu hàng hóa theo đúng lĩnh vực đăng ký kinh doanh của mình Do đó, lượng hàng hóa mà Công ty nhận được từ các công ty khác cho ủy thác xuất khẩu ngày càng giảm dần Vì vậy, để tăng trưởng doanh thu xuất khẩu, Công ty không còn cách nào khác là phải tiếp cận và xác lập các mối quan hệ buôn bán trực tiếp với khách hàng nhập khẩu nước ngoài
Trang 30Biểu đồ 1.8 – Cơ cấu KNXK theo hình thức XK giai đoạn 2006-2009
Theo bảng 1.13 và biểu đồ 1.8, ta thấy kim ngạch xuất khẩu nhận ủy thác ngày càng chiếm tỉ trọng nhỏ trong tổng kim ngạch xuất khẩu Nếu như trong những năm trước như năm 1997, khi mà phần lớn kim ngạch xuất khẩu là nhận ủy thác, tỉ trọng kim ngạch xuất khẩu trực tiếp mới chỉ đạt 34,13%, đến các năm 2003, 2004,
2005 con số đạt tương ứng là 60,31%, 71,49%, 86,04% Đây là một dấu hiệu đáng mừng khi kim ngạch xuất khẩu trực tiếp và khác của Công ty có xu hướng liên tục tăng Trong những năm gần đây, tỉ trọng kim ngạch xuất khẩu trực tiếp và khác luôn đạt trên 80% Và chắc chắn, trong những năm tới sẽ có xu hướng tỉ trọng của kim
Trang 31
ngạch xuất nhận khẩu ủy thác chỉ còn chiếm dưới 10% tổng kim ngạch xuất khẩu
1.2.3.2 Xuất khẩu trực tiếp và khác
Bảng 1.14 - KNXK trực tiếp và khác giai đoạn 2006-2009
Đơn vị: USD
khác
Tỷ trọng (%)
Tốc độ tăng (%)
Đơn vị: USD
Biểu đồ 1.9 - KNXK trực tiếp và khác giai đoạn 2006-2009
Theo bảng 1.14 và biểu đồ 1.9, xuất khẩu trực tiếp và khác có xu hướng chiếm phần lớn trong tổng kim ngạch xuất khẩu dù doanh thu xuất khẩu 2 năm
Trang 32
2008 và 2009 có xu hướng giảm Giá trị kim ngạch xuất khẩu trực tiếp và khác đạt cao nhất vào năm 2007 11 triệu USD, xấp xỉ tổng kim ngạch của toàn năm 2006 và cao hơn so với tổng kim ngạch của toàn năm 2008 và 2009 Điều này thể hiện Công
ty đã nỗ lực rất lớn trong việc nghiên cứu, tiếp cận và xác lập các mối quan hệ với khách hàng tại thị trường nước ngoài Hiện nay, Công ty đã không còn phải phụ thuộc vào việc nhận ủy thác xuất khẩu cho các doanh nghiệp khác như trong giai đoạn trước đây, đặc biệt là trong những năm nền kinh tế chưa đổi mới và khi Nhà nước chưa có chính sách mở rộng quyền kinh doanh xuất nhập khẩu đối với nhiều loại hình doanh nghiệp Các hình thức xuất khẩu khác có thể kể đến như: gia công xuất khẩu, liên doanh liên kết xuất khẩu, xuất khẩu theo nghị định thư…
1.2.3.1 Xuất khẩu nhận uỷ thác
Theo bảng 1.15 dưới đây, ta thấy kim ngạch xuất khẩu nhận ủy thác trong tổng kim ngạch xuất khẩu của Công ty Artexport đang có xu hướng giảm cả về giá trị và tỉ trọng Nếu như năm 2006, tổng kim ngạch xuất khẩu đạt hơn 11 triệu USD, kim ngạch xuất khẩu nhận ủy thác đạt 1,7 triệu USD, chiếm tỉ trọng 16,08% thì năm
2009 do ảnh hưởng của cuộc khủng hoảng, tổng kim ngạch giảm xuống 9 triệu USD, kim ngạch xuất khẩu nhận ủy thác còn 1,1 triệu USD (giảm 34% so với năm 2006), tỉ trọng chỉ còn 12,31%
Bảng 1.15 - KNXK nhận ủy thác giai đoạn 2006-2009
Đơn vị: USD
(%)
Tốc độ tăng (%)
Trang 33
Nguồn: Artexport (*): Năm cơ sở
1.3 CÁC BIỆN PHÁP CÔNG TY ĐÃ SỬ DỤNG ĐỂ THÚC ĐẨY XUẤT KHẨU HÀNG THỦ CÔNG MỸ NGHỆ
1.3.1 Các biện pháp mở rộng và phát triển thị trường
Công ty đã củng cố và duy trì các thị trường xuất khẩu truyền thống của mình như khu vực thị trường Châu Á – Thái Bình Dương và khu vực thị trường Đông Âu Bên cạnh đó, Công ty đã mở rộng kênh xuất khẩu sang các thị trường mới rất tiếm năng như Tây Bắc Âu, Trung Đông hay Nam Phi Đặc biệt, năm 2001 khi hiệp định thương mại song phương giữa Việt Nam và Hoa Kỳ có hiệu lực, Công
ty cũng đã nhanh chóng tìm cơ hội để thâm nhập thị trường tiềm năng này
Công ty đã tích cực chủ động tham gia các hội chợ triển lãm cả trong và ngoài nước Tại đây, Công ty có cơ hôi trưng bày các sản phẩm của mình tới bạn bè quốc tế, qua đó tìm kiếm được nhiều khách hàng mới, mặc dù số lượng đơn đặt hàng ở từng thị trường mới chưa nhiều, nhưng tổng cộng tất cả các đơn đặt hàng tại các thị trường mới này đã phần nào giúp Công ty vượt qua khó khăn khi có những biến cố tại các thị trường truyền thống cũng như chính yếu cũng Công ty
1.3.2 Công tác xúc tiến xuất khẩu
Công ty Artexport đã tiến hành các hoạt động khuếch trương, quảng cáo sản phẩm và quảng bá hình ảnh của Công ty với nhiều hình thức khác nhau thông qua trang web của mình Trên đó, có đầy đủ các mẫu mã sản phẩm được chia thành 4 mục lớn: hàng thêu ren, dệt may; hàng sơn mài, gỗ mỹ nghệ; hàng mây tre; hàng gốm sứ, đất nung
Bên cạnh đó, Công ty luôn chủ động tham dự các hội chợ, triển lãm hàng thủ công mỹ nghệ cả ở trong nước và quốc tế Thông qua các hội chợ triển lãm này, Công ty đã tìm kiếm được thêm nhiều khách hàng mới, thị trường tiềm năng mới
Ngoài ra, Công ty còn chủ động chào hàng trực tiếp với khách hàng bằng cách tìm kiếm thông tin khách hàng, các nhà nhập khẩu có nhu cầu trên các trang
Trang 34
mạng
1.3.3 Công tác huy động hàng xuất khẩu
Công tác huy động hàng xuất khẩu là một trong những khâu quan trọng nhất trong quy trình hoạt động xuất khẩu của bất kì doanh nghiệp xuất khẩu nào, và Công ty Artexport cũng không phải là một ngoại lệ Thời gian qua, Công ty Artexport đã thực hiện khá tốt khâu này với nhiều hình thức khá nhau, có thể kể đến phương thức: nhận ủy thác xuất khẩu; liên doanh, liên kết sản xuất hàng xuất khẩu
và mua hàng xuất khẩu Công ty đã áp dụng linh hoạt các hình thức này để có thể huy động đủ nguồn hàng cung ứng cho xuất khẩu
1.3.3.1 Nhận uỷ thác xuất khẩu
Từ những ngày đầu thành lập, Công ty đã áp dụng ngay hình thức này để huy động hàng cho xuất khẩu Và hiện nay, Công ty vẫn đang áp dụng hình thức nhận
ủy thác xuất khẩu một cách có hiệu quả mặc dù hình thức này ngày càng chiếm một
tỉ trọng nhỏ trong tổng kim ngạch xuất khẩu do chính sách mở rộng quyền kinh doanh xuất khẩu cho các loại hình doanh nghiệp của Nhà nước Theo hình thức này, Công ty Artexport sẽ không tham gia trực tiếp sản xuất mà sẽ tiến hành xuất khẩu
hộ sản phẩm do các đơn vị khác làm ra
1.3.3.2 Liên doanh, liên kết để sản xuất hàng xuất khẩu
Trong điều kiện toàn cầu hóa hiện nay, cạnh tranh ngày càng trở nên gay gắt Các doanh nghiệp không chỉ bị áp lực cạnh tranh từ các doanh nghiệp trong nước
mà còn từ phía các doanh nghiệp nước ngoài Ở thị trường nội địa hay quốc tế đều xảy ra tình trạng như vậy Cạnh tranh sẽ đào thải các doanh nghiệp làm ăn yếu kém Những doanh nghiệp có tiềm lực trung bình thì không dám đầu tư một cách dàn trải,
mà chỉ tập trung đầu tư vào một số mặt hàng nhất định mà doanh nghiệp có thế mạnh, có như vậy thì năng lực cạnh tranh mới được nâng cao và doanh nghiệp mới
có thể đứng vững trên thị trường Như vậy, tất yếu phải có sự liên kết giữa các doanh nghiệp nhằm giúp đỡ nhau cùng sản xuất, kinh doanh có hiệu quả Và trong trường hợp này, Công ty Artexport là đơn vị chuyên doanh xuất nhập khẩu nên tất
Trang 35
yếu phải có sự liên kết, liên doanh với các đơn vị sản xuất hàng thủ công mỹ nghệ trong nước để đảm bảo nguồn hàng xuất khẩu
1.3.3.3 Phương thức mua hàng xuất khẩu
Phương thức này được áp dụng phổ biến đối với các doanh nghiệp xuất khẩu thủ công mỹ nghệ Công ty Artexport đã áp dụng phương thức này với 3 hình thức sau:
Đặt hàng: đây là hình thức Công ty dựa vào mẫu mã sản phẩm mà đối tác nước ngoài đã yêu cầu trong hợp đồng để đặt hàng tại các cơ sở sản xuất của mình với đúng số lượng, chất lượng để kịp thời hạn giao hàng Hình thức này thường được áp dụng trong trường hợp hợp đồng có giá trị lớn với những yêu cầu về mẫu mã khác biệt
Ưu điểm: chất lượng sản phẩm và thời hạn giao hàng được đảm bảo
Nhược điểm: công ty phải ứng vốn trước, mất nhiều thời gian để có hàng
Thu mua theo hợp đồng bao tiêu: theo hình thức này, Công ty sẽ ký hợp đồng mua trọn gói đối với tất cả các sản phẩm do một cơ sở nào đó sản xuất ra, thường là các cơ sở sản xuất nhỏ như hộ gia đình và thường áp dụng đối với các sản phẩm mây, tre đan
Ưu điểm: nguồn hàng cung ứng được đảm bảo, ổn định
Nhược điểm: không linh hoạt khi nhu cầu thị trường thay đổi, hàng hóa tiêu thụ chậm gây ứ đọng vốn
Thu mua tự do: hình thức này được áp dụng khi Công ty có hợp đồng xuất khẩu với đối tác nước ngoài, nhưng các cơ sở sản xuất của Công ty không đáp ứng đủ nguồn hàng cung ứng Do vậy, Công ty sẽ tiến hành thu gom hàng ở các đơn vị sản xuất khác
Ưu điểm: hàng hóa chắc chắn được tiêu thụ
Nhược điểm: không chủ động trong việc huy động nguồn hàng, dễ xảy ra tình trạng không đáp ứng yêu cầu về mẫu mã và chất lượng sản phẩm
Trang 36
1.3.4 Phát triển nguồn nhân lực
Một trong những nguyên nhân chính dẫn đến Artexport không ngừng phát triển đi lên từ lúc mới thành lập chính là nhờ sự đồng lòng, quyết tâm của toàn thể cán bộ công nhân viên, thực hiện tốt chỉ tiêu, hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ lãnh đạo giao cho Ở góc độ quản lý, ban lãnh đạo Tổng công ty đã thực hiện việc phân công cụ thể công việc cho từng phòng, từng bộ phận rất rạch ròi, chặt chẽ Nhờ đó, hiệu quả công việc mang lại rất cao, phát huy được năng lực của nhân viên Bên cạnh đó, Công ty luôn quan tâm đảm bảo đời sống cán bộ công nhân viên, có nhiều chế độ đãi ngộ cho bộ phận và cá nhân có thành tích tốt Lãnh đạo Công ty trực tiếp chỉ đạo các cán bộ phải “bám lấy sản xuất”, đi sâu sát đến các cơ sở tìm nguồn nguyên liệu, chỉ dẫn mẫu mã cho thợ Bên cạnh trực tiếp sản xuất, Công ty còn liên
hệ với các địa phương nhằm huy động nguồn nhân lực nhàn rỗi để gia tăng nguồn hàng Chính từ quá trình tiếp xúc thực tế nên các cán bộ đã nảy ra nhiều sáng kiến mới phục vụ cho công tác sản xuất Ví dụ có thời điểm thiếu nguồn nguyên liệu cói làm thảm, cán bộ Artexport đã có sáng kiến dùng bẹ ngô thay thế, được các khách hàng rất ưa thích
1.4 ĐÁNH GIÁ CHUNG VỀ HOẠT ĐỘNG XUẤT KHẨU HÀNG THỦ CÔNG
MỸ NGHỆ CỦA CÔNG TY
1.4.1 Thành tựu
Ngành thủ công mỹ nghệ là một ngành nghề truyền thống của dân tộc Việt Nam với nhiều làng nghề có từ lâu đời, nhiều sản phẩm được tạo nên bởi bàn tay khéo léo, tài hoa của Người Việt Các sản phẩm thủ công mỹ nghệ cần được quảng
bá trên thị trường thế giới để từng bước đẩy mạnh xuất khẩu, tranh thủ thu ngoai tệ
về cho đất nước, đồng thời cũng giải quyết được công ăn việc làm cho người lao động Với mục đích như vậy, Công ty Artexport đã vượt qua bao khó khăn trở ngại trong suốt hơn 40 năm thành lập, vững bước đi lên trở thành một trong những công
ty hàng đầu trong nước về lĩnh vực kinh doanh sản xuất hàng thủ công mỹ nghệ và cũng đã khẳng định được vị thế của mình trên thị trường quốc tế
Kim ngạch xuất khẩu có xu hướng tăng qua các năm trước giai đoạn khủng
Trang 37 Có chiến lược sản phẩm đúng đắn đối với từng thị trường: xuất khẩu đồ gỗ sang Đài Loan, đồ thêu ren, dệt may sang Mỹ, EU, xuất khẩu mặt hàng gốm
sứ, đất nung sang Nhật Bản…
Sản phẩm ngày càng được đa dạng hóa, đáp ứng được nhu cầu, thị hiếu của khách hàng, kể cả khách hàng tại những thị trường khó tính nhất Mẫu mã sản phẩm đã có được sự đột phá trong khâu thiết kế hơn, chủng loại đa dạng, màu sắc, kiểu dáng phong phú
Lợi nhuận trước thuế và sau thuế đều có xu hướng tăng qua các năm, như đã phân tích trong phần kết quả kinh doanh của Công ty ở trên Mặc dù giá trị kim ngạch xuất khẩu trong năm 2008 và 2009 giảm xuống nhưng mức lợi nhuận Công ty đạt được vẫn không ngừng tăng lên
Nộp ngân sách nhà nước tăng: do mức lợi nhuận mà Công ty đạt được vẫn tăng trưởng qua các năm bất chấp suy thoái kinh tế nên nộp ngân sách nhà nước cũng tăng lên
Đời sống của cán bộ của công nhân viên từng bước được cải thiện: cán bộ công nhân viên chính là một nhân tố then chốt tạo đà cho thành công ngày nay của Công ty Mức thu nhập bình quân đầu người của cán bộ công nhân viên Công ty có xu hướng tăng lên qua các năm (năm 2009 ở mức 4,1 triệu đồng/người/tháng)
Đội ngũ cán bộ làm công tác xuất khẩu giàu kinh nghiệm, giỏi nghiệp vụ, biết sử dụng một cách linh hoạt các hình thức xuất khẩu và các hình thức