Với kỹ thuật phân tích hồi quy để điều tra tác động của quản trị công ty đến QTLN, kết quả nghiên cứu cho thấy sự độc lập của HĐQT, tập trung quyền sở hữu, quyền sở hữu nước ngoài, tỷ lệ
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP HỒ CHÍ MINH
Trang 2TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP HỒ CHÍ MINH
TRẦN THỊ VŨ TUYỀN
ẢNH HƯỞNG CỦA CƠ CẤU SỞ HỮU ĐẾN HÀNH VI QUẢN TRỊ LỢI NHUẬN CỦA CÁC CÔNG TY NIÊM YẾT TRÊN SÀN GIAO DỊCH CHỨNG KHOÁN
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan luận văn thạc sĩ kinh tế: “Ảnh hưởng của cơ cấu sở hữu
đến hành vi quản trị lợi nhuận của các công ty niêm yết trên sàn giao dịch chứng khoán TP Hồ Chí Minh” là công trình nghiên cứu khoa học nghiêm túc của cá
nhân tác giả, với sự hỗ trợ của giáo viên hướng dẫn Các nội dung nghiên cứu và kết quả nghiên cứu trong đề tài này là trung thực và chưa từng được công bố
TP Hồ Chí Minh, ngày tháng năm 2016
Tác giả
Trần Thị Vũ Tuyền
Trang 4MỤC LỤC
TRANG PHỤ BÌA
LỜI CAM ĐOAN
MỤC LỤC
DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU, SƠ ĐỒ
PHẦN MỞ ĐẦU 1
1 Tính cấp thiết của đề tài 1
2 Mục tiêu nghiên cứu 2
3 Câu hỏi nghiên cứu 3
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 3
5 Phương pháp nghiên cứu 3
6 Những đóng góp mới của luận văn 3
7 Kết cấu của đề tài 4
CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN CÁC NGHIÊN CỨU CÓ LIÊN QUAN 5
1.1 Các nghiên cứu công bố ở nước ngoài 5
1.2 Các nghiên cứu công bố ở trong nước 10
1.3 Nhận xét tổng quan nghiên cứu và xác định khe hổng nghiên cứu 13
1.3.1 Nhận xét tổng quan nghiên cứu 13
1.3.2 Xác định khe hổng nghiên cứu 15
Tóm tắt chương 1 16
CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT 17
2.1 Những vấn đề cơ bản về hành vi quản trị lợi nhuận 17
2.1.1 Định nghĩa về hành vi quản trị lợi nhuận 17
2.1.2 Động cơ của hành vi quản trị lợi nhuận 19
2.1.3 Các thủ thuật quản trị lợi nhuận trong kế toán 21
2.1.4 Các mô hình nhận diện hành vi quản trị lợi nhuận 27
2.2 Cơ cấu sở hữu và hành vi quản trị lợi nhuận 31
Trang 52.2.1 Cơ cấu sở hữu 31
2.2.2 Mối quan hệ giữa cơ cấu sở hữu và hành vi quản trị lợi nhuận 33
2.3 Các lý thuyết nền tảng 34
2.3.1 Lý thuyết ủy nhiệm (Agency theory) 34
2.3.2 Lý thuyết thông tin bất cân xứng (Asymmetry Information) 36
Tóm tắt chương 2 38
CHƯƠNG 3: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 39
3.1 Quy trình nghiên cứu 39
3.2 Phương pháp nghiên cứu 40
3.3 Mô hình nghiên cứu và phát triển giả thuyết nghiên cứu 41
3.3.1 Mô hình nghiên cứu 41
3.3.2 Phát triển giả thuyết nghiên cứu 42
3.3.2.1 Mức độ tập trung quyền sở hữu và hành vi QTLN 42
3.3.2.2 Quyền sở hữu của nhà đầu tư tổ chức và hành vi QTLN 42
3.3.2.3 Quyền sở hữu của nhà quản lý và hành vi QTLN 43
3.3.2.4 Quyền sở hữu của nhà nước và hành vi QTLN 44
3.3.2.5 Quyền sở hữu của nhà đầu tư nước ngoài và hành vi QTLN 45
3.3.2.6 Các biến kiểm soát 46
3.4 Đo lường các biến nghiên cứu trong mô hình 47
3.4.1 Đo lường biến phụ thuộc 47
3.4.2 Đo lường các biến độc lập và biến kiểm soát trong mô hình 49
3.5 Mẫu nghiên cứu và quy trình phân tích dữ liệu 50
3.5.1 Mẫu và dữ liệu nghiên cứu 50
3.5.2 Quy trình phân tích dữ liệu 52
3.5.2.1 Phân tích thống kê mô tả 52
3.5.2.2 Phân tích tương quan 53
3.5.2.3 Phân tích hồi quy 53
Tóm tắt chương 3 55
CHƯƠNG 4: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ BÀN LUẬN 56
Trang 64.1 Kết quả phân tích hồi quy mô hình nhận diện hành vi quản trị lợi nhuận 56
4.2 Kết quả phân tích ảnh hưởng của cơ cấu sở hữu đến hành vi quản trị lợi nhuận 58
4.2.1 Thống kê mô tả các biến 58
4.2.2 Phân tích tương quan 60
4.2.3 Phân tích hồi quy 61
4.2.3.1 Lựa chọn mô hình phù hợp 61
4.2.3.2 Kết quả phân tích hồi quy đa biến 64
4.3 Bàn luận 66
Tóm tắt chương 4 72
CHƯƠNG 5: KẾT LUẬN VÀ GỢI Ý CHÍNH SÁCH 73
4.1 Kết luận chung 73
4.2 Gợi ý chính sách 74
4.2.1 Đối với tỷ lệ sở hữu của nhà quản lý 74
4.2.2 Đối với tỷ lệ sở hữu của nhà nước 75
4.2.3 Đối với tỷ lệ sở hữu của nhà đầu tư nước ngoài 76
4.2.4 Đối với đòn bẩy tài chính 76
4.2.5 Đối với chất lượng kiểm toán 77
4.2.6 Gợi ý chính sách khác đối với cơ quan quản lý 78
4.3 Hạn chế của đề tài và hướng nghiên cứu trong tương lai 79
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC
Trang 7DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
GLS Phương pháp bình phương tối thiểu tổng quát
Pooled OLS Phương pháp bình phương tối thiểu kết hợp tất
cả các quản sát
Trang 8DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU, SƠ ĐỒ
Trang
Bảng 1.1 Tổng hợp các nghiên cứu về mối quan hệ giữa các yếu tố liên quan đến
cơ cấu sở hữu và hành vi QTLN 14
Bảng 3.1 Xác định và đo lường các biến 49
Bảng 4.1 Kết quả hồi quy mô hình (2) theo Pooled OLS, FEM và REM 56
Bảng 4.2 Bảng kết quả ước lượng theo mô hình GLS cho mô hình (2) 57
Bảng 4.3 Bảng thống kê mô tả các biến định lượng trong mô hình (*) 58
Bảng 4.4 Bảng thống kê mô tả các biến định tính trong mô hình (*) 59
Bảng 4.5 Bảng ma trận hệ số tương quan giữa các biến trong mô hình (*) 60
Bảng 4.6 Kết quả hồi quy mô hình (*) theo Pooled OLS, FEM và REM 62
Bảng 4.7 Bảng tổng hợp các kiểm định lựa chọn giữa 3 mô hình Pooled OLS, FEM và REM của mô hình (*) 63
Bảng 4.8 Bảng kết quả hồi quy theo mô hình GLS cho mô hình (*) 65
Bảng 4.9 Bảng tổng hợp kết quả kiểm định các giả thuyết trong nghiên cứu 71
Hình 3.1 Quy trình nghiên cứu tổng quát của luận văn 39
Trang 9PHẦN MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Thông tin trên BCTN của doanh nghiệp giữ vai trò kết nối một doanh nghiệp với rất nhiều đối tượng sử dụng thông tin khác nhau bên ngoài doanh nghiệp, nó đóng một vai trò hết sức quan trọng trong việc cung cấp những thông tin hữu ích, có thể giúp cho người sử dụng thông tin ra quyết định một cách hợp lý, thỏa mãn mục tiêu của họ.Đặc biệt, thông tin về lợi nhuận được coi là một trong những thông tin tài chính quan trọng có ảnh hưởng đến tất cả các bên liên quan của doanh nghiệp, vì giá trị lợi nhuận là một chỉ tiêu quan trọng để đánh giá hiệu quả kinh doanh và triển vọng tăng trưởng của công ty, vì vậy bất kỳ sự can thiệp nào có thể bóp méo tính chính xác của thông tin trên các báo cáo đều làm ảnh hưởng đến quyết định của những người sử dụng BCTC Các vụ bê bối tài chính trên thế giới của Enron, WorldCom và Parmalat vào đầu những năm 2000 cũng như ở Việt Nam như Bông Bạch Tuyết, Dược Viễn Đông … có liên quan đến các thủ thuật trên BCTC đã gây
ra tác động không nhỏ đến nền kinh tế và ảnh hưởng đến niềm tin của công chúng vào chất lượng thông tin trên BCTC của các doanh nghiệp, đặc biệt là các doanh nghiệp niêm yết Theo số liệu thống kê của Vietstock từ năm 2012 đến tháng 6 năm
2015 cho thấy mỗi năm tỷ lệ doanh nghiệp niêm yết có điều chỉnh lợi nhuận sau kiểm toán đều trên mức 70%, riêng 6 tháng đầu năm 2015 chiếm 52% Điều này dấy lên sự cảnh báo rất lớn về chất lượng thông tin BCTC, từ đó tạo nên sự quan tâm ngày càng tăng đến QTLN Việc QTLN "hợp pháp" hoặc "bất hợp pháp" đều ảnh hưởng đến chất lượng thông tin trên BCTC của doanh nghiệp
Theo lý thuyết ủy nhiệm, sự tách biệt của chủ sở hữu và nhà quản lý dẫn đến xung đột lợi ích giữa chủ sở hữu và nhà quản lý, do đó giám sát các quyết định của nhà quản lý có thể cải thiện sự liên kết quản lý và lợi ích của cổ đông và giảm thiểu các hành vi cơ hội do xung đột về lợi ích Trong thực tế, sự gia tăng của những vụ
bê bối kế toán đã nhắc đến sự cần thiết phải cải thiện chất lượng thông tin trên BCTC bằng cách thiết lập cơ cấu quản trị tốt Quản trị công ty tốt cho phép tối đa
Trang 10hóa giá trị doanh nghiệp và minh bạch trong công bố thông tin (Gupta & Sharma, 2014) Trong tổng thể hệ thống quản trị công ty, cơ cấu sở hữu là thành phần được
nhiều nhà nghiên cứu chú ý Ví dụ, Ali và cộng sự (2008) đã chỉ ra rằng các nhà
quản lý, người sở hữu một phần đáng kể trong vốn chủ sở hữu của một công ty có ít động lực để thao tác thông tin kế toán trên báo cáo, do đó có thể hạn chế hành vi
QTLN Shaikh và cộng sự (2012) cho rằng các nhà đầu tư là tổ chức có nhiều khả
năng phát hiện QTLN hơn so với các nhà đầu tư không phải là tổ chức vì họ tiếp cận nhiều thông tin kịp thời và phù hợp Trong những nghiên cứu này đều cho rằng
cơ cấu sở hữu của công ty có ảnh hưởng đáng kể đến QTLN, từ đó ảnh hưởng đến chất lượng thông tin lợi nhuận trên BCTC
Dựa trên lý thuyết ủy nhiệm, các nghiên cứu gần đây đã tập trung xem xét tác động của cơ cấu sở hữu đến hành vi QTLN nhằm nâng cao chất lượng BCTC Tuy nhiên, tác giả chưa thấy có nghiên cứu thực nghiệm cụ thể nào đi sâu về vấn đề này tại Việt Nam Từ đó đặt ra câu hỏi liệu cơ cấu sở hữu của các công ty tại Việt Nam
có ảnh hưởng đến hành vi QTLN hay không và nếu có thì ảnh hưởng như thế nào?
Nhằm trả lời cho câu hỏi này, tôi chọn đề tài: “Ảnh hưởng của cơ cấu sở hữu đến
hành vi quản trị lợi nhuận của các công ty niêm yết trên Sàn giao dịch chứng khoán TP Hồ Chí Minh” làm đề tài nghiên cứu cho luận văn của mình
2 Mục tiêu nghiên cứu
Mục tiêu nghiên cứu chính của luận văn là xem xét ảnh hưởng của cơ cấu sở hữu đến hành vi QTLN của các công ty niêm yết trên sàn giao dịch chứng khoán TP
- Đo lường mức độ ảnh hưởng của các nhân tố thuộc cơ cấu sở hữu đến hành
vi QTLN của các công ty niêm yết trên sàn giao dịch chứng khoán TP Hồ Chí Minh Từ đó đưa ra một số gợi ý chính sách trên cơ sở kết quả nghiên cứu đạt được
Trang 113 Câu hỏi nghiên cứu
Để đạt được mục tiêu nghiên cứu đã đề ra, luận văn đặt ra câu hỏi nghiên cứu như sau:
- Những nhân tố nào thuộc cơ cấu sở hữu ảnh hưởng đến hành vi QTLN?
- Mức độ ảnh hưởng của các nhân tố thuộc cơ cấu sở hữu đến hành vi QTLN của các công ty niêm yết trên sàn giao dịch chứng khoán TP Hồ Chí Minh như thế nào?
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là xem xét ảnh hưởng cơ cấu sở hữu đến hành
vi QTLN
Phạm vi nghiên cứu: dữ liệu thứ cấp trên BCTN của các công ty niêm yết trên sàn giao dịch chứng khoán TP Hồ Chí Minh giai đoạn 2011 – 2015
5 Phương pháp nghiên cứu
Để đạt được mục tiêu nghiên cứu và trả lời các câu hỏi nghiên cứu đặt ra, luận văn được thực hiện dựa trên cách tiếp cận suy diễn và sử dụng phương pháp nghiên cứu định lượng là chủ yếu
- Phương pháp phân tích và tổng hợp: khái quát lý thuyết về các vấn đề nghiên cứu và các nghiên cứu có liên quan, làm cơ sở đề xuất mô hình nghiên cứu ảnh hưởng của cơ cấu sở hữu đến hành vi QTLN
- Phương pháp định lượng: được sử dụng chủ yếu trong luận văn nhằm kiểm tra chiều hướng tác động cũng như đo lường mức độ ảnh hưởng của các nhân tố thuộc về cơ cấu sở hữu đến hành vi QTLN với sự hỗ trợ từ phần mềm Excel và phần mềm Stata 14.0 thông qua thống kê mô tả, phân tích tương quan và phân tích hồi quy
6 Những đóng góp mới của luận văn
Luận văn đã phân tích ảnh hưởng của cơ cấu sở hữu đến hành vi QTLN của các công ty niêm yết trên Sàn giao dịch chứng khoán TP.HCM thông qua thông tin trình bày trên BCTN, từ đó đưa ra những gợi ý chính sách nhằm hỗ trợ cho các chủ thể tham gia trên TTCK cách thức hạn chế hành vi QTLN Kết quả nghiên cứu này
Trang 12là căn cứ khoa học để các doanh nghiệp nhận ra vai trò của cơ cấu sở hữu trong việc hạn chế hành vi QTLN, là tài liệu giúp các đối tượng sử dụng BCTN của doanh nghiệp hiểu rõ hơn về các thông tin mà doanh nghiệp công bố Đồng thời, các gợi ý chính sách đưa ra góp phần giúp doanh nghiệp hạn chế được hành vi QTLN, cung
cấp thông tin hữu ích cho người sử dụng ra quyết định
7 Kết cấu của đề tài
Ngoài phần mở đầu, luận văn có kết cấu gồm 5 chương:
Chương 1: Tổng quan các nghiên cứu có liên quan
Chương 2: Cơ sở lý thuyết
Chương 3: Phương pháp nghiên cứu
Chương 4: Kết quả nghiên cứu và bàn luận
Chương 5: Kết luận và gợi ý chính sách
Trang 13CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN CÁC NGHIÊN CỨU CÓ LIÊN QUAN
Với mục tiêu là nghiên cứu ảnh hưởng của cơ cấu sở hữu đến hành vi QTLN của các công ty niêm yết trên sàn giao dịch chứng khoán TP Hồ Chí Minh, từ đó góp phần giúp cho các công ty niêm yết nâng cao chất lượng BCTC, phục vụ tốt cho các đối tượng sử dụng thông tin kế toán, đồng thời giúp cho các nhà đầu tư có
sở sở để đánh giá chất lượng BCTC của công ty từ đó đưa ra các quyết định phù hợp Liên quan đến vấn đề này đã có nhiều học giả trong và ngoài nước đề cập trong các nghiên cứu của mình Dưới đây tác giả tiến hành lược khảo một số nghiên cứu đã công bố ở Việt Nam cũng như ở một số nước trên thế giới
1.1 Các nghiên cứu công bố ở nước ngoài
Nghiên cứu của Park & Shin (2004): “Board composition and earnings
management in Canada” về ảnh hưởng của thành phần HĐQT đến QTLN đã sử
dụng mô hình của Dechow và cộng sự (1995) – Modified Jones để đo lường biến kế toán dồn tích với một mẫu gồm 539 quan sát tại các công ty Canada giai đoạn 1991 – 1997 Tác giả nhận thấy lợi nhuận được quản lý theo chiều hướng tăng lên nhằm tránh sự tổn thất trên báo cáo và lợi nhuận bị tụt giảm Kết quả nghiên cứu cho thấy
sự hiện diện của thành viên HĐQT đến từ các trung gian tài chính và sự hiện diện của cổ đông là tổ chức thì làm giảm hành vi QTLN Đồng thời, nghiên cứu còn cho thấy tăng tỷ lệ thành viên HĐQT bên ngoài làm tăng hành vi QTLN, trái ngược với quan điểm cho rằng tăng tỷ lệ thành viên HĐQT bên ngoài sẽ giúp HĐQT tăng tính
độc lập, giải quyết xung đột lợi ích giữa cổ đông nhỏ và cổ đông lớn
Nghiên cứu của Ali và cộng sự (2008): “Ownership structure and earnings
management in Malaysian listed companies: the size effect” Mẫu nghiên cứu được
sử dụng bao gồm 1001 công ty niêm yết ở Malaysia cho cả 2 năm 2002 và 2003 sau khi đã loại bỏ những công ty thuộc ngành tài chính và những công ty không có đầy
đủ dữ liệu Nghiên cứu này đã xem xét mối liên hệ giữa mức độ sở hữu quản lý đến hành vi QTLN, đại diện bởi độ lớn của biến kế toán dồn tích có thể điều chỉnh theo
mô hình của Jones (1991) Kết quả cho thấy rằng, mức độ sở hữu của nhà quản lý
Trang 14có thể hạn chế hành vi QTLN Đồng thời, nghiên cứu cũng chỉ ra có một mối quan
hệ cùng chiều giữa quy mô công ty đến mối quan hệ giữa quyền sở hữu của nhà quản lý và hành vi điều chỉnh lợi nhuận Mặc dù sở hữu của nhà quản lý có thể làm giảm các hành vi QTLN, các yếu tố khác như quy mô doanh nghiệp cũng có thể ảnh hưởng đến hành vi này Sở hữu của nhà quản lý là một cơ chế giám sát hiệu quả, đặc biệt là trong các doanh nghiệp nhỏ, do đó quyền sở hữu của nhà quản lý cần được khuyến khích trong các doanh nghiệp nhỏ để nó có thể thay thế cho sự yếu
kém của cơ chế quản trị công ty khác
Nghiên cứu của Kim & Yoon (2008): “The impact of corporate governance
on earnings management in Korea” đã điều tra các yếu tố quản trị công ty có ảnh
hưởng làm giảm hành vi QTLN của các công ty niêm yết trên TTCK Hàn Quốc trong năm 2004 và 2005 Mức độ QTLN được đo bằng khoản kế toán dồn tích có điều chỉnh và tổng dồn tích theo mô hình Modified Jones (Dechow và cộng sự, 1995) Với kỹ thuật phân tích hồi quy để điều tra tác động của quản trị công ty đến QTLN, kết quả nghiên cứu cho thấy sự độc lập của HĐQT, tập trung quyền sở hữu, quyền sở hữu nước ngoài, tỷ lệ đòn bẩy và quy mô công ty ảnh hưởng đáng kể các khoản kế toán dồn tích có điều chỉnh và tổng dồn tích
Nghiên cứu của Jang và cộng sự (2009): “The Effect of Board Structure and
Institutional Ownership Structure on Earnings Management” xem xét vai trò của
giám đốc bên ngoài và cổ đông tổ chức trong việc hạn chế các hoạt động QTLN Mẫu sử dụng gồm 613 công ty niêm yết ở Malaysia trong các lĩnh vực xây dựng, sản phẩm công nghiệp và sản phẩm tiêu dùng, giai đoạn từ năm 2001 đến năm
2003 Mô hình Modified Jones (Dechow và cộng sự, 1995) được sử dụng để nhận diện hành vi QTLN Kết quả nghiên cứu nhân thấy mức độ QTLN của các công ty niêm yết của Malaysia là khoảng 16% tổng tài sản năm trước và hầu hết các công ty QTLN tăng lên chứ không giảm xuống Đồng thời, kết quả nghiên cứu không có bằng chứng chứng minh mối quan hệ giữa độ lớn QTLN với tỷ lệ giám đốc bên ngoài và cổ đông tổ chức Lý giải cho kết quả này, Jang, Chun & Ramadili lập luận rằng, giám đốc bên ngoài có thể thiếu chuyên môn về tài chính cần thiết để phát
Trang 15hiện việc QTLN, do đó họ sẽ gặp khó khăn để đánh giá hoặc phân tích thông tin nhất định, đồng thời, giám đốc bên ngoài tại Malaysia có thể không hoàn toàn độc lập trong HĐQT Nguyên nhân khác nữa làm cho giám đốc bên ngoài và cổ đông tổ chức không có khả năng hạn chế các hành vi QTLN nếu quyền sở hữu của một công
ty là tập trung cao và quá trình lựa chọn giám đốc bên ngoài không được nêu rõ ràng và minh bạch
Nghiên cứu của Roodposhti & Chashmi (2011): “The impact of corporate
governance mechanisms on earnings management” đã xem xét ảnh hưởng của cơ
chế quản trị công ty (bao gồm tập trung quyền sở hữu, HĐQT độc lập, kiêm nhiệm hai chức danh Giám đốc điều hành và Chủ tịch HĐQT và cổ đông tổ chức) đến QTLN Quy mô công ty và đòn bẩy tài chính là các biến kiểm soát trong mô hình Mẫu được sử dụng trong nghiên cứu này bao gồm 196 công ty niêm yết trên sàn chứng khoán Tehran (TSE) từ năm 2004 đến 2008 Kết quả nghiên cứu cho thấy, giữa tập trung quyền sở hữu, HĐQT độc lập và kiêm nhiệm hai chức danh Giám đốc điều hành và Chủ tịch HĐQT với QTLN có tác động ngược chiều, trong khi các công ty có CP thuộc sở hữu của tổ chức cao thì QTLN nhiều hơn Đồng thời, nghiên cứu cũng tìm thấy một quan hệ cùng chiều giữa các biến kiểm soát (quy mô công ty
và đòn bẩy tài chính) và QTLN
Nghiên cứu của Wang & Yung (2011): “Do state enterprises manage
earnings more than privately owned firms? The case of China” điều tra tác động
của sở hữu nhà nước đến QTLN của các công ty niêm yết ở Trung Quốc Mẫu nghiên cứu gồm 557 công ty niêm yết trên TTCK Thượng Hải và TTCK Thâm Quyến trong khoản thời gian 9 năm từ 1998 đến 2006 và được chia thành 2 nhóm: doanh nghiệp nhà nước và doanh nghiệp tư nhân Kết quả nghiên cứu cho thấy mức
độ dồn tích của QTLN của các doanh nghiệp nhà nước thấp hơn so với doanh nghiệp tư nhân, điều này trái ngược với dự đoán trong giả thuyết của tác giả cũng như sự tin tưởng của đa số rằng sở hữu nhà nước là gốc rễ của tất cả sự kém hiệu quả trong doanh nghiệp Giải thích cho kết quả này, Wang & Yung cho rằng việc
Trang 16bảo vệ các doanh nghiệp nhà nước của chính phủ đóng vai trò quan trọng trong việc giảm thiểu áp lực lên các nhà quản lý để thao tác thông tin
Nghiên cứu của Klai & Omri (2011): “Corporate Governance and
Financial Reporting Quality: The case of Tunisian firms” sử dụng mẫu gồm 22
công ty niêm yết trên sàn chứng khoán Tunis trong giai đoạn 1997-2007 của Tunisia để xem xét tác động của cơ chế quản lý đến chất lượng BCTC Cụ thể, nghiên cứu tập trung vào các đặc điểm của BGĐ và cơ cấu sở hữu tác động đến hành vi QTLN, từ đó ảnh hưởng đến chất lượng BCTC Kết quả cho thấy rằng các
cơ chế quản trị đặc trưng bởi sự thiếu tính độc lập của BGĐ và mức độ tập trung quyền sở hữu ảnh hưởng đến hành vi QTLN của các công ty Tunisia Đặc biệt, kiểm soát bởi nước ngoài, các gia đình và tập trung quyền sở hữu làm tăng mức độ QTLN, đo đó làm giảm chất lượng BCTC, trong khi sự kiểm soát của nhà nước và các tổ chức tài chính hạn chế hành vi QTLN, cải thiện chất lượng BCTC Ngoài ra,
ba biến kiểm soát gồm quy mô công ty và cơ hội phát triển ảnh hưởng giảm, và đòn bẩy tài chính cũng có tác động hạn chế hành vi QTLN
Nghiên cứu của Shaikh và cộng sự (2012): “Institutional Ownership and
Discretionary Accruals: Empirical Evidences from Pakistani Listed Non-Financial
Companies” điều tra tác động của sở hữu tổ chức đến biến kế toán dồn tích có điều
chỉnh của các công ty niêm yết tại Pakistan Mô hình Jones (1991) được sử dụng để xác định khoản dồn tích có điều chỉnh, trong khi sở hữu của tổ chức đo bằng cách chia số lượng cổ phiếu nắm giữ bởi các tổ chức từ tổng số cổ phiếu đang lưu hành Sau khi phân tích thực nghiệm với một kích thước mẫu gồm 68 công ty phi tài chính được niêm yết trên sàn chứng khoán Karachi (KSE) của Pakistan trong thời gian 5 năm, bắt đầu từ năm 2006 đến năm 2010, nghiên cứu kết luận rằng sở hữu của tổ chức có tác động ngược chiều đối với các khoản dồn tích có điều chỉnh Điều này cho thấy, các công ty ở Pakistan đang ý thức hơn về quản trị công ty và chủ sở hữu là tổ chức như là một trung gian quan trọng để cải thiện hoạt động quản trị công
ty, giám sát gây khó khăn trong việc quản lý thay đổi thu nhập cho bất kỳ mục đích mong muốn
Trang 17 Nghiên cứu của Alves Sandra (2012): “Ownership structure and Earning
management: Evidence from Portugal” với mẫu gồm 34 công ty niêm yết trên sàn
Euronext Lisbon của Bồ Đào Nha giai đoạn 2002-2007, nghiên cứu đã kiểm tra tác động của cơ cấu sở hữu của một công ty (được đo bằng ba biến: sở hữu của nhà quản lý, mức độ tập trung quyền sở hữu và sở hữu của tổ chức) đến hành vi QTLN của một công ty Các kết quả thực nghiệm cho thấy rằng hành vi QTLN của các công ty niêm yết Bồ Đào Nha đều bị ảnh hưởng bởi cơ cấu sở hữu Thứ nhất, cả sở hữu của nhà quản lý và mức độ tập trung quyền sở hữu đều hạn chế hành vi QTLN Điều này cho thấy rằng các nhà quản lý, người sở hữu một phần quan trọng của vốn
CP trong một công ty, có ít động lực để thao tác thông tin kế toán được báo cáo, và các cổ đông lớn làm giảm cơ hội điều chỉnh lợi nhuận của nhà quản lý Thứ hai, QTLN thấp hơn khi dòng tiền hoạt động cao và QTLN cao hơn khi chi phí chính trị,
đòn bẩy tài chính và quy mô HĐQT là cao
Nghiên cứu của Aygun và cộng sự (2014): “The effects of Corporate
ownership structure and Board size on Earnings management: Envidence from
Turkey” sử dụng mẫu gồm 230 công ty Thổ Nhĩ Kỳ niêm yết trên sàn chứng khoán
Istanbul (ISE) cho giai đoạn năm 2009 đến năm 2012 để kiểm tra tác động của cơ cấu sở hữu và quy mô HĐQT đến QTLN Cơ cấu sở hữu của công ty được đo bằng hai biến: quyền sở hữu của nhà quản lý và quyền sở hữu của tổ chức Nghiên cứu này cũng sử dụng ba biến kiểm soát là lợi nhuận trên tài sản (ROA), quy mô của công ty và đòn bẩy tài chính Biến QTLN được nhận diện theo mô hình Modified Jones và các kỹ thuật hồi quy đa biến được sử dụng để kiểm tra tác động của cơ cấu
sở hữu của công ty và quy mô HĐQT đến QTLN Kết quả của nghiên cứu này phù hợp với các nghiên cứu trước đây cho thấy rằng sở hữu của tổ chức và quy mô HĐQT có tương quan ngược chiều với QTLN trong khi ảnh hưởng của quyền sở hữu của nhà quản lý đến QTLN là cùng chiều Ngoài ra, nghiên cứu cũng cho thấy lợi nhuận trên tài sản (ROA) có ảnh hưởng cùng chiều đến QTLN, trong khi tác
động của đòn bẩy tài chính đến quản QTLN là ngược chiều về mặt thống kê
Trang 18 Nghiên cứu của Lakhal Nadia (2015): “Corporate disclosure, Ownership
structure and Earnings management: The case of French – Listed firms” sử dụng
mẫu gồm 170 công ty của Pháp vào năm 2008 đã kiểm tra các mối quan hệ giữa các hoạt động công bố thông tin của công ty, cơ cấu sở hữu và QTLN Kết quả nghiên cứu cho thấy rằng, mối quan hệ giữa QTLN và mức độ công bố thông tin của công
ty là ngược chiều, tức là các công ty kém minh bạch có khả năng tham gia vào các hoạt động QTLN Nghiên cứu cũng phát hiện ra sở hữu gia đình và nhiều cổ đông lớn có ảnh hưởng tiêu cực đến QTLN Cuối cùng, sự hiện diện của nhà đầu tư là tổ chức có khả năng giảm thiểu hành vi QTLN, có vai trò giám sát và ảnh hưởng đến quyết định của nhà quản lý
1.2 Các nghiên cứu công bố ở trong nước
Nghiên cứu của Nguyễn Thị Minh Trang (2011): “Kỹ thuật điều chỉnh lợi
nhuận của nhà quản trị” đã trình bày một cách tổng quát về các kỹ thuật mà các
nhà quản trị có thể vận dụng để điều chỉnh lợi nhuận theo ý kiến chủ quan như: lựa chọn phương pháp kế toán ảnh hưởng đến thời điểm ghi nhận doanh thu, chi phí và các ước tính kế toán, lựa chọn thời điểm mua hoặc bán tài sản Đồng thời, tác giả cũng đưa ra một số ý kiến về tính trung thực của thông tin kế toán tạo điều kiện thuận lợi giúp cho các đối tượng sử dụng thông tin kiểm tra chất lượng luồng thông
tin từ đó đưa ra quyết định đúng đắn
Nghiên cứu của Phạm Thị Bích Vân (2012): “Mô hình nhận diện hành vi
điều chỉnh lợi nhuận của các doanh nghiệp niêm yết ở Sở giao dịch chứng khoán TP.HCM” đã phân tích sự phù hợp của mô hình Modified Jones trong việc nhận
diện hành vi điều chỉnh lợi nhuận của 54 doanh nghiệp niêm yết trên sàn chứng khoán TP.HCM trong năm 2010 Kết quả nghiên cứu cho thấy, mô hình Modified Jones không hiệu quả trong việc nhận diện hành vi điều chỉnh lợi nhuận của các doanh nghiệp niêm yết trên sàn chứng khoán HOSE Thông qua phân tích môi trường vĩ mô của TTCK TP.HCM nói riêng và Việt Nam nói chung, tác giả đã đề nghị một mô hình khác để nhận diện hành vi điều chỉnh lợi nhuận cho các doanh nghiệp niêm yết Việt Nam, tác giả này đã thay biến TSCĐ bằng biến khấu hao
Trang 19TSCĐ và đưa thêm biến dự phòng vào mô hình Dựa vào kết quả phân tích hồi quy, tác giả đã kết luận mô hình này phù hợp với mô hình của Jones đối với các doanh
nghiệp niêm yết của Việt Nam với R-square=0,985)
Nghiên cứu của Huỳnh Thị Vân (2012): “Nghiên cứu hành vi điều chỉnh lợi
nhuận ở các công ty cổ phần trong năm đầu niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam” sử dụng đồng thời mô hình DeAngelo (1986) và mô hình Friedlman
(1994) nghiên cứu với một mẫu gồm 43 công ty CP trong năm đầu niêm yết trên Sở giao dịch Chứng khoán TP.HCM (HOSE) và Sở giao dịch Chứng khoán Hà Nội (HNX) giai đoạn 2008 – 2010 Kết quả nghiên cứu cho thấy phần lớn các công ty niêm yết có điều chỉnh tăng lợi nhuận trong năm đầu niêm yết Thêm vào đó nghiên cứu cũng tìm thấy vấn đề ưu đãi thuế TNDN trong năm đầu niêm yết tác động làm tăng hành vi điều chỉnh lợi nhuận, nhưng không tìm thấy ảnh hưởng của quy mô
công ty đến hành vi điều chỉnh lợi nhuận
Nghiên cứu của Trần Thị Mỹ Tú (2014): “Phân tích các nhân tố ảnh hưởng
đến hành vi quản trị lợi nhuận trên báo cáo tài chính tại các công ty cổ phần niêm yết trên sàn giao dịch chứng khoán TP.HCM.” Với mẫu dữ liệu bao gồm 100 công
ty niêm yết trên sàn chứng khoán TP.HCM giai đoạn 2010 – 2013 và sử dụng mô hình xác định hành vi QTLN của Friedlan (1994), nghiên cứu đã nhận diện một số biến có tác động đến hành vi QTLN, đó là tính độc lập của HĐQT, quy mô công ty kiểm toán, quy mô công ty và đòn bẩy tài chính Trong đó, tính độc lập của HĐQT
và quy mô công ty kiểm toán có tác động ngược chiều đến hành vi QTLN, còn 2
biến quy mô công ty và đòn bẩy tài chính lại có ảnh hưởng cùng chiều
Nghiên cứu của Nguyễn Thị Phương (2014): “Kiểm định mối quan hệ giữa
mức độ công bố thông tin trên báo cáo tài chính với quản trị lợi nhuận của các
công ty niêm yết tại Việt Nam” Nghiên cứu này dựa trên bài nghiên cứu của
Youssef Riahi và Mourina Ben Arab (2011) “Dissclosure frequency and earnings management: an analysis in the Tunisian context” để kiểm định mối quan hệ giữa
mức độ công bố thông tin và QTLN của các công ty niêm yết tại Việt Nam Từ 101
mẫu được chọn qua 4 năm từ 2010 đến 2013, nghiên cứu đưa ra kết quả thực
Trang 20nghiệm về mối quan hệ giữa QTLN và mức độ công bố thông tin, đồng thời cũng chỉ ra được một số biến kiểm soát (gồm giá trị tài sản, máy móc thiết bị thuần; tỷ suất lợi nhuận trên tài sản; chủ thể kiểm toán; quy mô doanh nghiệp và đòn bẩy nợ) ảnh hưởng lần lượt đến hai biến công bố thông tin và QTLN Kết quả đã chứng minh được mức độ công bố thông tin và QTLN có mối quan hệ nghịch biến, nếu các doanh nghiệp có hành vi QTLN tăng thì chắc chắn rằng mức độ công bố thông tin sẽ giảm và ngược lại, khi công ty có mức độ công bố thông tin thấp thì có nhiều
khả năng công ty đó đã sử dụng QTLN
Nghiên cứu của Giáp Thị Liên (2014): “Nghiên cứu mối quan hệ giữa quản
trị công ty và hành vi điều chỉnh lợi nhuận của các công ty niêm yết trên Sở giao
dịch chứng khoán” Thông qua mẫu dữ liệu gồm 101 công ty niêm yết trên Sở giao
dịch chứng khoán TP.HCM giai đoạn 2009 – 2013, nghiên cứu đã sử dụng mô hình của Dechow và cộng sự (1995) để nhận diện hành vi điều chỉnh lợi nhuận, sau đó thực hiện mô hình hồi quy với biến phụ thuộc là hành vi điều chỉnh lợi nhuận cùng
9 biến độc lập thuộc yếu tố quản trị công ty và 1 biến kiểm soát Kết quả nghiên cứu cho thấy, việc tách vai trò Chủ tịch HĐQT và Tổng giám đốc, tăng tỷ lệ thành viên HĐQT không điều hành, tăng tỷ lệ thành viên HĐQT độc lập, và tăng tỷ lệ sở hữu
CP của BGĐ sẽ làm giảm hành vi điều chỉnh lợi nhuận Đồng thời, các công ty có lưu chuyển tiền thuần từ hoạt động kinh doanh càng lớn thì càng làm giảm hành vi điều chỉnh lợi nhuận Thêm vào đó, nghiên cứu không tìm ra mối quan hệ giữa quy
mô HĐQT, tỷ lệ thành viên Ban kiểm soát không kiêm nhiệm chức vụ trong công
ty, tỷ lệ thành viên Ban kiểm soát có chuyên môn về tài chính - kế toán - kiểm toán,
tỷ lệ sở hữu cổ phiếu của Ban kiểm soát cũng như tỷ lệ sở hữu cổ phiếu của thành viên HĐQT với hành vi điều chỉnh lợi nhuận
Nghiên cứu của Đặng Ngọc Hùng (2015): “Nghiên cứu xu hướng quản trị
lợi nhuận do thay đổi thuế suất thuế TNDN của các công ty niêm yết trên thị trường
chứng khoán Việt Nam” được thực hiện trên dữ liệu nghiên cứu được thu thập từ
193 công ty niêm yết trên TTCK Việt Nam giai đoạn 2011 - 2014 Kết quả nghiên cứu cho thấy năm 2013 các công ty điều chỉnh giảm lợi nhuận với mục đích tiết
Trang 21kiệm thuế TNDN, trong khi đó, các năm trước và sau năm 2013 các công ty có xu hướng điều chỉnh tăng lợi nhuận Ngoài ra, kết quả kiểm định phi tham số cũng khẳng định việc điều chỉnh lợi nhuận không phụ thuộc vào quy mô (được đo lường theo doanh thu) của các công ty
1.3 Nhận xét tổng quan nghiên cứu và xác định khe hổng nghiên cứu
1.3.1 Nhận xét tổng quan nghiên cứu
Qua quá trình lược khảo các nghiên cứu trong và ngoài nước có liên quan đến vấn đề nghiên cứu, tác giả có một số nhận xét sau:
- Các nghiên cứu về mối quan hệ giữa cơ cấu sở hữu và hành vi QTLN được nghiên cứu ở nhiều nước trên thế giới và chủ yếu là nghiên cứu thực nghiệm bằng phương pháp định lượng Các nghiên cứu trên thế giới đã khám phá và giải thích khá đầy đủ về sự tác động của cơ cấu sở hữu đến hành vi QTLN, tuy nhiên có sự khác nhau về kết quả nghiên cứu ở các nước Sự khác nhau này có thể là do: sự khác nhau trong việc lựa chọn nhân tố nào liên quan đến cơ cấu sở hữu có tác động đến hành vi QTLN hay mô hình nhận diện hành vi QTLN ở mỗi nước; sự khác nhau
ở việc lựa chọn mẫu nghiên cứu khi thực nghiệm (ảnh hưởng của môi trường kinh
tế, chính trị, văn hóa ở mỗi quốc gia; sự khác biệt ở thời điểm nghiên cứu (khoản thời gian được chọn để lấy mẫu nghiên cứu); sự khác biệt về trình độ phát triển kinh
tế của các nước ở những giai đoạn thời gian khác nhau… Bảng 1.1 tổng hợp các nghiên cứu về mối quan hệ giữa các yếu tố liên quan đến cơ cấu sở hữu và hành vi QTLN
Trang 22Bảng 1.1 Tổng hợp các nghiên cứu về mối quan hệ giữa các yếu tố
liên quan đến cơ cấu sở hữu và hành vi QTLN
Yếu tố liên quan đến
Mức độ tập trung
quyền sở hữu
Kim & Yoon (2008)
Roodposhti & Chashmi (2011)
–
Quyền sở hữu của nhà
nước
Klai & Omri (2011)
Quyền sở hữu của nhà
đầu tư nước ngoài
(Nguồn: Tác giả tự tổng hợp)
- Các nhà nghiên cứu trong nước cũng đã bước đầu quan tâm đến việc nghiên cứu các chủ đề về hành vi QTLN nhưng mới chỉ dừng lại ở việc nghiên cứu về mô hình nhận diện hành vi điều chỉnh lợi nhuận (Phạm Thị Bích Vân, 2012), động cơ của hành vi điều chỉnh lợi nhuận (Nguyễn Thị Minh Trang, 2012), các nhân tố ảnh
Trang 23hưởng đến hành vi QTLN (Trần Thị Mỹ Tú, 2014) hay mối quan hệ giữa mức độ công bố thông tin trên BCTC với QTLN (Nguyễn Thị Phương, 2014) Nghiên cứu
về yếu tố giám sát thuộc quản trị công ty giúp làm giảm hành vi điều chỉnh lợi nhuận của Giáp Thị Liên (2014) đã chỉ ra quản trị công ty có ảnh hưởng đến hành vi điều chỉnh lợi nhuận thông qua các biến liên quan đến HĐQT và Ban kiểm soát, nhưng không đề cập đến ảnh hưởng của cơ cấu sở hữu Các nghiên cứu mà tác giả tìm hiểu bước đầu đã cung cấp cái nhìn tổng quát về QTLN của các công ty niêm yết là cơ sở, định hướng cho các nghiên cứu sâu trong tương lai Một số nghiên cứu cũng đã sử dụng phương pháp định lượng để nghiên cứu về hành vi QTLN nhưng chỉ dừng lại ở việc nghiên cứu cơ cấu sở hữu như là một nhân tố chung tác động đến hành vi QTLN Như vậy, tác giả chưa thấy có nghiên cứu cụ thể nào đi sâu xem xét về tác động của cơ cấu sở hữu đến hành vi QTLN tại Việt Nam
1.3.2 Xác định khe hổng nghiên cứu
Qua việc tổng quan những nghiên cứu trong và ngoài nước nêu trên, tác giả nhận thấy rằng cơ cấu sở hữu thực sự có ảnh hưởng đến hành vi QTLN và ở những đất nước khác nhau, với nền kinh tế, chính trị, văn hóa khác nhau thì sự tác động của từng nhân tố thuộc cơ cấu sở hữu đến QTLN có thể có kết quả khác nhau, thậm chí ngược nhau Trong khi đó, tại Việt Nam, tác giả chưa thấy có nghiên cứu cụ thể nào về mối quan hệ giữa cơ cấu sở hữu và hành vi QTLN Do đó, việc nghiên cứu ảnh hưởng của cơ cấu sở hữu đến hành vi QTLN tại Việt Nam là cần thiết nhằm bổ sung bằng chứng thực nghiệm về tác động cơ cấu sở hữu đến hành vi QTLN ở Việt Nam, từ đó làm tài liệu tham khảo hữu ích cho các đối tượng liên quan như nhà đầu
tư, nhà quản lý doanh nghiệp, kiểm toán viên, cơ quan quản lý nhà nước và các đối tượng khác trong bối cảnh thực trạng chất lượng BCTC của các doanh nghiệp Việt Nam đang rất được quan tâm hiện nay
Xác định được khe hổng nghiên cứu này, luận văn đi vào nghiên ảnh hưởng của cơ cấu sở hữu đến hành vi QTLN thông qua thông tin trình bày trên BCTN nhằm làm rõ tác động của các yếu tố liên quan đến cơ cấu sở hữu đến hành vi QTLN tại công ty niêm yết trên sàn chứng khoán TP.HCM
Trang 24Tóm tắt chương 1
Nội dung chương này trình bày tổng quan các nghiên cứu trong và ngoài nước
có liên quan đến vấn đề nghiên cứu Trên cơ sở đó tìm ra khoảng trống nghiên cứu
và xác định vấn đề nghiên cứu cần thực hiện
Các nghiên cứu thực nghiệm về mối quan hệ giữa cơ cấu sở hữu và hành vi QTLN đã được thực hiện ở nhiều nước trên thế giới Kết quả nghiên cứu đã giải thích khá đầy đủ về sự tác động của cơ cấu sở hữu đến hành vi QTLN, tuy nhiên có
sự khác nhau giữa kết quả nghiên cứu ở mỗi quốc gia do ảnh hưởng của môi trường kinh tế, chính trị văn hóa Tại Việt Nam, các học giả bước đầu đã quan tâm đến chủ
đề hành vi QTLN, tuy nhiên mới chỉ dừng lại ở việc nghiên cứu về mô hình nhận diện hành vi lợi nhuận hay động cơ của hành vi điều chỉnh lợi nhuận hay mối quan
hệ giữa mức độ công bố thông tin trên BCTC với QTLN,…chứ chưa có nghiên cứu nào về mối quan hệ giữa cơ cấu sở hữu và hành vi QTLN Đây chính là khe hổng nghiên cứu mà đề tài hướng đến
Trang 25CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT
2.1 Những vấn đề cơ bản về hành vi quản trị lợi nhuận
2.1.1 Định nghĩa về hành vi quản trị lợi nhuận
QTLN là một vấn đề được rất nhiều nhà nghiên cứu quan tâm và bình luận Tuy nhiên vẫn không có sự đồng thuận về định nghĩa QTLN (Beneish, 2001) Theo Schipper (1989) thì QTLN là sự điều chỉnh lợi nhuận để đạt được mục tiêu đã đặt ra trước đó của nhà quản trị, đó là một sự can thiệp có cân nhắc trong quá trình cung cấp thông tin tài chính nhằm đạt được những mục đích cá nhân Levit (1998) định nghĩa QTLN là một mảng tối mà ở đó kế toán đang bị làm sai do nhà quản trị đã “cắt gọt” các khía cạnh của nó theo ý muốn của họ Vì vậy, báo cáo lãi lỗ phản ánh mong muốn của nhà quản trị hơn là phản ánh tình hình tài chính thực của doanh nghiệp
Bên cạnh đó, Healy và Whalen (1999) cho rằng, điều chỉnh lợi nhuận xảy ra khi nhà quản trị sử dụng các ước tính kế toán hoặc giao dịch nội bộ để tác động đến BCTC, nhằm đánh lừa một số bên liên quan về tình hình hoạt động sản xuất kinh doanh của công ty hoặc làm ảnh hưởng đến các hợp đồng mà có cam kết dựa trên chỉ tiêu lợi nhuận kế toán
Akers và các cộng sự (2007) định nghĩa QTLN như những nỗ lực của nhà quản lý để gây ảnh hưởng hoặc “điều khiển” báo cáo thu nhập bằng cách sử dụng phương pháp kế toán đặc biệt (hoặc các phương pháp đang thay đổi), công nhận một khoản mục không định kỳ, trì hoãn hoặc đẩy nhanh việc ghi nhận các giao dịch chi phí hoặc doanh thu, hoặc sử dụng các phương pháp khác được thiết kế gây ảnh hưởng đến thu nhập ngắn hạn
Quan điểm của Beneish (2001) cho rằng, QTLN là sự can thiệp có cân nhắc nhằm cung cấp thông tin tài chính hữu ích, trung thực về tình hình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp cho các nhà đầu tư và các bên có liên quan, nhằm giúp họ đưa ra các quyết định tài chính liên quan đến doanh nghiệp
Trang 26Tổng hợp lại các khái niệm về QTLN trước đây, Ronen & Yaari (2008) đã phân loại định nghĩa về hành vi QTLN thành 3 nhóm: trắng, xám và đen Nhóm màu trắng tượng trưng cho việc QTLN theo hướng có lợi và làm gia tăng chất lượng BCTC, nhóm màu xám liên quan đến việc thao tác các số liệu kế toán trong hoặc ngoài giới hạn cho phép nhằm mục địch cơ hội hoặc hướng đến hiệu quả kinh tế, và nhóm màu đen biểu thị cho hành vi sử dụng các thủ thuật để làm sai lệch hoặc giảm
sự minh bạch của BCTC
Từ đó, Ronen & Yaari (2008) đã trình bày một khái niệm tổng quát bao gồm tất cả các khía cạnh của QTLN Theo họ, QTLN là “… một tập hợp các quyết định quản lý dẫn đến việc không báo cáo hiện trạng trong ngắn hạn, tối đa hóa giá trị thu nhập theo dự tính của nhà quản lý QTLN có thể: có lợi, có hại hoặc trung tính Nếu
có lợi là tín hiệu cho thấy giá trị ở dài hạn, có hại thì che dấu giá trị ngắn, dài hạn và trung tính sẽ phát hiện kết quả thực hiện đúng trong ngắn hạn” Như vậy, định nghĩa này không chỉ bao gồm hành vi QTLN mà còn bao gồm quyết định quản lý khác, nhằm mục đích trình bày lợi nhuận khác với lợi nhuận thực sự theo hiểu biết của nhà quản lý Đồng thời, định nghĩa này cũng cho thấy, QTLN hợp pháp hay không hợp pháp đều gây hiểu nhầm khi cung cấp thông tin có giá trị cho người sử dụng BCTC, ảnh hưởng đến chất lượng BCTC của doanh nghiệp
Từ đó, ta nhận thấy QTLN là hành động có mục đích của nhà quản lý bằng cách sử dụng các hình thức chi phối thu nhập như lựa chọn chính sách kế toán hay thông qua thực hiện các nghiệp vụ kinh tế, sử dụng các hành động quản lý nhằm mục đích gây hiểu nhầm khi cung cấp thông tin cho người sử dụng để đạt được lợi ích nào đó
Trong phần lớn các nghiên cứu (ví dụ: Lo, 2007; Roychowdhury, 2006; Graham và cộng sự, 2005) đã nhóm QTLN thành hai loại: QTLN thực (Real Earnings Management) như là một ảnh hưởng của dòng tiền và QTLN dựa trên biến
kế toán dồn tích (Accrual Management) thông qua những thay đổi trong chính sách
kế toán và ước tính kế toán Tuy nhiên, có nhiều ý kiến ủng hộ cho rằng các NQL sẽ
sử dụng phương pháp biến kế toán dồn tích có thể điều chỉnh để điều chỉnh doanh
Trang 27thu dịch chuyển giữa các kỳ kế toán hoặc trong việc trì hoãn chi tiêu (Jones, 1991; Dechow và các cộng sự, 1995) Vì vậy, trong phạm vi của luận văn này, tác giả sử dụng biến kế toán dồn tích để nhận diện hành vi QTLN
2.1.2 Động cơ của hành vi quản trị lợi nhuận
Nhà quản lý có thể có nhiều động lực để thực hiện hành vi QTLN nhằm đặt được một mục tiêu nào đó Trong bối cảnh môi trường kinh doanh phát triển mạnh
mẽ đầy cạnh tranh hiện nay cùng với sự biến động của TTCK, hầu hết nhà quản lý doanh nghiệp thực hiện hành vi QTLN để điều chỉnh mức lợi nhuận theo mong muốn bằng cách “bóp méo” thông tin kế toán nhưng vẫn đảm bảo luồng thông tin này vẫn nằm trong khuôn khổ của chuẩn mực kế toán và các quy định liên quan Do
đó, hành vi QTLN là sự vận động linh hoạt, khéo léo các “khoản trống tự do” trong chuẩn mực kế toán để sắp xếp lại BCTC theo mục đích của nhà quản lý Có nhiều động cơ dẫn đến hành vi QTLN của nhà quản lý được nhắc nhiều trong các nghiên cứu bao gồm:
Động cơ về hợp đồng thù lao:
Theo lý thuyết ủy nhiệm, nhà quản lý có xu hướng hành động để tối đa hóa lợi ích của mình Khi hợp đồng thù lao của nhà quản lý dựa trên kết quả hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp như chỉ số lợi nhuận thì các nhà quản lý có xu hướng điều chỉnh tăng lợi nhuận kế toán trong kỳ Khi đó, nhà quản lý sẽ được hưởng nhiều quyền lợi khi hoàn thành các chỉ tiêu được giao, chẳng hạn như các khoản thưởng,
đề bạt, tăng lương, và cả việc giữ được vị trí của mình Do đó, nếu không hoàn thành các chỉ tiêu lợi nhuận, nhà quản lý có thể điều chỉnh tăng lợi nhuận để đạt được các chỉ tiêu này, hoặc khi đã đạt vượt chỉ tiêu lợi nhuận nhưng mức thưởng có giới hạn, nhà quản lý có thể điều chuyển bớt lợi nhuận sang năm sau Mặt khác, nhà quản lý cũng có thể sở hữu cổ phiếu của DN Khi này, nếu muốn bán đi số cổ phiếu nắm giữ và thu lợi được mức cao, nhà quản lý cũng có thể điều chỉnh lợi nhuận tăng
để tác động vào giá cổ phiếu nhằm thu lợi Trong nhiều trường hợp, một số doanh nghiệp thưởng cho nhà quản lý các cấp dựa trên chỉ tiêu lợi nhuận hay hiệu quả
Trang 28kinh doanh, nên để có được mức tiền thưởng họ có thể thực hiện điều chỉnh tăng lợi
nhuận thực tế của doanh nghiệp
Động cơ về hợp đồng nợ:
Một số doanh nghiệp có động cơ điều chỉnh tăng lợi nhuận nhằm tránh vi phạm hợp đồng nợ Bởi các ngân hàng và chủ nợ yêu cầu doanh nghiệp đạt được một kết quả kinh doanh nhất định thể hiện qua số liệu kế toán Nếu doanh nghiệp không thực hiện được, các ngân hàng và chủ nợ có thể tăng lãi suất đối với các khoản nợ hoặc yêu cầu doanh nghiệp thanh toán các khoản nợ ngay lập tức Vì các chủ nợ cho rằng, nếu doanh nghiệp làm ăn không có lãi thì khả năng thanh toán nợ cho họ khó khăn hơn Từ đó, rủi ro rất lớn đối với các chủ nợ trong việc thu hồi vốn cho vay Hệ quả là, các nhà quản trị sử dụng các thủ thuật điều chỉnh lợi nhuận nhằm tránh các rắc rối liên quan đến các hợp đồng đi vay
Động cơ phát hành cổ phiếu:
Đối với các doanh nghiệp phát hành cổ phiếu ra công chúng, đặc biệt là các doanh nghiệp CP lần đầu niêm yết trên TTCK muốn tạo “sức hút” đối với các nhà đầu tư, ngoài yếu tố như lĩnh vực kinh doanh, tiềm lực tài chính, quy mô hoạt động,
dự án phát triển trong tương lai…thì chỉ tiêu lợi nhuận là một trong những chỉ tiêu thu hút sự quan tâm của nhà đầu tư Đó cũng là một trong những lý do khiến nhà quản lý tìm cách “xào nấu số liệu”; “quản trị lợi nhuận” theo hướng điều chỉnh tăng lợi nhuận tối đa có thể (trong khuôn khổ cho phép của chuẩn mực, chế độ kế toán) làm cho kết quả của doanh nghiệp “đẹp” hơn nhằm đạt được mục tiêu huy động vốn của mình theo đúng tiến độ đã vạch ra và thu hút nhiều nhà đầu tư, tăng giá trị thị trường của cổ phiếu Tại Việt Nam, nghiên cứu của Huỳnh Thị vân (2012) đã cung cấp bằng chứng cho thấy phần lớn các công ty CP niêm yết trên TTCK Việt Nam điều chỉnh tăng lợi nhuận trước khi phát hành cổ phiếu ra công chúng lần đầu (IPO)
Động cơ san bằng lợi nhuận giữa các kỳ kế toán để đảm bảo xu hướng lợi
nhuận bền vững trong dài hạn:
Các doanh nghiệp nỗ lực giảm thiểu sự biến động trong chỉ tiêu lợi nhuận giữa các kỳ kế toán nhằm giữ giá cổ phiếu được ổn định hoặc làm tăng giá trị thị trường
Trang 29của cổ phiếu Bởi vì lợi nhuận giữa các kỳ kế toán biến động lớn đồng nghĩa với rủi
ro cao khi đầu tư vào công ty đó, vì thế, giá cổ phiếu sẽ rớt giá so với giá cổ phiếu của các công ty có lợi nhuận ổn định qua các kỳ kế toán Do đó, nhà quản lý của các doanh nghiệp niêm yết có khuynh hướng điều chỉnh lợi nhuận theo hướng san bằng nhằm đạt được sự ổn định về lợi nhuận giữa các kỳ kế toán để đảm bảo lợi nhuận bền vững trong dài hạn Trong những năm tình hình kinh doanh thuận lợi, doanh nghiệp đạt lợi nhuận cao hơn so với kế hoạch, nhà quản lý có thể muốn để dành lợi nhuận cho năm sau Ngược lại, khi tình hình kinh doanh khó khăn, doanh nghiệp khó đạt lợi nhuận theo kế hoạch thậm chí là thua lỗ, xu hướng giảm lợi nhuận hay tăng lỗ trong năm (nhằm giảm chi phí năm sau) cũng xuất hiện
Động cơ pháp lý:
Các nghiên cứu chỉ ra rằng các quy định về pháp lý cũng là động cơ làm xuất hiện hành vi QTLN Doanh nghiệp có thể thực hiện hành vi QTLN để tối thiểu hóa chi phí thuế TNDN hoặc trì hoãn thanh toán thuế hoặc hưởng ưu đãi thuế Nghiên cứu của Nguyễn Thị Phương Thảo (2011) cho thấy việc giảm thuế suất thuế TNDN
có ảnh hưởng lớn đến động cơ QTLN của các công ty CP niêm yết Đối với các doanh nghiệp thuộc các đối tượng tham gia các chương trình giải thưởng của tỉnh, thành phố hay quốc gia… động cơ thực hiện QTLN cũng khá rõ ràng
2.1.3 Các thủ thuật quản trị lợi nhuận trong kế toán
Hầu hết thông tin kế toán trên BCTC đều có thể chịu tác động bởi sự sáng tạo của kế toán ở một mức độ nhất định Các thông tin trên BCTC có thể bị điều chỉnh thông qua chính sách kế toán đó là: lựa chọn các phương pháp kế toán, sử dụng các ước tính kế toán và dàn xếp các nghiệp vụ kế toán BCTC được thực hiện dựa trên
cơ sở của chuẩn mực kế toán, chế độ kế toán và các thông tư hướng dẫn mà các chuẩn mực kế toán luôn tạo “khoảng không tự do” cho doanh nghiệp lựa chọn Bởi vậy, trên thực tế việc vận dụng chính sách kế toán là phương tiện rất hữu hiệu để thực hiện các thủ thuật QTLN trên thông tin kế toán của doanh nghiệp Lựa chọn chính sách kế toán là việc chọn lựa có cân nhắc nằm trong khuôn khổ của chuẩn mực kế toán về các nguyên tắc, cơ sở và các phương pháp kế toán mà doanh nghiệp
Trang 30có thể áp dụng trong các trường hợp khác nhau nhằm phục vụ cho mục đích chủ quan của nhà quản trị Trên cơ sở nghiên cứu, tổng kết các tình huống trong thực tế,
có thể thấy một số thủ thuật được sử dụng để QTLN trong kế toán, bao gồm:
Lựa chọn phương pháp kế toán (Accounting Methods)
Lựa chọn phương pháp kế toán có ảnh hưởng đến thời điểm ghi nhận doanh thu và chi phí (và kết quả là ảnh hưởng đến thời điểm ghi nhận lợi nhuận) Lựa chọn một (hoặc một số) phương pháp kế toán cho phép ghi nhận doanh thu sớm hơn và chuyển dịch ghi nhận chi phí về sau sẽ làm tăng lợi nhuận báo cáo trong kỳ, và ngược lại Nhà quản trị quyết định chuyển dịch về sau (hoặc ghi nhận sớm hơn) một
số loại chi phí sẽ làm giảm (hoặc tăng) chi phí của niên độ hiện hành Các loại chi phí có thể chuyển dịch thời điểm ghi nhận bao gồm: chi phí bảo hiểm hỏa hoạn, giá trị công cụ, dụng cụ phân bổ nhiều kỳ, chi phí sửa chữa tài sản cố định, chi phí quảng cáo, chi phí bảo hành sản phẩm, chi phí bán hàng, chi phí quản lý doanh nghiệp Những loại chi phí này có thể được ghi nhận vào niên độ phát sinh hoặc phân bổ cho một số kỳ kế toán
Trong chế độ kế toán doanh nghiệp của Việt Nam, tồn tại một số phương pháp
kế toán có thể được vận dụng để ghi nhận doanh thu, chi phí:
- Lựa chọn phương pháp phần trăm hoàn thành để ghi nhận doanh thu và chi phí trong hoạt động cung cấp dịch vụ và hợp đồng xây dựng Phương pháp này cho phép doanh nghiệp ghi nhận mức doanh thu lớn hơn hoặc nhỏ hơn thực tế theo tỷ lệ ước tính tiến độ thực hiện hợp đồng Mặc dù thực tế hiện nay việc đánh giá mức độ hoàn thành của các công trình phải do bộ phận có chuyên môn kỹ thuật thực hiện,
kế toán chỉ căn cứ vào kết quả đánh giá để xác định doanh thu và chi phí tương ứng nhưng dưới sự tác động của nhà quản lý vẫn có sự thao túng làm sai so với thực tế
để thỏa mãn ý đồ ghi nhận doanh thu, chi phí trong các hợp đồng xây dựng
- Lựa chọn phương pháp xác định giá trị hàng tồn kho (bình quân, nhập trước - xuất trước, thực tế đích danh) ảnh hưởng đến ghi nhận giá vốn hàng bán trong kỳ,
và từ đó ảnh hưởng đến lợi nhuận báo cáo trong kỳ
Trang 31- Lựa chọn phương pháp phân bổ giá trị công cụ dụng cụ xuất dùng (1 lần, 2 lần, nhiều lần) hay phương pháp khấu hao TSCĐ (đường thẳng, tỷ lệ sử dụng, số dư giảm dần có điều chỉnh) Mỗi phương pháp này sẽ dẫn đến các số liệu khác nhau trên các BCTC về chi phí, lợi nhuận và giá trị tài sản của doanh nghiệp
Sử dụng các ƣớc tính kế toán (Accrual earnings management)
Trong quy trình lập BCTC các công ty thường phải sử dụng rất nhiều các ước tính kế toán Giá trị các ước tính này thường có ảnh hưởng trực tiếp tới mức lợi nhuận trong kỳ của công ty Vì là các ước tính nên không thể có một tiêu chuẩn chính xác về giá trị các khoản mục này Chính vì vậy, các công ty thường sử dụng các ước tính kế toán như là một công cụ đắc lực để QTLN Chế độ kế toán - tài chính luôn có một khoảng dao động giữa mức tối đa và mức tối thiểu cho các ước tính kế toán, việc chọn một mức cụ thể trong khoảng dao động cho phép đó sẽ ảnh hưởng tới giá trị tài sản và lợi nhuận báo cáo Ví dụ, theo Thông tư 45/2013/TT-BTC ngày 25/04/2013 qui định phương tiện vận tải đường bộ có khung thời gian trích khấu hao từ 6 năm tới 10 năm Để quyết định chọn thời gian trích khấu hao cho một chiếc ô tô, kế toán sẽ phải ước tính thời gian sử dụng kinh tế của chiếc ô tô này, từ đó ảnh hưởng tới mức trích khấu hao Ngoài ra, một số thủ thuật nhằm quản trị tăng lợi nhuận thông qua các ước tính kế toán thường gặp là: giảm mức dự phòng giảm giá hàng tồn kho, giảm dự phòng phải thu khó đòi, không ghi nhận chi phí khi tài sản bị giảm giá xuống dưới giá trị thuần, vốn hóa các khoản chi phí không đủ điều kiện vốn hóa, “làm mềm” chi phí khó đo đếm (ví dụ chi phí nghiên cứu & phát triển (R&D) do chi phí R&D được ước tính của công ty phụ thuộc vào sự ứng dụng của công nghệ đang nghiên cứu trong tương lai, và lợi nhuận kiếm được thông qua mua bán công nghệ này),…
Các thủ thuật QTLN dựa trên các ước tính kế toán nêu trên thực chất không làm tăng thêm lợi nhuận mà chỉ đơn thuần chuyển lợi nhuận từ các kỳ sau về kỳ hiện tại nhằm tạo ra ảo tưởng rằng công ty đang làm ăn phát đạt Hậu quả tất yếu là lợi nhuận các năm sau sẽ bị giảm sút Để tiếp tục đáp ứng kỳ vọng ngày càng cao của thị trường thì BCTC các năm tiếp theo cũng sẽ phải được điều chỉnh
Trang 32 Dàn xếp các nghiệp vụ kế toán (Real earnings management)
Ngoài việc sử dụng các phương pháp và ước tính kế toán như trên, các doanh nghiệp còn có thể QTLN của mình thông qua việc dàn xếp một số giao dịch thực tế, mặc dù các giao dịch đó có thể không có lợi cho công ty về lâu dài Dưới đây là một
sẽ sắp xếp các điều khoản trên hợp đồng thuê để có được số liệu trên BCTC theo đúng mục đích của doanh nghiệp Chẳng hạn, doanh nghiệp đã dàn xếp 1 hợp đồng thuê tài sản tài chính thành thuê hoạt động qua việc ký hợp đồng thuê tài sản hoạt động với cam kết không hủy ngang trong khoảng thời gian khá dài
(2) Thổi phồng doanh thu thông qua chính sách giá và chính sách tín dụng:
Việc ghi nhận doanh thu trên BCTC phụ thuộc vào rất nhiều yếu tố khách quan và chủ quan Biện pháp thông thường mà các doanh nghiệp sử dụng để tăng lợi nhuận khi nhận thấy nguy cơ không đạt kế hoạch lợi nhuận dự tính là giảm giá bán hoặc nới lỏng các điều kiện tín dụng nhằm tăng sản lượng hàng bán ra trong những tháng cuối năm tài chính Biện pháp thứ hai cũng thường được sử dụng đối với những công ty cung cấp các mặt hàng sử dụng lâu dài là công bố kế hoạch tăng giá bán đầu năm sau Ví dụ, để tăng lợi nhuận trong quý 4/N, công ty có thể công bố kế hoạch tăng giá bán từ quý 1 năm N+1, có thể doanh thu quý 4/N sẽ tăng vọt Mặc dù hai biện pháp này cho phép công ty thổi lợi nhuận năm hiện tại, lợi nhuận các năm sau
Trang 33sẽ bị giảm vì thực chất công ty đã chuyển lợi nhuận của năm sau sang năm hiện tại Biện pháp tăng giá bán năm sau thậm chí còn có tác động tiêu cực hơn vì việc tăng giá có thể sẽ ảnh hưởng xấu tới khả năng cạnh tranh của công ty trên thị trường
(3) Điều chỉnh một số chi phí hữu ích: Các nhà quản trị doanh nghiệp có thể
quyết định khi nào và ở mức bao nhiêu các chi phí quảng cáo, chi phí sửa chữa, chi phí nâng cấp cải tạo TSCĐ được chi ra có thể tính hết vào niên độ hiện hành hoặc phân bổ dần cho các niên độ sau Với quyết định khác nhau của nhà quản trị sẽ ảnh hưởng đến chi phí và từ đó ảnh hưởng đến lợi nhuận của niên độ hiện hành Thực
tế, các chi phí này có vai trò rất quan trọng cho sự phát triển của công ty trong dài hạn nhưng để đạt được mục tiêu lợi nhuận ngắn hạn ban lãnh đạo công ty có thể sẽ chọn giải pháp cắt giảm các chi phí này, đồng nghĩa với việc hy sinh các khoản lợi nhuận tiềm năng lớn trong tương lai
(4) Trì hoãn việc thanh lý tài sản không có nhu cầu sử dụng hoặc các khoản đầu tư không hiệu quả: Đây là các tài sản doanh nghiệp không có nhu cầu sử dụng
nữa hoặc các khoản đầu tư không mang lại hiệu quả kinh tế Đối với các tài sản và các khoản đầu tư này giải pháp tối ưu là thanh lý càng sớm càng tốt Tuy nhiên, việc thanh lý các tài sản này thường đi kèm một khoản lỗ cho công ty trong năm hiện tại
Do đó, nếu lợi nhuận năm hiện tại có nguy cơ không đạt được mức kỳ vọng của thị trường thì lãnh đạo công ty có thể sẽ không muốn thanh lý chúng, dù rằng việc trì hoãn này sẽ mang lại nhiều thiệt hại cho công ty Ví dụ, chậm thanh lý các tài sản không có nhu cầu sử dụng sẽ làm phát sinh chi phí bảo quản, cản trở không gian sản xuất Đồng thời, với các tài sản và các khoản đầu tư không hiệu quả thì càng nắm giữ chúng lâu doanh nghiệp càng lỗ nhiều hơn
(5) Bán các khoản đầu tư có hiệu quả cao: ngược với việc trì hoãn thanh lý
các khoản đầu tư không hiệu quả, công ty có thể bán các khoản đầu tư đang có lãi nhằm tăng thêm mức lợi nhuận cho năm hiện tại (hành động này thường được ví với việc “gặt lúa non”) Áp dụng biện pháp này cũng đồng nghĩa với việc công ty tự nguyện bỏ qua tiềm năng sinh lợi lớn từ các khoản đầu tư này trong các năm tiếp theo
Trang 34(6) Các nghiệp vụ kinh tế được liên kết với nhau một cách phức tạp nhằm làm sai lệch bản chất của các giao dịch thông qua các hình thức pháp lý khác nhau
Trường hợp này thường là những nghiệp vụ kinh tế phức tạp, chẳng hạn như giao dịch bán và mua lại TSCĐ, phát hành trái phiếu chuyển đổi, ghi nhận doanh thu đối với bán kèm theo với các điều kiện ưu đãi về chiết khấu, giảm giá dưới các hình thức khác nhau, doanh thu đối với trường hợp bán hàng nội bộ, ghi nhận doanh thu đối với việc bán hàng sau đó lại được mua lại bởi chính doanh nghiệp bán,…Với các trường hợp này, nếu căn cứ vào hình thức pháp lý của từng giao dịch
để ghi nhận và trình bày BCTC sẽ không thấy hết được sự tác động của giao dịch đến tình hình tài chính của doanh nghiệp, bởi vì các giao dịch này mặc dù hồ sơ pháp lý khác nhau, nhưng bản chất kinh tế lại có liên quan đến nhau Ví dụ, ghi nhận doanh thu trong trường hợp hàng bán ra và được mua lại bởi chính đơn vị bán (bán hàng lòng vòng) Về mặt pháp lý, mặc dù giao dịch bán hàng đều có hồ sơ chứng từ đầy đủ, nếu chỉ căn cứ vào hồ sơ để ghi nhận doanh thu thì ngay tức thời cùng 1 lô hàng di chuyển lòng vòng doanh thu và công nợ xuất hiện trên các BCTC riêng của các đơn vị tham gia vào giao dịch này còn hàng vẫn nằm trong kho của đơn vị bán Đây thực chất là hiện tượng hợp thức hóa bản chất để che giấu bản chất thực sự của giao dịch, đặc biệt trong các tập đoàn kinh tế với cơ chế sở hữu chéo như hiện nay
(7) Sản xuất quá mức công suất tối ưu: trong điều kiện thông thường, mỗi
doanh nghiệp thường xác định cho mình một mức công suất sản xuất tối ưu, tùy thuộc vào năng lực nội tại cũng như điều kiện thị trường Tuy nhiên, trong trường hợp cần thiết phải thổi lợi nhuận, lãnh đạo công ty có thể sẽ quyết định sản xuất với mức cao hơn công suất tối ưu Điều này cho phép công ty giảm giá thành đơn vị sản phẩm (nhờ tận dụng chi phí cố định), qua đó tăng lợi nhuận trong năm hiện tại Tuy nhiên, mặt trái của việc làm này là máy móc thiết bị phải làm việc với công suất cao hơn mức tối ưu, ảnh hưởng tiêu cực tới năng suất và độ bền của thiết bị Đồng thời, sản phẩm làm ra nhiều không bán được sẽ làm phát sinh chi phí bảo quản Hàng tồn
Trang 35kho lâu ngày dẫn tới giảm giá trị Các chi phí này sẽ ảnh hưởng trực tiếp tới lợi
nhuận của công ty trong các năm tiếp theo
Ngoài việc dàn xếp những nghiệp vụ kế toán nêu trên, nhà quản trị còn có thể QTLN qua việc tạo nghiệp vụ ảo (ký các hợp đồng mua bán với số lượng cao và giá bán tốt với một số công ty mà thực chất là công ty mẹ; nhân viên bán hàng cũng có thể thỏa thuận với khách hàng lấy nhiều hàng vào cuối năm; công ty vội vàng ghi nhận doanh thu khi khách hàng mới chỉ dùng thử sản phẩm và có quyền trả lại hàng hóa,…)
2.1.4 Các mô hình nhận diện hành vi quản trị lợi nhuận
Trong các mô hình nhận diện hành vi QTLN công bố ở nước ngoài, các tác giả
đã dựa trên nguyên tắc CSDT của kế toán để chia lợi nhuận trong kỳ của doanh nghiệp thành hai loại là lợi nhuận thực thu bằng tiền (cash earnings) và lợi nhuận dồn tích (accrual earnings) Trong đó, lợi nhuận thực thu bằng tiền hình thành từ các khoản doanh thu và chi phí bằng tiền mà doanh nghiệp đã thu và chi trong kỳ Riêng lợi nhuận dồn tích là lợi nhuận được tính trong kỳ của doanh nghiệp nhưng chưa thu được bằng tiền như các khoản doanh thu bán chịu cho khách hàng sau khi
đã trừ các khoản chi phí không phải chi trả bằng tiền; các khoản chi phí phải trả; chi phí trích trước; các khoản dự phòng giảm giá tài sản; dự phòng phải trả, khấu hao TSCĐ trong kỳ
Các nhà quản lý thường không thể thực hiện hành vi điều chỉnh trên các khoản lợinhuận bằng tiền Tuy nhiên, đối với khoản lợi nhuận dồn tích thì nhà quản
lý có thể điều chỉnh khi sử dụng nguyên tắc CSDT trong kế toán thông qua các kỹ thuật QTLN như ghi nhận doanh thu khi chưa phát sinh nghiệp vụ bán hàng, cung cấp dịch vụ hoặc sử dụng việc trích lập các khoản dự phòng, chi phí phải trả, phân
bổ chi phí trả trước nhằm gia tăng hay giảm bớt chi phí trong kỳ…
Chou và cộng sự (2006) đã chỉ ra nguyên tắc cơ bản của QTLN dựa trên CSDT là tạo ra sự khác biệt giữa lợi nhuận kế toán và dòng tiền thực tế từ hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp Trong đó, dòng tiền thực tế từ hoạt động kinh doanh không thể bị điều chỉnh còn lợi nhuận kế toán lại có thể bị điều chỉnh theo ý muốn
Trang 36của nhà quản lý Phần chênh lệch này được gọi là tổng biến kế toán dồn tích (Total accruals – TA) được tính bằng cách lấy tổng lợi nhuận kế toán sau thuế trừ lưu chuyển tiền thuần từ hoạt động kinh doanh:
TA = Lợi nhuận sau thuế – Dòng tiền thuần từ hoạt động kinh doanh
Tuy nhiên, không thể sử dụng biến TA để đo lường mức độ QTLN một cách trực tiếp, do đócác nhà nghiên cứu đã tách biến TA ra làm hai phần gồm: biến kế toán dồn tích không thể điều chỉnh (Nondiscretionary accruals - NDA) là các khoản dồn tích được thực hiện theo những quiđịnh, nguyên tắc của chuẩn mực và chế độ
kế toán và biến kế toán dồn tích có thể điều chỉnh (Discretionay accruals - DA) là các khoản dồn tích do nhà quản lý thực hiện nhằm mục đích điều chỉnh lợi nhuận trong kỳ
ra việc quan trọng nhất trong mô hình nghiên cứu QTLN dựa trên CSDT là chỉ ra được đâu là NDA và đâu là DA Các nhà nghiên cứu trên Thế giới đã đưa ra nhiều
mô hình khác nhau để ước lượng NDA
Mô hình của Healy (1985)
Mô hình của Healy (1985) sử dụng giá trị trung bình của tổng dồn tích (TA) được chia cho tổng tài sản trễ một năm (A )t1 trong giai đoạn nghiên cứu như là một cách đo lường của NDA
Trang 37TA :Biến kế toán dồn tích năm t của công ty i
i t
A : Tổng tài sản năm t-1 của công ty i
n: Số năm trong kỳ ước tính và t là một năm trong số những năm (n, n+1,…, t-1) thuộc giai đoạn nghiên cứu
t-Theo mô hình của Healy, khi không có hành động điều chỉnh lợi nhuận của nhà quản trị, DA bằng 0 và TA chính là NDA NDA chính là giá trị trung bình của
TA Hay nói cách khác, NDA không thay đổi từ năm này sang năm khác trong khi thực tế nó có thể thay đổi do thay đổi mức độ hoạt động
Mô hình DeAngelo (1986)
Mô hình DeAngelo (1986) so sánh tổng biến kế toán dồn tích (TA) giữa thời
kì t với thời kì t-1 và chênh lệch của biến kế toán dồn tích giữa hai kỳ chính là lợi nhuận được điều chỉnh (DA) Vì vậy biến kế toán dồn tích không thể điều chỉnh là biến kế toán dồn tích của năm trước (TA t1)
Biến kế toán dồn tích không thể điều chỉnh của công ty i năm sự kiện :
1 2
it it it
TA NDA
Dù ưu điểm hơn mô hình Healy, tuy nhiên DeAngelo cho rằng ở hai năm liền
kề thì mức độ hoạt động thông thường của doanh nghiệp khó có sự thay đổi, trong khi đó nếu doanh nghiệp đang ở thời kỳ tăng trưởng thì mức độ hoạt động sẽ thay đổi theo từng năm Do đó mô hình này cũng chưa thật sự chính xác Mô hình DeAngelo hiện nay vẫn được sử dụng trong mục đích so sánh hiệu quả giữa các mô hình nghiên cứu với nhau
Mô hình của Jones (1991)
Jones (1991) được xây dựng dựa trên sự kế thừa của mô hình Healy (1985) và
mô hình của DeAngelo (1986) Tuy nhiên, Jones đề xuất một mô hình để kiểm soát các tác động của những thay đổi trong hoàn cảnh kinh tế của một công ty lên biến
Trang 38NDA bằng cách bổ sung thêm biến động về doanh thu thuần và nguyên giá TSCĐ
A : Tổng tài sản cuối năm t-1
α1, α2, α3: các tham số của từng công ty
t: năm t cần nghiên cứu hành vi QTLN
i: công ty i cần nghiên cứu hành vi QTLN
Ước tính các tham số α1, α2, α3 trong mô hình trên thông qua ước lượng OLS của a1, a2, a3 trong mô hình sau:
Mô hình Modified Jones của Dechow và các cộng sự (1995)
Dechow và cộng sự (1995) đã cải tiến mô hình Jones (1991) trong việc đo lường biến kế toán dồn tích có thể điều chỉnh bằng cách bổ sung thêm biến biến động khoản phải thu khách hàng (REC) vào mô hình:
Trang 39Tuy nhiên, các tham số α1, α2, α3 trong mô hình trên vẫn được ước lượng thông qua ước lượng OLS của a1, a2, a3 trong mô hình sau:
Mô hình của Kothari và các cộng sự (2005)
Kothari và các cộng sự (2005) đã tiếp tục phát triển mô hình của Jones và Dechow và các cộng sự (1995) trên cơ sở xem xét hiệu quả kinh tế hiện tại và quá khứ của công ty được đo lường thông qua lợi nhuận trên tài sản (ROA) Và ở đây hiệu quả hoạt động của công ty được xem như một biến độc lập trong việc ước tính biến kế toán dồn tích có thể điều chỉnh
Mô hình của Kothari và các cộng sự (2005) đề xuất như sau:
Trong đó: ROA it1 là tỷ suất lợi nhuận trên tài sản của năm t-1
Dechow, Sloan và Sweeney (1995) đã chỉ ra rằng mô hình Modified Jones đã phát hiện ra hành vi QTLN tốt hơn so với mô hình Jones và các mô hình khác như
mô hình của Healy (1985) hay DeAngelo (1986) Đồng thời, một số nghiên cứu cũng cho rằng mô hình đo lường biến kế toán dồn tích có thể điểu chỉnh theo nghiên cứu của Dechow và các cộng sự (1995) là mô hình tốt nhất để phát hiện hành vi QTLN Và theo Nguyễn Công Phương (2005), mô hình Modified Jones được xem
là ưu việt hiện nay để nhận diện QTLN Vì vậy, luận văn đã sử dụng mô hình Modified Jones của Dechow và các cộng sự (1995) để nhận diện cho hành vi QTLN Các nghiên cứu của Park & Shin (2004), Jaggi & Leung (2007), Kim và Yoon (2008), Jang và cộng sự (2009), Wang & Yung (2011), Roodposhti & Chashmi (2011), Alves Sandra (2012), Aygun & cộng sự (2014) … cũng đã sử dụng mô hình này để đo lường biến phụ thuộc QTLN trong các nghiên cứu của họ
2.2 Cơ cấu sở hữu và hành vi quản trị lợi nhuận
2.2.1 Cơ cấu sở hữu
Trang 40Trong tổng thể hệ thống quản trị cộng ty, cơ cấu sở hữu (ownership structure)
là thành phần được nhiều nhà nghiên cứu chú ý Khái niệm cơ cấu sở hữu là một chủ đề quan trọng trong khái niệm rộng về quản trị công ty (Alireza và Ali, 2011) Jensen và Meckling (1976) đề cập đến khái niệm "cơ cấu sở hữu" để chỉ phần vốn được nắm giữa bởi những thành viên bên trong công ty (thành phần quản lý trực tiếp) và bên ngoài công ty (nhà đầu tư không giữa vai trò quản lý trực tiếp) Tương
tự, theo nghiên cứu của Abdella (2005), cơ cấu sở hữu trong mô hình của các công
ty được khảo sát cơ bản là sở hữu phân chia (fractionated ownership), tức là các cổ đông nắm giữ phần vốn nào đó trong một công ty, đây là cơ chế quan trọng để huy động một lượng vốn lớn cho mô hình tổ chức kinh doanh hiện đại và tạo sự giàu có thông qua việc phát hành cổ phiếu
Như vậy, cơ cấu sở hữu được hiểu là sự phân bổ vốn chủ sở hữu theo mối tương quan tỷ lệ vốn chủ sở hữu được nắm giữ bởi các chủ sở hữu Cơ cấu sở hữu
có ảnh hưởng rất quan trọng trong việc điều hành doanh nghiệp do nó tác động đến việc ra quyết định của các nhà quản lý
Cơ cấu sở hữu có thể được xác định theo hai khía cạnh: mức độ tập trung quyền sở hữu và theo chủ thể nắm giữ CP
Theo mức độ tập trung quyền sở hữu bao gồm:
Cơ cấu sở hữu tập trung được hiểu là việc một cá nhân hoặc một nhóm cá nhân liên quan hoặc tổ chức sở hữu phần lớn vốn chủ sở hữu của một doanh nghiệp
và có quyền chi phối các quyết định của doanh nghiệp Những cổ đông lớn kiểm soát doanh nghiệp trực tiếp bằng cách tham gia HĐQT và ban điều hành Cổ đông lớn có thể không sở hữu vốn toàn bộ nhưng có quyền biểu quyết đáng kể, nên vẫn
có thể được kiểm soát doanh nghiệp
Cơ cấu sở hữu phân tán là việc không có cá nhân hoặc nhóm các cá nhân,
tổ chức nào sở hữu đa số vốn của doanh nghiệp và có quyền chi phối doanh nghiệp Đối với hình thức cấu trúc này, một công ty có nhiều cổ đông Mỗi cổ đông sở hữu một số CP doanh nghiệp, quyền kiểm soát hoạt động doanh nghiệp do BGĐ nắm