1. Trang chủ
  2. » Tất cả

Thực trạng và xu hướng phát triển của các hình thức đầu tư trực tiếp nước ngoài tại việt nam

116 2 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Thực trạng và xu hướng phát triển của các hình thức đầu tư trực tiếp nước ngoài tại Việt Nam
Người hướng dẫn PGS. - IS Nguyễn Như Bình
Trường học Học viện tài chính - http://www.hvtc.edu.vn
Chuyên ngành Kinh tế
Thể loại Luận văn thạc sĩ
Năm xuất bản 2000
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 116
Dung lượng 43,99 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

MỞ ĐẨUTheo Luật đầu tư nước ngoài tại Việt Nam, các nhà đầu tư nước ngoài được đầu tư vào Việt Nam dưới 3 hình thức: doanh nghiệp liên doanh, doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài và hợp tác

Trang 2

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

CỦ A C Á C HÌNH THỨC ĐẦU Tư TRỰC TIẾP

Ỳ Ặ

LUẬN VÃN TH ẠC SỸ QUẢN T R Ị KINH DOANH

CHUYÊN NGÀNH QUẢN T R Ị KINH DOANH QUÔC TẾ

Nguôi hướng dẫn khoa học:

PGS - I S NGUYỄN NHƯ BÌNH

Ịrm M G TÀM T L T T th i / v A ị I

LU ỈN A N - U M k Va m

HÀ NÔI - 2000

Trang 3

b ả n g c á c k ý h i ệ u , c á c c h ữ v i ế t t ắ t

hội các nước Đông Nam Á

Đông Nam Á

Chuyển giao

Quốc tế

chức hợp tác phát triển kinh tế

Trang 4

M UC LỤC

CHƯƠNG I: MỘT s ố VẤN ĐỂ c ơ b ả n VỂ h ì n h t h ứ c đ â u

Tư TRỤC TIẾP NƯỚC NGOÀI

11 KHÁI NIỆM VÀ ĐẶC TRƯNG CỦA CÁC HÌNH THÚC ĐÂU 1 ư

TRỤC TIẾP NƯỚC NGOÀI

1.1.1 Doanh nghiệp liên doanh

1.1.2 Doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài

1.1.3 Hình thức hợp tác kinh doanh trên cơ sở HĐHTKD

1 1 4 Quan điểm của Lê Nin về các hình thức đâu tư tư ban

1 2 XU HƯỚNG VẬN ĐỘNG CỦA CÁC DOANH NGHIỆP CÓ VÔN

DAU TƯ NƯỚC NGOÀI

1.2.2 Xu hướng đa dạng hoá hình thức tổ chức doanh nghiệp có

vốn đầu tư nước ngoài

' mô kinh doanh

13 S ự ĐIỀU CHÌNH TRONG CHÍNH SÁCH ĐỐI x ử VỚI CẤC

HINH THỨC ĐẦU T Ư T I l ự C TIẾP NƯỚC NGOÀI CỦA CÁC NUỚC

Trang

1

55

6

11

14

17 191919

20 21

TRONG KHU v ự c

1.3.1 Trung Quốc

1.3.2 Các nước ASEAN

Indonesia Malaysia PhilippinesThái Lan1.3.3 Hàn Quốc

TÓM TẮT CHƯƠNG I

CHƯƠNG II: THỤC TRẠNG CÁC HÌNH THỨC ĐÂU TƯ TRỤC

TIẾP NƯỚC NGOÀI TẠI VIỆT NAM GIAI ĐOẠN 1988-1999

2.1 TINH HÌNH CHUNG VỀ ĐAU TƯ TRựC TIẾP NƯỚC NGOÀI

22232324242525

26 2828TẠI VIỆT NAM

NGOÀI TẠI VIỆT NAM

Trang 5

2.2.2 Hình thức doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài 40

HÌNH THỨC ĐẦU TƯ

THỨC ĐẦU TƯ TRỰC TIÊP NƯỚC NGOÀI TẠI VIỆT NAM

nghiệp 100% vốn nước ngoài trên phương diện lợi ích của Nhà nước Việt

Nam

QUA

doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài

đầu tư

CHƯƠNG ill: MỘT s ố GIẢI PHÁP LựA CHỌN HÌNH THỨC 67

ĐẦU TƯ NHẰM THU HÚT VÀ s ử DỤNG HIỆU QUẢ NGUổN

VỐN FDI TRONG HOÀN CẢNH VIỆT NAM

Nam trong giai đoạn mới

THÚC FDI TẠI VIỆT NAM

thức đầu tư trực tiếp nước ngoài của Nhà nước

3.2.2 Xu hướng vận động và phát triển của các hình thức đầu tư

trực tiếp nước ngoài tại Việt Nam

74

Trang 6

3 3 MỘT S ố GIẢI PHÁP LựA CHỌN HÌNH THỨC ĐÂU T ư NHẢM THU HUT VÀ SỬ DỤNG CÓ HIỆU QUẢ N G U ồ N V ố N FD1 TRONG HOÀN CẢNH VIỆT NAM

3.3.1 Hoàn thiện quy hoạch phát triển và định hướng đâu tư

3 3 2 Xử lý chuyển đổi doanh nghiệp liên doanh thành doanhnghiêp 100% vốn nước ngoài

3.3.3 Hoàn thiện hành lang pháp lý nhằm định hướng sự vận dộng

và phát triển của các hình thức đầu tư

TÓM TẮT CHƯƠNG III

KẾT LUẬN

Danh mục tài liệu tham khảo

Phu luc

Trang 7

MỞ ĐẨU

Theo Luật đầu tư nước ngoài tại Việt Nam, các nhà đầu tư nước ngoài được đầu tư vào Việt Nam dưới 3 hình thức: doanh nghiệp liên doanh, doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài và hợp tác kinh doanh trên cơ sở hợp đổng hợp tác kinh doanh

Hình thức đầu tư của mỗi dự án FDI liên quan chặt chẽ tói cơ chè diều hành và quản lý doanh nghiệp, thông qua đó ảnh hưởng trực tiếp tới hiệu quả sàn xuất kinh doanh của doanh nghiệp và lợi ích cuả nước tiếp nhận đẩu tư Thực tiễn hoạt động đầu tư trực tiếp nước ngoài tại Việt Nam thời gian qua cho thấy: cùng với sự phát triển về số lượng dự án và vốn đầu tư, các hình thức FDI cũng vận động, phát triển và chuyển hoá lẫn nhau

Trong cuộc cạnh tranh thu hút vốn FDI, hình thức đầu tư là một yếu tố được các nước tiếp nhận đầu tư quan tâm nhiều trong việc cải thiện mỏi trườnc đầu tư để thu hút nguồn vốn quan trọng này Ngoài những ưu đãi mới về thuế, đất dai, lao dộng , các nước tiếp nhận đầu tư bắt đầu chú ý đến nguyện vọng của các nhà đầu tư nước ngoài trong việc lựa chọn hình thức đầu tư Malaysia Thái Lan, Indonesia và cả Trung Quốc đã ban hành những chính sách mói diều chỉnh thái dộ đối xử với các hình thức FDI như: thu hẹp các lĩnh vực hạn chế dối với đầu tư nước ngoài, đa dạng hoá các hình thức đầu tư, không hạn chế tỷ lệ góp vốn của bên nước ngoài trong các doanh nghiệp liên doanh và đặc biệt là cho phép đầu tư dưới hình thức doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài trong nhiều lĩnh vực mà trước dây chỉ cho phép đầu tư dưới hình thức doanh nghiệp liên doanh

ở Việt Nam, đầu năm 1998 Chính phủ đã ban hành Nghị dinh 10/1998/NĐ-CP về các biện pháp khuyến khích và đảm bảo hoạt dộng đầu tư trực liếp nước ngoài tại Việt Nam, trong dó quy định rõ những lĩnh vực dầu tư có điều kiện phải liên doanh, hoặc hợp đồng hợp tác kinh doanh, những lĩnh vực còn lại nhà đầu tư được lựa chọn hình thức đầu tư Đặc biệt, tháng 6 năm 2000

Trang 8

Quốc hội đã thông qua Luật sửa đổi bổ sung một số điều của Luật đầu tư nước ngoài tại Việt Nam, theo dó, các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài, các bên tham gia hợp đồng hợp tác kinh doanh trong quá trình hoạt động được phép chuyển dổi hình thức đầu tư, chia, tách, sáp nhập, hợp nhất doanh nghiệp Chính phủ cũng đã ban hành Nghị định 24/2000/NĐ-CP ngày 31 tháng 7 năm 2000, thu hẹp lĩnh vực đầu tư có điều kiện phải liên doanh với nước ngoài và mở rộng các lĩnh vực cho phép nhà đầu tư nước ngoài được lựa chọn hình thức đầu tư Tuy vậy, các nhà đầu tư nước ngoài vẫn đánh giá môi trường kinh doanh ở Việt Nam còn nhiều rủi ro, mà một trong những yếu tố rủi ro đó là các doanh nghiệp không được tự do chuyển đổi hình thức đầu tư, thủ tục chuyển đổi quá phiền hà.

Thời gian qua đã xuất hiện nhiều trường hợp doanh nghiệp liên doanh xin chuyển đổi hình thức đầu tư thành doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài Vân dề này đang được dư luận quan tâm, trên thực tế việc xử lý còn lúng túng và còn nhiều ý kiến khác nhau

Trước đây đã có nhiều công trình nghiên cứu về đầu tư trực tiếp nước ngoài tại Việt Nam, điển hình là công trình luận án tiến sỹ của Nguyễn Thường Lạng, Iloàng văn Huấn, Vũ Huy Hoàng, Trần Thị Thu, Nguyễn Chí Dũng Tuy nhiên cho đến nay, vẫn chưa có công trình nào nghiên cứu chi tiết về thực trạng

và xu hướng phát triển của các hình thức FD1, nhằm đề xuất giải pháp xử lý Vấn

đề thực tiễn đang đặt ra trong hoạt động thu hút FDI và quản lý dự án FDI ờ Việt Nam hiện nay

hình thức đầu tư trực tiếp nước ngoài tại Việt Nam” được lựa chọn làm dề tài luận án thạc sỹ quản trị kinh doanh

Mục đích nghiên cứu của đề tài là:

- Hệ thống hoá các vấn đề lý luận chủ yếu về các hình thức FDI và kinh nghiệm quốc tế về chính sách đối xử với các hình thức FD1 của các nước trong khu vực

Trang 9

- Phân tích thực trạng hoạt động của các dự án FDI tại Việt Nam thông qua các hình thức đầu tư khác nhau, từ đó đánh giá hiệu quả của các dự án FDI theo hình thức đầu tư, trong hoàn cảnh Việt Nam.

- Đề xuất một số giải pháp chủ yếu liên quan đến hình thức đầu tư, nhằm nâng cao hiệu quả của các dự án FDI và cải thiện môi trường đầu tư của Việt Nam

Giới hạn phạm vi và đối tượng nghiên cứu:

Luận án nghiên cứu các hình thức FDI gắn với thực tiễn hoạt động đầu tư trực tiếp nước ngoài taị Việt Nam trong giai đoạn 1988-1999, trong đó, tạp trung

mô tả và phân tích một số vấn đề liên quan đến hoạt động của các dự án FDI tại Việt Nam theo các hình thức: Doanh nghiệp liên doanh, doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài, hợp tác kinh doanh trên cơ sở hợp đồng hợp tác kinh doanh

Co sở luận và phương pháp nghiên cứu:

Luận án được thực hiện trên cơ sở các nguyên lý của Chủ nghĩa duy vật biện chứng và duy vật lịch sử, quan điểm của Đảng và Nhà nước ta về sự nghiệp đổi mới, về công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước, về chính sách thu hút đầu lư trực tiếp nước ngoài phục vụ phát triển kinh tế

Luận án sử dụng các phương pháp nghiên cứu khác nhau như: mô tà, thống kê, so sánh, phân tích hệ thống để giải quyết các vấn đề đưa ra

Những đóng góp của luận án:

Luận án dã kế thừa có chọn lọc các quan điểm và ý kiến của các nhà quàn

lý, nhà nghiên cứu, chủ đầu tư tại các hội thảo về đầu tư trực tiếp nước ngoài tổ chức tại Việt Nam, Thái lan, Malaysia Đóng góp chính của luận án là:

- Tổng kết kinh nghiệm quốc tế về những hình thức đầu tư trực tiếp nước ngoài và những điều chỉnh mới trong chính sách đối xử với các hình thức đầu tư trực tiếp nước ngoài của Trung Quốc và một số nước trong khu vực

- Đánh giá các hình thức đầu tư trực tiếp nước ngoài thông qua tính hiệu quả và tính phù hợp với thực tiễn Việt Nam, chỉ ra những ưu điểm, những hạn chế của mỗi hình thức đầu tư

3

Trang 10

- Dề xuất giải pháp xử lý một số vấn đề thực tiễn đang đặt ra đối với hoạt động thu hút FDI vào Việt Nam liên quan đến hình thức đầu tư, nhằm phát huy hiệu quả của đầu tư trực tiếp nước ngoài trong công cuộc phát triển và hội nhập quốc tế của nước ta.

Kết cấu của luận án:

Ngoài phần mở đầu, kết luận, phụ lục và tài liệu tham khảo, nội dung chính của luận án gồm 3 chương:

Chương Ị M ột s ố vấn đề cơ bản vê hình thức đẩu tư trực tiếp nước ngoài Chương II Thực trạng các hình thức đầu tư trực tiếp nước ngoài tại Việt

Nam giai đoạn 1988-1999 Chương III Giải pháp lựa chọn hình thức đầu tư nhằm thu hút và sử chìm’

hiệu quả nguồn vốn FDI trong hoàn cảnh Việt Nam.

Nguồn số liệu trong luận án chủ yếu lấy từ Bộ Kế hoạch và Đáu tư, Tổng cục Thống kê, Bộ Thương mại, Bộ Tài chính, Tổng cục Hải quan và Ncân hàng Thế giới

Trang 11

chuông I

M Ộ T SỐ VÂN ĐỂ C ơ BẢN VỂ HÌNIỈ THÚC ĐẦU T ư TRỤC T IẾ P NƯỚC NGOÀI

TIẾP NƯỚC NGOÀI

Từ cuối thế kỷ 19, do sự phát triển hoạt động đầu tư quốc tế của các công

ty đa quốc gia đã xuất hiện các hình thức tổ chức kinh doanh dựa trên cơ sỏ' kết hợp các yếu tố kinh tế về vốn, lao động, máy móc, thị trường của các côna ty khác nhau Những thực thể kinh doanh này là những hình thức sơ khai của doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài

Sau chiến tranh thế giới thứ hai, môi trường chính trị thế giới ổn dịnli, các hoạt động thương mại và đầu tư quốc tế gia tăng, các DNCVĐTNN phát triển nhanh chóng về số lượng và chủng loại Đồng thời, do quá trình cạnh tranh quốc

tế, các DNCVĐTNN được thành lập để thu hút lợi ích từ bên ngoài và là phươnc tiện để đảm bảo sự sống còn của mỗi công ty

Từ những năm 1990, xu thế toàn cầu hoá và khu vực hoá nền kinh tế thế giới được mở rộng, tạo cơ hội phát triển cho các DNCVĐTNN Các công ty da

quốc gia với các chiến lược kinh doanh đa dạng đã thành lạp các DNCVĐTNN ờ

nhiều nước thuộc các châu lục khác nhau nhằm giảm bót rủi ro khi kinh doanh 0 thị trường mói Đổng thời, các DNCVĐTNN được coi là phương tiện dể vượt qua hàng rào thuế quan và phi thuế quan, sự khác nhau về văn hoá, luật pháp và các chính sách của chính phủ các nước để tạo ra lợi thế kinh tế nhờ mở rộim quy mô, thực hiện chuyển giao công nghệ và kéo dài chu kỳ sống quốc tế của san phẩm Các DNCVĐTNN xuất hiện ở hầu hết các lĩnh vực kinh tế, từ sản xuất - chế lạo lắp ráp, khai thác tài nguyên, dịch vụ bảo hiểm, tài chính, ngân hàng, vận tài tư vấn cho đến các lĩnh vực nghiên cứu triển khai Quy mô của các dự án cũng rất đa dạng từ vài trăm ngàn USD đến hàng tỷ USD

S

Trang 12

Hoạt động đầu tư trực tiếp nước ngoài tại Việt Nam chỉ thực sự bắt đầu từ năm 1988, sau khi Quốc hội thông qua Luật đầu tư nước ngoài tháng 12 năm

1987 (còn gọi là Luật đầu tư 87) Theo Luật đầu tư nước ngoài tại Việt Nam, các nhà đầu tư nước ngoài được đầu tư vào Việt Nam dưới ba hình thức:

- Doanh nghiệp liên doanh;

- Doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài;

- Hợp tác kinh doanh trên cơ sở hợp đồng hợp tác kinh doanh

1.1.1 Doanh nghiệp liên doanh

1.1.1.1 Khái niệm

Doanh nghiệp liên doanh với nước ngoài (gọi tắt là liên doanh) là một hình thức mới của sự phân công lao dộng quốc tế và là kết quả của sự phát triển theo chiều sâu của quan hệ kinh tế quốc tế Doanh nghiệp liên doanh là hình thức được sử dụng rộng rãi nhất của đầu tư trực tiếp nước ngoài trên thế giới Nó

là công cụ để thâm nhập vào thị trường nước ngoài một cách hợp pháp và có hiệu quả thông qua hoạt động hợp tác

Do có sự khác nhau về góc độ nghiên cứu nên có nhiều định nghĩa khác nhau về doanh nghiệp liên doanh

Theo Luật kinh doanh (Business Law) của Hoa Kỳ, liên doanh là một quan hệ bạn hàng trong đó hai hoặc nhiều chủ thể cùng đóng góp lao dộng và tài sản để thực hiện một mục tiêu đặt ra và cùng chia sẻ các khoản lợi nhuận và rủi

ro Định nghĩa này đã đề cập đến việc đóng góp tài sản và lao động như những yêu tô cơ bản để thành lập liên doanh Việc chia sẻ trách nhiệm và thoả thuận giữa các bên tham gia là yếu tố quan trọng cho sự phụ thuộc của liên doanh

Tổ chức Hợp tác phát triển kinh tế (OECD) cho rằng, trên quan diem cạnh tranh, liên doanh là một hình thức nằm giữa hoạt dộng và liên minh, trong dó 2 hoặc nhiều công ty liên kết hoạt động với nhau trong một hoặc một số lĩnh vực dưới dây:

- Tiến hành các hoạt động mua bán;

- Khai thác các nguồn tài nguyên thiên nhiên;

Trang 13

- Phát triển hoặc điều hành các hoạt động sản xuất;

- Nghiên cứu và triển khai;

- Hoạt động chế tạo và xây dựng

Như vậy, theo định nghĩa này, liên doanh không phải là một quan hệ hợp đổng đơn giản, không phải là một liên kết đơn giản mà là một mối quan hệ hữu

cơ giữa các đối tác có quốc tịch khác nhau trong một thời gian dài

Luật đầu tư nước ngoài tại Việt Nam đưa ra định nghĩa: “Doanh nghiệp liên doanh là doanh nghiệp do hai bên hoặc nhiều bên hợp tác thành lạp tại Việt Nam trên cơ sở hợp đồng liên doanh hoặc hiệp định ký giữa Chính phủ nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam và Chính phủ nước ngoài hoặc do DNCVĐTNN hợp tác với doanh nghiệp Việt Nam hoặc do doanh nghiệp liên doanh hợp tác với nhà đầu tư nước ngoài trên cơ sở hợp đồng liên doanh” [3 tr3]

Định nghĩa này đã nhấn mạnh đến khía cạnh pháp lý của một liên doanh

và cho rằng: Hợp đồng liên doanh, điều lệ doanh nghiệp liên doanh cũng như pháp luật nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam là căn cứ pháp lý quan trọng để điều chỉnh các hoạt động của liên doanh

Như vậy, trên thực tế có nhiều định nghĩa khác nhau về liên doanh, mỗi định nghĩa có một cách tiếp cận và nhấn mạnh đến một khía cạnh nhất định cùa liên doanh Tuy nhiên, tất cả các định nghĩa trên đây đều tập trung vào những điểm cơ bản sau:

- Liên doanh là một hình thức lổ chức kinh doanh có tính chất quốc tế

- Liên doanh là một quan hệ bạn hàng lâu dài và là một mối lien kết hữu

cơ của 2 bên hoặc nhiều bên có quốc tịch khác nhau

- Liên doanh được hình thành từ những sự khác biệt giữa các bên về quốc tịch, quản lý, hệ thống tài chính, luật pháp và bản sắc văn hoá

- Liên doanh hoạt động trên cơ sở sự đóng góp của các bên về vốn, quàn

lý lao động và cùng chịu trách nhiệm về lợi nhuận cũng như rủi ro có thể xay ra

7

Trang 14

- Hoạt động của liên doanh rất rộng, gồm cả hoạt động sàn xuất kinh doanh, cung ứng dịch vụ, hoạt động nghiên cứu cơ bản và nghiên cứu triển khai.

- Nền tảng pháp lý cho sự tồn tại của liên doanh là hợp đồng hên doanh được ký kết giữa các bên và hệ thống luật pháp của nước sở tại

1.1.1.2 Đặc trưng cơ bản

Đặc trưng vê' kinh doanh

Xét trên phương diện kinh doanh, doanh nghiệp liên doanh có những dặc trưng chủ yếu sau đây:

- Cùng góp vốn: Các bên tham gia doanh nghiệp hên doanh (các dôi tác)

có thể góp vốn bằng tiền mặt, dây chuyển công nghệ, nhà xưởng, đất đai quvền

sử dụng mặt đất, mặt biển, phát minh, sáng chế Các bên cũng có thê đóng góp khả năng kinh nghiệm, uy tín công ty, nhãn hiệu hàng hoá Phần cóp vốn của các bên có những đặc điểm nhất định Nếu góp bằng những tài sản hữu hình hay các yếu tố vật chất thì có thể dễ dàng xác định giá trị Nếu góp vốn bằnc các veil

tố vô hình như nhãn hiệu, bí quyết công nghệ, kinh nghiệm quản lý, uy tín thì khó có thể xác định chính xác phần góp vốn của các bên Trong điều kiện như vậy, các bên sẽ thoả thuận về tỷ lệ góp vốn pháp định của doanh nghiệp

- Cùng quản lý: Các bên cùng xây dựng bộ máy quản lý hoạt độnti doanh nghiệp, đào tạo đội ngũ cán bộ quản lý, đội ngũ công nhân viên phục vụ done thời, xây dựng môi trường hoạt động nội bộ doanh nghiệp liên doanh thích hợp với điều kiện nước sở tại Thông thường số lượng thành viên tham gia hội done quản trị cũng như mức độ quyết định của các bên đối với các vấn đề sàn xuất kinh doanh của doanh nghiệp phụ thuộc vào tỷ lệ góp vốn của mỗi bên

- Cùng phân phối lợi nhuận: Các bên tham gia cùng tiến hành phàn phoi các khoản lợi nhuận thu được của doanh nghiệp liên doanh sau khi đã thực hiện đầy đủ nghĩa vụ về tài chính đối với nước sở tại Tỷ lệ phân chia lợi nhuận giữa các bên dựa theo tỷ lệ góp vốn Trong trường họp doanh nghiệp phát hành cổ phiếu dể tăng vốn thì cổ đông sẽ được hưởng lợi tức cổ phần

Trang 15

- Cùng chia sẻ rủi ro mạo hiểm: Quá trình hoạt động của doanh nghiệp liên doanh thường gặp phải những rủi ro Những rủi ro này phát sinh có thể do quá trình thiết kế, nghiên cứu khả thi dự án không chu đáo, do biến động về chính trị, kinh tế, do những thay đổi của hệ thống pháp lý, do cạnh tranh hay do những nhân tố bất ngờ khác Thiệt hại do những rủi ro này gây ra sẽ do các bên tham gia gánh chịu theo tỷ lệ phân chia như đối với lợi nhuận.

Đặc trưng về mặt pháp lý

Doanh nghiệp liên doanh là một thực thể pháp lý độc lập hoạt động theo luật pháp của nước sở tại, chịu sự điều chỉnh của pháp luật nước sở tại Doanh nghiệp liên doanh có tư cách pháp nhân Quyền lợi và nghĩa vụ của các bèn tham gia liên doanh được ghi trong hợp đồng liên doanh Doanh nghiệp liên doanh được thành lập dưới dạng công ty trách nhiệm hữu hạn hoặc công ly cổ phần, đôi khi nó còn dược tổ chức dưới dạng công ty trách nhiệm vồ hạn hoặc các hiệp hội góp vốn hữu hạn Mỗi bên tham gia liên doanh vừa có tư cách pháp

lý riêng - chịu trách nhiệm pháp lý với bên kia và tư cách pháp lý chung- chịu trách nhiệm với toàn thể liên doanh Nếu hợp đồng liên doanh là điều kiện cần

để hình thành nên doanh nghiệp liên doanh thì Điều lệ doanh nghiệp là điều kiện

đủ để đảm bảo tính chỉnh thể, tính dộc lập của thực thể pháp lý này, I1Ó cũng !à

cơ sở để phân biệt thực thể kinh doanh này với thực thể kinh doanh khác

Như vạy, hợp đồng liên doanh và diều lệ doanh nghiệp liên doanh là hai văn bản pháp lý cơ bản quy định đặc trưng về pháp lý của doanh nghiệp liên doanh, mỗi loại văn bản đóng vai trò nhất định trong việc hình thành tính pháp

lý của doanh nghiệp liên doanh

Giữa đặc trưng về kinh doanh và đặc trưng về pháp lý có mối liên hệ qua lại lẫn nhau Đặc trưng kinh doanh phản ánh thực chất và quy định bàn chất nội tại của doanh nghiệp liên doanh trong việc tạo ra lợi ích cho các bên Đặc tiưna pháp lý quy định tính độc lập của doanh nghiệp liên doanh và phản ánh lính họp pháp của doanh nghiệp liên doanh theo điều kiện của nước sở tại Do đó có the

9

Trang 16

gọi doanh nghiệp liên doanh là một thực thể kinh doanh - pháp lý quốc tế độc lập.

Hoạt động của doanh nghiệp liên doanh diễn ra trong môi trường kinh doanh ở nước sở tại, môi trường này bao gồm cả các yếu tố chính trị, kinh tế, mức độ hoàn thiện luật pháp, văn hoá - xã hội, trình độ học vấn của dân cư Các yếu :ố này chi phối rất lớn đến hoạt động của doanh nghiệp liên doanh

1.1.1.3 ưu nhược điểm của hình thức doanh nghiệp liên doanh

Đối với nước tiếp nhận đẩu tư, hình thức doanh nghiệp liên doanh có

những ưu điểm chính là: giúp giải quyết tình trạng thiếu vốn, giúp đa dạng hoá sản phẩm, đổi mới công nghệ, tạo ra thị trường mới và tạo cơ hội cho người lao dộng học tập ở nước ngoài

Tuy nhiên, hình thức đầu tư này cũng bộc lộ một số nhược điểm:

- Mất nhiều thòi gian thương thảo mọi vấn đề liên quan đến dự án dầu tư, thường xuất hiện mâu thuẫn trong quản lý điều hành doanh nghiệp

- Đối tác nước ngoài thường quan tâm đến lợi ích toàn cầu, dôi lúc vì sự phân công này mà liên doanh phải chịu thua thiệt vì lợi ích ở nơi khác

- Đối tác nước ngoài thường không thích chia lợi nhuận mà muốn dưa lãi vào tái đầu tư mở rộng

- Thay đổi nhân sự ở công ty mẹ có ảnh hưởng tới tương lai phát triển cùa liên aoanh

Đối với nhà đầu tư nước ngoài, hình thức doanh nghiệp liên doanh có ưu

điểm: tận dụng được hệ thống phân phối có sẵn của đối tác nước sở tại; được dầu

tư vào những lĩnh vực kinh doanh dễ thu lời, lĩnh vực bị cấm hoặc hạn chế dối vói hình thức doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài; thâm nhập được những thị trường truyền thống của nước chủ nhà Không mất thời gian và chi phí cho việc nghiên cứu thị trường mới và xây dựng các mối quan hệ Chia sẻ dược chi phí và rủi ro đầu tư

Nhược điểm chính của hình thức đầu tư này đối với chủ đầu tư nước ngoài là: Khác biệt về nhìn nhận chi phí đầu tư giữa hai bên đối tác; mất nhiều thời

Trang 17

gian thương thảo mọi vấn đề liên quan đến dự án đầu tư, định giá tài sản góp vốn, glii quyết công nhân cũ của đối tác trong nước; không chủ động được trong quản lý điều hành doanh nghiệp, dễ bị mất cơ hội kinh doanh; khó giải quyết khác biệt về văn hoá.

Kinh nghiệm một số liên doanh thành công cho thấy rằng, liên doanh phải được xây dựng trên những cơ sở căn bản sau:

- Chia sẻ được chi phí và rủi ro đầu tư;

- Tận dụng được những cơ sở tiện ích có sẩn;

- Thực hiện được việc chuyển giao công nghệ;

- Bên nhiều vốn hơn phải được quyền quyết định công nghệ, kế hoạch kinh doanh, tiếp thị, chất lượng sản phẩm và nguồn cung cấp nguyên liệu;

- Hợp đổng liên doanh được chuẩn bị kỹ càng, lường trước cách giải quyết mọ; - ÍL thuẫn có thể phát sinh;

- Hai bên đồng ý tuyển người điều hành không thuộc bất kỳ bên nào

1.1.2 Doanh nghiệp 100% vốn nước ngOcài

1.1.2.1 Khái niệm

Doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài cũng là một hình thức doanh nghiệp

có vốn đầu tư nước ngoài, nhưng ít phổ biến hơn trong hoạt dộng đầu tư quốc tố Ban đầu hình thức doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài được sử dụ nu chỉ nhầm mục đích thăm dò khả năng của thị trường nước sở tại, tìm kiếm cơ hội dầu tư nhưng sau đó nó đã trở thành một biện pháp có tính chiến lược đối với các công ty Các doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài vẫn có khả năng vượt qua dược những rào cản về thuế quan và phi thuế quan, sự khác biệt văn hoá, luật pháp và chính sách của chính phủ các nước mà vẫn thuộc quyền sỏ' hữu hoàn toàn của chủ đầu tư

Sự ra đời của hình thức doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài đánh dâu bước.phút triển cao của các mối quan hệ kinh tế quốc tế Các thực thể kinh doanh : :ợc thành lập không chỉ dựa trên sự khác biệt về các điều kiện kinh tố chính - ” , văn hoá, luật pháp mà còn dựa trên sự hiểu biết sâu sắc về môi trườn a

Trang 18

và khả năng kinh doanh khi thành lập doanh nghiệp Chủ đầu tư, bên cạnh việc chú trọng khai thác sự khác biệt của thị trường mới, cũng nỗ lực tìm cách áp dụng các tiến bộ khoa học - công nghệ, kinh nghiêm quản lý vào công việc kinh doanh nhằm đạt được hiệu quả cao nhất Thông thường các doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài do các công ty đa quốc gia sở hữu và đóng vai trò một công ty con của công ty đa quốc gia.

Tuy quyền sỏ' hữu, điều hành và quản lý doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài hoàn toàn nằm trong tay chủ đầu tư nước ngoài nhưng doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài vẫn chịu sự kiểm soát của luật pháp nước sở tại và phải thực hiện đúng mọi cam kết trong điều lệ doanh nghiệp Nó là một pháp nhân kinh tế của nước sỏ' tại Để tổn tại và hoạt động, các doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài vẫn phải thuê đất đai và các phương tiện vật chất khác của nước sở tại nên dôi khi nó được xem như là một hình thức liên doanh đặc biệt.

Do có những lợi thế như đã nêu trên, việc sử dụng hình thức doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài trở thành một giải pháp có triển vọng trong đầu tư quốc tế Hình thức đầu tư này không ngừng mở rộng và phát triển cùng với sự gia tăng mạnh mẽ của quá trình loàn cầu hoá và khu vực hoá nền kinh tế thế giới.

Luật dầu tư nước ngoài tại Việt Nam quy định: “doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài là doanh nghiệp thuộc quyền sở hữu của nhà đầu tư nước ngoài, do nhà đầu tư nưóc ngoài thành lập tại Việt Nam, tự quản lý và tự chịu trách nhiệm

về kết quả kinh doanh” [3, tr 52] Quy định này chú trọng vào khía cạnh pháp lý của doanh nghiệp Theo cách tiếp cận này, doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài hoàn toàn thuộc quyền sở hữu và điều hành của chủ đầu tư nước ngoài trong khuôn khổ pháp luật Việt Nam.

Như vậy, doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài là một hình thức tổ chức kinh doanh quốc tế ỏ' trình độ cao Nó được hình thành không chỉ dựa trên sự khác biệt về các điều kiện kinh doanh mà còn dựa trên sự hiểu biết sâu sắc giữa bên đầu tư và bên tiếp nhận đầu tư Doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài hoàn toàn thuộc sở hữu của nước ngoài, chịu sự điều hành quản lý của nước ncoài và

Trang 19

hoạt động trong hầu hết các lĩnh vực của nền kinh tế nhưng vẫn là một pháp nhân của nưóc sở tại.

1.12.2 Đặc trưng cơ bản

Doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài là một thực thể kinh doanh có tư cách pháp nhân được thành lập dựa trên các mục đích của chủ đầu tư và nước sở tại Do vậy, nó cũng có đặc trưng về kinh doanh và đặc trung về pháp lý.

Đặc trưng vê kinh doanh

Doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài hoạt động theo sự điều hành, quản lý của chủ đầu tư nước ngoài nhưng vẫn phải tuỳ thuộc vào các điều kiện về môi trường kinh doanh của nước sở tại, đó là các điều kiện về chính trị, kinh tế, luật pháp, văn hoá, mức độ cạnh tranh Để đạt được hiệu quả cao nhất trong kinh doanh, doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài phải tạo lập được các mối quan hệ mật thiết với các doanh nghiệp nước sở tại nhằm khai thác các nguồn lực sẵn có, tạo nên thế và lực trong sức mạnh cạnh tranh Doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài cũng phải dựa trên các điều kiện về cơ sở hạ tầng ở nước sở tại như đất dai,

hệ thống giao thông công cộng, viễn thông để tiến hành các hoạt dộng sản xuất, kinh doanh Mặt khác, doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài cũng phải nỗ lực hình thành nên một hình ảnh hấp dẫn trong khách hàng của nước sở tại về sản phẩm của mình, nhanh chóng tạo được chỗ đứng trên thị trường nước sở tại.

Nhìn chung, doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài tuy thuộc quyền sỏ' hữu, điều hành của chủ đầu tư nước ngoài nhưng kill tiến hành các hoạt động sản xuất kinh doanh vẫn phải dựa trên các điều kiện sẵn có của nước sở tại và phải có một chiến lược kinh doanh đa dạng, phù hợp với thị trường nước sở tại.

Đặc trưng về pháp lý

Đặc trưng về pháp lý nổi bật của doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài là nó

có tư cách pháp nhân, là một thực thể pháp lý độc lập hoạt động theo luật pháp nước sở tại Doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài được thành lập dưới dạng công

ty trách nhiệm hữu hạn Quyền lợi và nghĩa vụ của nhà đầu tư nước ngoài được quy dinh rõ trong điều lệ doanh nghiệp Ngoài ra, doanh nghiệp 100% vốn nước

13

Trang 20

ngoài cũng phải thực hiện đúng các quy định của pháp luật trong các văn bản pháp lý có liên quan.

Đặc trung kinh doanh và đặc trưng pháp lý đã định hình một cách cụ thổ loại hình doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài trong hoạt động đầu tư quốc tế, cả hai đặc trưng này đều nhằm xác định một thực thể độc lập Do đó, có thể coi doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài là một thực thể kinh doanh quốc tế dộc lập

1.1.23 ưu nhược điểm của hình thức doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài.

Đối với nước tiếp nhận đầu tư, hình thức đầu tư này có ưu điểm: nhà nước thu được ngay tiền thuê đất, tiền thuế, mặc dù doanh nghiệp bị lỗ; giải quyết dược công ăn việc làm mà không cẩn bỏ vốn đầu tư; tập trung thu hút vốn và công ghê của nước ngoài vào những lĩnh vực khuyến khích xuất khẩu; tiếp cận dược thị trường nước ngoài.

Nhược điểm chính của hình thức đầu tư này là khó tiếp thu kinh nghiệm quản lý và công nghệ nước ngoài để nâng cao trình độ cán bộ quản lý, cán bộ kỹ thuật ở các doanh nghiệp Nhà nước.

Đối với nhà đầu tư nước ngoài, hình thức đầu tư 100% vốn có ưu điểm: chủ động trong quản lý điều hành doanh nghiệp, thực hiện được chiến lược toàn cầu của tập đoàn; triến khai nhanh dự án đầu tư; được quyền chủ động tuyển chọn và đào tạo nguồn nhân lực đáp ứng yêu cầu phát triển chung của tập đoàn.

Nhược điểm của hình thức đầu tư này là: chủ đầu tư phải chịu toàn bộ rủi

ro trong đầu tư; phải chi phí nhiều hơn cho nghiên cứu tiếp cận thị trường mới; Không xâm nhập dược vào những lĩnh vực có nhiều lợi nhuận, thị trường trong nước lớn; khó quan hệ với các cơ quan quản lý nhà nước nước sở tại.

1.1.3 Hình thức họp tác kinh doanh trên cơ sở hợp đồng họp tác kinh doanh

1.13.1 Khái niệm

Xợp tác kinh doanh trên cơ sở hợp đồng hợp tác kinh doanh (sau dây gọi tắt là hợp doanh) là hình thức đầu tư trong dó các bên quy trách nhiệm và phân chia kế: quả kinh do.anh cho mỗi bên dể tiến hành đầu tư kinh doanh ở Việt Nam

mà không thành lập pháp nhân mới.

14

Trang 21

Hựp đồng hợp tác kinh doanh là văn bản được ký kết giũa đại diện có thẩm quyền của các bên tham gia hợp đồng hợp tác kinh doanh (sau dây gọi là các bên hợp doanh) và hoàn toàn khác với hợp đồng thương mại, hạp đồng giao nguyên liệu lấy sản phẩm và các hợp đồng khác ở chỗ nó quy định rõ việc thực hiện phân chia kết quả kinh doanh cho mỗi bên.

Hợp đồng hợp tác kinh doanh phải có những nội dung chủ yếu sau đây:

- Tên, địa chỉ, đại diện có thẩm quyền của các bên hợp doanh; địa chỉ giao dịch hoặc địa chỉ nơi thực hiện dự án.

- Mục tiêu và phạm vi kinh doanh.

- Đóng góp của các bên hợp doanh, việc phân chia kết quả kinh doanh, tiến dộ thực hiện hợp đồng.

- Sản phẩm chủ yếu, tỷ lệ xuất khẩu và tiêu thụ trong nước.

- Thời hạn thực hiện của hợp đồng.

- Quyền, nghĩa vụ của các bên hợp doanh.

- Các nguyên tắc tài chính.

- Thể thức sửa đổi và chấm dứt hợp đồng, điều kiện chuyển nhượng.

- Trách nhiệm do vi phạm hợp đồng, phương thức giải quyết tranh chấp Như vậy, hợp tác kinh doanh trên cơ sở hợp đồng hợp tác kinh doanh là hình thức kinh doanh quốc tế trong đó, liên kết giữa các đối tác tương dối lỏng lẻo Căn cứ pháp lý quan trọng nhất đối với dự án đầu tư theo hình thức này là hợp đồng hợp tác kinh doanh và hệ thống pháp luật nước sở tại.

1.1.3.2 Đặc trưng cơ bản

Đặc trưng về kinh doanh

Trên phương diện kinh doanh, hợp doanh có những đặc trưng chủ yếu là:

- Cùng góp vốn, các bên hợp doanh có thể góp vốn bằng tiền mặt, nhà xưởng, quyền sử dụng đất, tư liệu sản xuất, quyền sở hữu công nghiệp, công nghệ dộc quyền, chi phí lao động, nguồn tài nguyên Tỷ lệ góp vốn do các bèn thoả thuận.

15

Trang 22

- v ề tổ chức quản lý, khác với hình thức doanh nghiệp liên doanh, việc quản lý thực hiện hợp đồng hợp tác kinh doanh được giao cho một bên dối tác trong quá trình kinh doanh các bên hợp doanh có thể thành lập ban điều phối để theo dõi, giám sát việc thực hiện hợp đồng hợp tác kinh doanh Ban điều phối không phải là đại diện pháp lý cho các bên hợp doanh.

- Về phân chia kết quả kinh doanh, khác với doanh nghiệp liên doanh, hình thức hợp doanh không phân phối lợi nhuận và chia sẻ rủi ro mà phân chia kết quả kinh doanh chung Các bên hợp doanh thực hiện nghĩa vụ tài chính dối vói nhà nước sở tại một cách riêng rẽ Ví dụ ở Việt Nam, bên hợp doanh nước ngoài nộp thuế và các nghĩa vụ tài chính theo Luật đẩu tư nước ngoài tại Việt Nam; bên hợp doanh Việt Nam thực hiện nghĩa vụ thuế và các nghĩa vụ tài chính khác theo quy định của pháp luật áp dụng đối với doanh nghiệp trong nước Thuế thu nhập doanh nghiệp và các nghĩa vụ tài chính khác (gồm cả tiền thuê đất, thuế tài nguyên ) có thể được tính gộp vào phần sản phẩm được chia cho bên hợp doanh Việt Nam và bên hợp doanh Việt Nam có trách nhiệm nộp cho Nhà nước.

Đặc trưng về mặt pháp lý.

Hợp doanh là một thực thể kinh doanh hoạt động theo luật pháp nước sở tại, chịu sự điều chỉnh của pháp luật nước sở tại Quyền lợi và nghĩa vụ của các bên hợp doanh được ghi trong hợp đổng hợp tác kinh doanh Hợp tác kinh doanh trên cơ sở HĐHTKD không hình thành nên pháp nhân mới Mõi bên tham gia hợp doanh chỉ có tư cách pháp lý riêng, chịu trách nhiệm pháp lý với bên kia Khác với doanh nghiệp liên doanh, các bên hợp doanh chịu trách nhiệm vô hạn đối với các khoản nợ.

Như vậy, hợp đổng hợp tác kinh doanh là văn bản pháp lý duy nhất quy định đặc trưng về pháp lý của dự án hợp doanh Tuy nhiên, nó chưa đủ dể đảm bảo cho hình thức này tính chỉnh thể về mặt pháp lý.

Trang 23

1.13.3 ưu nhược điểm của hình thức hợp doanh

Đối với nước tiếp nhận dầu tư, hình thức đầu tư này có ưu điểm: giúp giải quyết lình trạng thiếu vốn, thiếu công nghệ, tạo ra thị trường mới nhưng vẫn đảm bảo được an ninh quốc gia và nắm được quyền điều hành dự án.

Nhược điểm chính là: Khó thu hút đầu tư, chỉ thực hiện được đối với một

số ít lĩnh vực dễ sinh lời.

Đối với Bên nước ngoài, hình thức hợp doanh có ưu điểm: tận dụng dược

hệ thống phân phối có sẵn của dối tác nước sở tại; vào được những lĩnh vực hạn chế đầu tư, thâm nhập được những thị trường truyền thống của nước chủ nhà; không mất thời gian và chi phí cho việc nghiên cứu thị trường mới và xây dựng các mối quan hệ; không bị tác động lớn do khác biệt về văn hoá; chia sẻ được chi phí và rủi ro đầu tư.

Nhược điểm của hình thức đầu tư này là: không được trực tiếp quản lý điều hành dự án, quan hệ hợp tác với đối tác nước sở tại thiếu tính chắc chắn Điều này làm các nhà đầu tư nước ngoài e ngại Do đó, hình thức dầu tư này hầu như chỉ còn tồn tại ở Việt Nam và Trung Quốc.

1.1.4 Quan điểm của Lê Nin về các hình thức đầu tu tư bản

Khi nói về các hình thức của chủ nghĩa tư bản nhà nước, quan điểm của Lê Nin là: “Ở chỗ nào có những thành phần mậu dịch tự do và những thành phần tư bản chủ nghĩa nói chung thì ở đó có chủ nghĩa tư bản Nhà nước dưới hình thức này hay hình thức khác, ở trình độ này hay trình độ nọ” [ 13, tr 447], Có nghĩa

là, những thành phẩn mậu dịch tự do và thành phần tư bản chủ nghĩa nói chung tồn tại dưới sự quản lý, điều tiết của Nhà nước chuyên chính vô sản thì dó là những biểu hiện của chủ nghĩa tư bản nhà nước Lê Nin cũng chỉ ra một số hình thức của chủ nghĩa tư bản nhà nước như tô nhượng, đại lý uỷ thác, công ly hợp doanh,

Trong tác phẩm “Bàn về thuế lương thực” Lê Nin đã đề cập nhiều tới hình thức tô nhượng Theo Lê Nin, tô nhượng là hợp đổng giữa nhà nước xã hội chù

17

Trang 24

nghĩa và nhà tư bản Theo đó, nhà tư bản được sử dụng nguyên liệu, hầm mỏ, quặng, hay thậm chí một công xưởng đặc biệt để tiến hành sản xuất kinh doanh vói số tư bản họ đầu tư Bằng cách đó họ sẽ thu được lợi nhuận và nộp cho nhà nước xã hội chủ nghĩa một phần sản phẩm Nhờ đó, sản phẩm quốc gia sẽ gia tăng, các lực lượng sản xuất phát triển nhờ tiếp thu được công nghệ tiên tiến do nhà tư bản chuyển giao, tăng cường đại sản xuất trên quy mô cả nước và củng cố các mối quan hệ kinh tế do nhà nước quy định Hiển nhiên, nhà tư bản cũng được lợi, ngoài lợi nhuận thường, họ có thêm lợi nhuận siêu ngạch, hoặc được sử dụng nguyên liệu quý hiếm Vì vậy, nếu biết áp dụng chính sách tô nhượng một cách chừng mực và khôn khéo thì nhất định có lợi với nước chủ nhà Đồng thời

Lê Nin cũng chỉ rõ: “ chấp nhận tô nhượng là tiếp tục đấu tranh giai cấp dưới một hình thức khác, và thực tiễn sẽ chỉ rõ phương pháp đấu tranh” [25, tr 449].

Mức độ và điều kiện để hình thức tô nhượng có lợi cho nước chủ nhà phụ thuộc vào quan hệ so sánh về lực lượng giữa hai bên Vì thế, khi ký hợp dồng tô nhượng cần phải cân nhắc kỹ mọi điều, sau đó phải biết theo dõi việc chấp hành hợp đồng tô nhượng, định hướng sao cho đúng với mục tiêu ban đầu của nhà nước xã hội chủ nghĩa Theo Lê Nin, so với các hình thức khác của chủ nghĩa tư bản nhà nước thì có lẽ đây là hình thức đơn giản nhất, rành mạch nhất, vì nhà nước vô sản có thể dự báo trước những điều lợi và những diều hại có thể xảy ra, những quyền lợi và nghĩa vụ trong hợp đồng, biết đích xác thời hạn tô nhượng,

có một hợp đổng trực tiếp, chính thức bằng văn bản với tổ chức tư bản Nếu thành công, chính sách tô nhượng sẽ mang lại một số xí nghiệp lớn, kiểu mầu, với trình độ quản lý và khoa học kỹ thuật tiên tiến Những xí nghiệp ấy sau một thời gian sẽ hoàn toàn thuộc quyền sở hữu của Nhà nước Xô viết.

Ngoài ra, Lê Nin cũng nêu lên những hình thức khác của chủ nghĩa tư bản nhà nước như chế độ hợp tác kinh tế, chính sách thuê nhà tư bản như một thương nhân trả hoa hổng, thành lập công ty hợp doanh (vốn của doanh nghiệp gồm một phần của tư bản tư nhân, một phần của tư bản nước ngoài và một phần của Nhà nước Xô viết) Những hình thức này vừa có tác dụng hấp dẫn nhà tư bản, vừa

Trang 25

tạo điều kiện cho giai cấp công nhân trong nước làm quen, nắm bắt cách quản lý hiện đại của họ.

1.2 XU HƯỚNG VẬN ĐỘNG CỦA CÁC DOANH NGHIỆP CÓ V ốN ĐAU

TƯ NƯỚC NGOÀI TRÊN THẾ GIỚI

1.2.1 Xu hướng 111Ở l ộng và phát triển của các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài

Trong điều kiện toàn cầu hoá và khu vực hoá nền kinh tế thế giới đang diễn ra mạnh mẽ như hiện nay, các quốc gia và các công ty đều phải phụ thuộc lẫn nhau Mỗi thực thể không thể tồn tại một cách biệt lập hoàn toàn mà phải không ngừng xâm nhập lẫn nhau, bổ sung cho nhau để cùng phát triển Xuất phát từ yêu cầu tất yếu đó, các công ty phải nhanh chóng mở rộng các hoạt động kinh doanh, tích cực tìm kiếm các nguồn lực từ bên ngoài để tăng cường tiềm lực sản xuất kinh doanh của mình Đây chính là động lực thúc đẩy sự phát triển không ngừng của các loại hình doanh nghiệp có vốn đầu tư nưóc ngoài trên thế giới.

Sức ép của cuộc cách mạng khoa học - công nghệ đòi hỏi các công ty, các quốc gia phải tích cực và nhanh chóng nắm bắt được những thông tin mới nhất,

xử lý có hiệu quả các thông tin đó và đưa ra những quyết định phù hợp Việc thành lập các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài là một “kênh” quan trọng

để thư thập thông tin cả cho phía nhà đầu tư nước ngoài và phía nước sở tại Sự gia tăng không ngừng số lượng các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài xuất phát từ nguyên nhân quan trọng này Mặt khác, khi các hàng rào thuế quan và phi thuế quan cũng như chi phí vận chuyển vẫn đóng vai trò quan trọng quyết định đến giá thành và chất lượng sản phẩm thì sử dụng doanh nghiệp có vốn dầu

tư nước ngoài là biện pháp có hiệu quả.

19

Trang 26

1.2.2 Xu hướng đa dạng hoá hình thức tổ chức doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài

Cho đến nay, hình thức liên doanh và doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài vẫn là hình thức phổ biến trong hoạt động đầu tư quốc tế Thời gian gần dây, bên cạnh hai hình thức trên, ở nhiều nước trên thế giới đã xuất hiện hình thức liên hợp kinh doanh quốc tế v ề hình thức, loại doanh nghiệp này rất giống các doanh nghiệp liên doanh Song thực chất hai hình thức này khác nhau về mục tiêu và lợi ích Cơ chế vận hành, quản lý doanh nghiệp liên doanh do bên có vốn lớn khống chế và nằm giữ, hơn nữa, doanh nghiệp liên doanh do sử dụng nguồn vốn của công ty gốc nên nó lấy lợi ích tư nhân làm mục tiêu cao nhất Còn trong

tổ chức liên hợp kinh doanh quốc tế, một hình thức liên doanh của các công ty

đa quốc gia được thành lập ở một nước thứ ba, thì các bên tham gia lại có cùng một mục tiêu là cùng phát triển, cùng sản xuất, cùng có chung thị trường Các thành viên tham gia tổ chức liên hợp, bất kể tình hình tài sản của nó như thế nào cũng có thể cùng hưởng lợi Lợi ích chung của toàn bộ tổ chức liên hợp cũng là lợi ích của bản thân các thành viên Đối phó với dối thủ cạnh tranh là động lực thúc đẩy và là mục tiêu cuối cùng của sự hình thành liên hợp kinh doanh quốc tế Tuy nhiên, xu thế này hầu như chỉ diễn ra ở các nước phát triển giữa các công ty xuyên quốc gia hùng mạnh với nhau, nhằm tăng cường sức mạnh cạnh tranh và tiềm lực tài chính công nghệ.

Ở các nước đang phát triển, tuy cách thức thành lập doanh nghiệp liên doanh vãn chủ yếu diễn ra giữa một bên là các công ty xuyên quốc gia (chiếm đa số) với các doanh nghiệp nước sỏ' tại bao gồm cả doanh nghiệp nhà nước và doanh nghiệp tư nhân, nhưng hình thức tổ chức và cơ chế quản lý doanh nghiệp

đã có những thay đổi nhất định.

Bên cạnh đó, hình thức doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài trong nhiều trường hợp lại là liên doanh giữa nhiều bên nước ngoài Hơn nữa, cũng có sự quy

Trang 27

định mềm dẻo trong hệ thống pháp luật giữa các loại hình công ty trách nhiệm hữu hạn, công ty cổ phần hay công ty tư nhân.

1.2.3 Xu hướng đa dạng hoá lĩnh vực kinh doanh và mở rộng quy mô kinh doanh.

Các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài không những hoạt động trên các lĩnh vực chế tạo và khai khoáng - những lĩnh vực có tính truyền thống và tính quy luật mà còn mở rộng địa bàn kinh doanh sang các lĩnh vực dịch vụ như dịch vụ du lịch, ngân hàng, bảo hiểm, quảng cáo và xu hướng là tỷ trọng các doanh nghiệp trong lĩnh vực này ngày càng tăng lên Điều này cũng phù hợp với

xu thế toàn cầu hoá và khu vực hoá của nền kinh tế thế giới và khi mà lĩnh vực dịch vụ ngày càng chiếm tỷ trọng lớn hơn trong nền kinh tế của các quốc gia.

Mặt khác, quy mô của các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài cũng ngày càng được mở rộng Nếu như trước đây các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài chỉ đóng vai trò là một bộ phận lệ thuộc chặt chẽ vào công ty gốc với nhiệm vu cung cấp cấp nguyên liêu hay tiêu thụ sản phâm, thì ngày nay doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài đã trở thành một thực thể kinh doanh có lính độc lập trong việc đưa ra các quyết định kinh doanh; nguồn vốn của các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài cũng lớn hơn để đảm bảo các hoạt dộng dộc lập, tự chủ của doanh nghiệp.

1.3 S ự ĐIỀU CHỈNH TRONG CHÍNH SÁCH ĐÔÌ x ử VỚI CÁC HÌNH THỨC ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP NƯỚC NGOÀI CỦA CÁC NƯỚC TRONG KHU

Vực

Cuộc khủng hoảng tài chính tiền tệ Châu Á không những không càn trừ

mà trái lại thúc đẩy sự phát triển đáu tư trực tiếp nước ngOcài trên toàn cầu Qua khủng hoảng tài chính, gắn liền với làn sóng rút ổ ạt các nguồn vốn đáu tư ngắn hạn và sự rối loạn của thị trường chứng khoán, các nước lâm vào tình trạng khủng hoảng nhìn nhân rõ hơn vai trò tích cực của Đ T1TNN, coi việc cai thiện môi trường đầu tư, đẩy mạnh thu hút ĐTTTNN vừa là biện pháp cấp bách để

21

Trang 28

thoát khỏi khủng hoảng, vừa là chính sách lâu dài có ý nghĩa chiến lược đối với

sự phát triển kinh tế mỗi nước.

Nhờ áp dụng những chính sách, biện pháp mạnh mẽ cải thiện môi trường đầu tư, các nưóc đang phát triển Châu Á đã hạn chế được suy giảm ĐTNN do ảnh hưởng tiêu cực của khủng hoảng Trong số các nước bị ảnh hưởng nghiêm trọng nhất bởi cuộc khủng hoảng tài chính tiền tệ khu vực, Hàn Quốc và Thái Lan đã tiến hành cải cách cơ bản môi trường đầu tư nước ngoài nhằm thu hút hơn nữa đầu tư nước ngoài nhằm góp phần phục hồi kinh tế sau khủng hoảng.

1.3.1 Trung Quốc

Từ một nước vốn có truyền thống bài ngoại, coi quan hệ với nước ngoài là

“đầu hàng”, là “bán rẻ chủ quyền đất nước”, là “dâng tài nguyên cho ngoại bang”, Trung Quốc đã phải “mở cửa” nhằm phục hồi và chấn hưng nền kinh tế Ngày 1/7/1979 Trung Quốc đã công bố Luật đầu tư hợp tác với nước ngoài.

Nhà đầu tư nước ngoài tại Trung Quốc có thể lựa chọn các hình thức dầu

tư sau đây:

- Liên doanh hợp tác không thành lập pháp nhân (giống hình thức hợp doanh của Việt Nam) và có thành lập pháp nhân.

- Doanh nghiệp liên doanh hợp vốn.

- Doanh nghiệp liên doanh cổ phần.

- Doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài.

- Mua lại cổ phần của các công ty TNHH Trung quốc.

- Thành lập công ty quản lý vốn (Holding company).

- Thành lập công ty cổ phần hữu hạn có vốn đầu tư nước ngoài.

Trung Quốc cho phép thành lập doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài trong một số ngành nhất định Phần vốn nước ngoài trong các liên doanh thông thường phải chiếm ít nhất 25% vốn đăng ký Một số dự án đầu tư nước ngoài thuộc danh mục các dự án hạn chế phải đáp ứng các yêu cầu cụ thể về tỷ lệ vốn nước ngoài Trung Quốc chia các dự án đầu tư nước ngoài thành bốn loại : các dự án khuyến

Trang 29

khích, các dự án hạn chế, các dự án cấm và các dự án được phép là các dự án không thuộc ba loại trên Danh mục các dự án nêu trên được sửa đổi bổ sung trong từng thòi kỳ Lần sửa đổi gần đây nhất có hiệu lực từ 1/1/1998 Theo đó, các lĩnh vực cấm đầu tư nước ngoài chỉ gồm: truyền thanh, truyền hình và điện ảnh, báo chí, sản xuất vũ khí, đua ngựa và dịch vụ liên quan.

1.3.2 Các nước ASEAN

Từ năm 1980 đến nay, thái độ của các nước ASEAN đối với đầu tư trực tiếp nước ngoài đã có nhiều thay đổi Chính sách dựa chủ yếu vào tư bản nhà nước dể phát triển đã bị từ bỏ vì nó tạo ra những ngành kinh doanh không hiệu quả, chất gánh nặng cho đất nước bằng những món nợ nặng nề Cuộc khủng hoảng kinh tế và tài chính giữa thập kỷ 90 đã ảnh hưởng một cách nghiêm trọng tới nền kinh tế các nước ASEAN và sự năng động của các doanh nghiệp trong khu vực Để lấy lại lòng tin của doanh nghiệp, đẩy nhanh quá trình phục hổi kinh tế và thúc đẩy tăng trưởng, các nhà lãnh đạo ASEAN đã cam kết hoàn thành khu vực mậu dịch tự do ASEAN (AFTA) vào năm 2003 và nhất trí thi hành các biện pháp khuyến khích đặc biệt để thu hút nguồn vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài vào khu vực.

là việc tăng cổ phần của nước ngoài phải làm tăng khả năng xuất khẩu của doanh nghiệp Chính phủ cho phép các liên doanh có tỷ lệ góp vốn của người Indonesia chiếm từ 75% trở lên được hoạt động phân phối nội địa Người nước ngoài dược mua cổ phần trong thị trường vốn Indonesia từ tháng 12 năm 1987 và được tham gia vào các lĩnh vực trước đây cấm như buôn bán, đóng tàu, ngân hàng.

Trang 30

Từ cuối năm 1998, ngoài việc chấp nhận hình thức 100% sờ hữu nước ngoài trong tất cả các lĩnh vực sản xuất, Indonesia cho phép các nhà đầu tư nước ngoài đủ tiêu chuẩn đề ra được sở hữu 100% vốn trong các ngành bán buôn, bán

lẻ Trong lĩnh vực ngân hàng, các ngân hàng thương mại cũng được phép có 100% sở hữu nước ngoài.

1 3 2 2 M a la y s ia

Từ năm 1986 Chính phủ malaysia đã có một số điều chỉnh tích cực trong chính sách thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài Từ năm 1990 Malaysia cho phép thành lập các doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài đối với dự án xuất khẩu trên 80% sản phẩm Đối với các dự án xuất khẩu từ 50% đến 80% thì doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài chỉ được thành lập nếu thoả mãn các điều kiện:

- Vốn cố định tối thiểu 50 triệu RM (18 triệu USD) hoặc giá trị gia tăng của dự án tối thiểu 50% và sản phẩm không cạnh tranh với hàng sản xuất trong nước.

Từ năm 1998 Malaysia cho phép hình thức 100% sở hữu nước ngoài trong tất cả các lĩnh vực sản xuất công nghiệp mà không yêu cầu điều kiện xuất khẩu đối với các dự án đầu tư mới, đầu tư mở rộng và đa dạng hoá đầu tư.

1 3 2 3 P h ilip p in e s

Trước đây, Phi lippines chỉ cho phép thành lập doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài trong trường hợp:

- Dự án xuất khẩu trên 70% sản phẩm.

- Dự án đầu tư trong khu chế xuất.

- Dự án đầu tư trong vùng cảng tự do Subic.

- Dự án thoả mãn một trong các điều kiện:

+ Có giá trị cao trong việc thực hiện các mục tiêu của nền kinh tế quốc dân;

+ Sử dụng nhiên liệu hoặc các nguồn năng lượng đặc biệt.

Trang 31

Cuối năm 1998 Chính phủ Philippines tuyên bố mở cửa ngành bán lẻ và lĩnh vực phân phối cho sở hữu nước ngoài Ngoài ra, nước này mở cửa thị trường xây dựng nội địa cho các công ty nước ngoài (trước đây chỉ dành cho các công

ty của Philippines).

1 3 2 4 T h á i L a n

Từ những năm 60 Thái Lan đã có những quy chế khuyến khích đầu tư bao gồm cả đầu tư trực tiếp nước ngoài Nhưng cho tới tận những năm 80 Thái Lan vẫn chưa cảm thấy nhu cầu cấp thiết phải thúc đẩy FDI như một biện pháp để thực hiện tăng trưởng kinh tế Từ năm 1985-1986 Thái Lan bắt đầu thực hiện những biện pháp mềm dẻo hơn nhằm thu hút vốn FDI Các doanh nghiệp xuất khẩu 100% sản phẩm có thể được thành lập theo hình thức doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài tại Thái Lan Trước khủng hoảng, nguồn vốn FDI chỉ chiếm khoảng 15% tổng vốn đầu tư nước ngoài vào nước này Để đối phó với khủng hoảng, Thái Lan đã ban hành Luật kinh doanh của người nước ngoài (mới) vào tháng 10/1998, thiết lập nguyên tắc tự do kinh doanh của người nước ngoài, thu hẹp lĩnh vực cấm và hạn chế đầu tư từ 68 lĩnh vực xuống còn 38 lĩnh vực Nhà đầu tư nước ngoài được sở hữu 100% vốn đối với các dự án khuyến khích dầu tư; các dự án trong lĩnh vực nông nghiệp, chăn nuôi gia súc, thuỷ sản, khai khoáng với vốn đầu tư trên 1 tỷ baht (trên 25 triệu USD); các dự án đầu tư vào khu vực 3 (địa bàn kinh tế xã hội khó khăn) Tháng 12/1998 Chính phủ Thái lan tuyên bố cho phép hình thức 100% sở hữu nước ngoài đối với cả các dự án drill

tư trong sản xuất công nghiệp, không phân biệt địa bàn.

1.3.3 Hàn Quốc

Trước khủng hoảng, nền kinh tế Hàn Quốc tương đối đóng cửa dối với ĐTTĨNN Tỷ lệ ĐTTTNN so với tổng đầu tư vào tài sản cố định ở Hàn Quốc trong thời kỳ 1986-1996 chỉ ở mức khoảng 1%, thấp hơn nhiều so với mức bình quân cùng kỳ 7,5% của các nước Đông Á, Nam Á và Đông Nam Á Nhằm dối phó với khủng hoảng mà một trong những nguyên nhân chính là dựa quá nhiều vào nguồn vốn vay nợ nước ngoai để đầu tư, Hàn Quốc đã thay dổi dường lối

2 5

Trang 32

kinh tế, mở cửa đẩy mạnh thu hút đầu tư nước ngoài, coi đây là một trong các giải pháp chủ yếu để cơ cấu lại nền kinh tế Cụ thể, Hàn Quốc ban hành luật xúc tiến đầu tư nước ngoài mới (11/1998), chuyển từ quan điểm điều tiết và kiểm soát sang thúc đẩy và hỗ trợ đầu tư trực tiếp nước ngoài, đồng thời tuân thủ các chuẩn mực quốc tế, nhất là các quy định của OECD trên lĩnh vực đầu tư Trong khoảng 1150 ngành nghề của nền kinh tế Hàn Quốc chỉ đóng cửa 13 ngành và hạn chế 18 ngành đối với ĐTTTNN, đồng thời dành cho các nhà đầu tư nước ngoài quy chế đãi ngộ quốc gia trong việc thành lập và hoạt động kinh doanh Bên cạnh viêc đơn giản hoá mạnh mẽ thủ tục đầu tư, thành lập các khu vực thu hút đầu tư với quy chế ưu đãi riêng, từng bước mở cửa thị trường đất đai và bất động sản, Chính phủ Hàn Quốc thực hiện tự do hoá thị trường chứng khoán và thị trường vốn, bãi bỏ hoàn toàn các hạn chế đối với nhà đầu tư nước ngoài trong việc sáp nhập và mua lại các công ty Hàn Quốc.

TÓM TẮT CHƯƠNG I

Hình thức đầu tư áp dụng cho mỗi dự án là một trong những yếu tố ban đầu thu hút sự quan tâm của cả các nhà đầu tư nước ngoài và nước chủ nhà Đối với bên tiếp nhận đầu tư cũng như bên đầu tư, mỗi hình thức đầu tư đều có ưu nhược điểm của nó Việc chuyển đổi hình thức đầu tư trong quá trình hoạt dộng của một dự án là bình thường, phổ biến trên thế giới.

Trong hoàn cảnh cạnh tranh thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài dể phục vụ nhu cầu phát triển kinh tế, các nước đều điều chỉnh chính sách của mình, công nhận quyền của các nhà đầu tư nước ngoài trong việc lựa chọn hình thức đầu tư, địa bàn đầu tư và lĩnh vực đầu tư; nới lỏng các điều kiện và thu hẹp các hạn chế về hình thức đầu tư, đặc biệt là hình thức 100% vốn nước ngoài.

Trong môi trường chính trị -xã hội và kinh doanh ổn định, các nhà đầu tư, đặc biệt là các công ty xuyên quốc gia thường đầu tư dưới hình thức 100% vốn

Trang 33

ở các nước, nhằm giữ toàn quyền điều hành sản xuất kinh doanh theo chiến lược toàn cầu của họ.

So với các nước, đặc biệt là Trung Quốc, hình thức đầu tư của Việt Nam chưa thật đa dạng, phong phú Việt Nam chưa có quy định về việc thành lập doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài dưới hình thức công ty cổ phần, công ly quản lý vốn Xét về hình thức đầu tư, các nước trong khu vực đã có những cải tiến thích hợp, thông thoáng hơn trước, đáp ứng được nhu cầu của nhà dầu tư nước ngoài, tạo cho nhà đầu tư cảm giác có quyền được lựa chọn hình thức đầu

tư Đối với các nước đã có thị trường chứng khoán hoạt động, việc chuyển nhượng vốn, cổ phần giữa các đối tác liên doanh và việc chuyển đổi hình thức đầu tư hoàn toàn tự do.

2 7

Trang 34

Chưong II THỤC TRẠNG CÁC HÌNH THỨC ĐAU t ư t r ụ c t i ế p n ư ớ c

NGOÀI TẠI VIỆT NAM GIAI ĐOẠN 1988-1999

NAM

Tính đến hết năm 1999 đã có 2.936 dự án đầu tư trực tiếp nước ngoài tại Việt Nam được cấp phép đầu tư, với tổng vốn đầu tư hơn 42 tỷ USD, trong đó sô vốn đầu tư đã thực hiện hơn 16 tỷ USD Vốn FDI chiếm gần 30% tổng vốn đầu

tư phát triển toàn xã hội hàng năm Các dự án FDI góp phần chuyển dịch cơ câu kinh tế nước ta, tạo ra nhiều ngành nghề mới, năng lực sản xuất mới; góp phán duy trì nhịp độ tăng trưởng và ổn định của nền kinh tế; giải quyết việc làm trực tiếp cho hơn 325 ngàn lao động và gián tiếp tạo việc làm cho khoảng 1 triệu lao động khác; thúc đẩy tiến trình hội nhập quốc tế và khu vực, củng cố và nCmg cao

vị thế của Việt Nam trên trường quốc tế Có thể rút ra một số nhận xét sau đây

về hoạt động đẩu tư trực tiếp nước ngoài thời gian qua:

Trang 35

Trong thời kỳ 1991-1995, các dự án đầu tư trực tiếp nước ngoài đã thực hiện đầu tư 6,3 tỷ USD Nếu trừ phần vốn góp của Bên Việt Nam hon 1,3 tý USD (chủ yếu là giá trị quyền sử dụng đất) thì phần vốn nước ngoài đưa vào thông qua các dự án FDI là gẩn 5 tỷ USD, chiếm 25% tổng vốn đầu tư toàn xã hội Năm 1996, tổng vốn đầu tư toàn xã hội đạt 6,3 tỷ USD thì khu vực có vốn đầu tư nước ngoài thực hiện 2,65 tỷ USD, trong đó đó vốn nước ngoài đưa vào gần 2,28 tỷ USD, chiếm 36,5% vốn dầu tư toàn xã hội Năm 1997 thực hiện vốn dầu tư của khu vực có vốn đầu tư nước ngoài đạt 3,25 tỷ USD, trong dó vốn nước ngoài đưa vào 2,8 tỷ USD, chiếm 30% vốn đầu tư toàn xã hội Năm 1998, vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài đã thực hiện đạt hơn 1,95 tỷ USD, trong đó vốn nước ngoài dưa vào đạt 1,8 tỷ USD, chiếm 26,8% tổng vốn đẩu tư toàn xã hội.

Bảng 1: Tổng hợp thực hiện đầu tu trực tiếp nước ngoài

N guồn: Bộ KH & Đ T, Tổng cục Thống Kê, Tổng cục Hởi quan, Tổng cục T h u ế - 312000

Nhờ đóng góp của nguồn vốn FDI nêu trốn, trước hết tập trung vào các lĩnh vực sản xuất, dịch vụ dễ sinh lợi nhuận và thuận lợi kinh doanh, Nhà nước

2 9

Trang 36

có điều kiện chủ động hơn trong việc bố trí cơ cấu vốn đầu tư theo ngành và lãnh thổ, tập trung vốn ngân sách cho các mục tiêu quan trọng (phát triển cơ sở hạ tẩng kinh tế xã hội) và đầu tư cho các vùng kinh tế xã hội khó khăn.

Đầu tư trực tiếp nước ngoài đã tạo ra một số năng lực sản xuất mới, ngành sản xuất mới, phương thức quản lý và kinh doanh mới, tạo việc làm, góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế, tăng tỷ trọng công nghiệp và dịch vụ trong GDP.

Khu vực có vốn đáu tư nước ngoài chiếm tỷ trọng khá cao trong một số chuyên ngành như: 100% sản lượng dầu thô, ô tô, xe máy, máy lạnh, điều hoà nhiệt độ; 50% điện tử gia dụng; 70% sản lượng thép cán; 30% sản lượng xi măng, 32% giày dép xuất khẩu; 20% sản lượng thực phẩm và đồ uống; 16% sản lượng may mặc; 14% sản lượng ngành hoá chất của cả nước.

Bình quân mỗi năm khu vực này đã thu hút thêm 30-35 ngàn lao dộng trực tiếp và gián tiếp tạo việc làm cho hàng trăm ngàn lao động khác trong các lĩnh vực dịch vụ, xây dựng

Thông qua các dự án trên chúng ta đã tiếp nhận được một sô công nghệ tiến bộ trong nhiều ngành kinh tế quan trọng như bưu chính viễn thông, thăm dò khai thác dầu khí, điện-điện tử, sắt thép, sản xuất và lắp ráp ô tô, xe máv, vật liệu xây dựng Đồng thòi, chúng ta cũng học tập được một số kinh nghiệm quản !ý doanh nghiệp và làm ăn trên thương trường quốc tế.

Đầu tư trực tiếp nước ngoài thúc đẩy tốc độ tăng trưởng kinh tế và kim ngạch xuất khẩu của đất nước, tăng thêm nguồn thu cho ngân sách

Thực tế, từ năm 1991 đến nay, tốc độ tăng bình quân giá trị sản xuất công nghiệp của khu vực có vốn dầu tư nước ngoài đạt 22%/năm (năm 1996 dạt 21,7%, 1997 đạt 23,2%, 1998 đạt 23,3%, năm 1999 đạt 20,0%).

Đóng góp của khu vực có vốn đầu tư nước ngoài trong tổng sản phẩm quốc nội (GDP) không ngừng tăng từ 6,3% năm 1995 lên 7,4% năm 1996, 9,1% năm 1997, 10,1% năm 1998 và 10,3% năm 1999 Năm 1996, trong lĩnh vực công nghiệp, khu vực có vốn đầu tư nước ngoài đóng góp 24,8% giá trị tổng sản

Trang 37

lượng; tỷ trọng này đã tăng lên 28,2% năm 1997, 30% năm 1998 và 35% năm

1999 Nếu không có sự tăng trưởng nhanh của công nghiệp khu vực có vốn đầu

tư nước ngoài thì tốc độ tăng trưởng của toàn ngành công nghiệp Việt Nam chỉ đạt 11,6% thay vì mức thực tế đã đạt 13,6% trong năm 1995; năm 1996 chỉ đạt

11 3% thay vì mức thực tế đã đạt 14,5% ; năm 1997 chỉ đạt 9,5% thay vì thực tế

đã đạt 12,6% và năm 1998 chỉ đạt 6,9% thay vì thực tế đã đạt 10,3%.

Các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài không chỉ đóng góp tích cực vào việc tăng nhanh tổng sản phẩm quốc nội mà còn góp phần đáng kể vào làm tăng kim ngạch xuất khẩu của nước ta Nếu năm 1991 khu vực này mới xuất khẩu được 52 triệu USD, thì năm 1995 đã xuất khẩu 440 triệu USD, năm 1997 xuất khẩu 1.790 triệu USD, năm 1998 xuất khẩu 1.982 triệu USD, năm 1999 xuất khẩu 2600 triiêụ USD chiếm khoảng 22,6% tổng giá trị kim ngạch xuất khẩu của cả nước Đó là chưa kể giá trị xuất khẩu dầu thô hoàn toàn do các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài thực hiện.

Tỷ lệ xuất khẩu so với tổng doanh thu của khu vực có vốn dầu tư nước ngoài năm 1995 đạt 30%, năm 1996 đạt 37%, năm 1997 đạt 49%, năm 1998 dạt 51%, năm 1999 đạt 56% Như vậy, giá trị tuyệt đối cũng như tỷ trọng xuất khẩu

so với doanh thu của các doanh nghiệp FDI tăng nhanh trong những năm gần đây Điều đó khẳng định việc thu hút đầu tư hướng về xuất khẩu của ta đang từng bước đạt tới mục tiêu đã đặt ra Sản phẩm xuất khẩu thời gian qua chủ yếu

là hàng tiêu dùng như hàng dệt may, da giày, điện tử, hàng nông-lâm - thuỷ sản chế biến.

Thông qua việc nộp các loại thuế theo quy định của Nhà nước Việt Nam, các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài đã có đóng góp đáng kể cho ngôn sách Nhà nước Cụ thể, năm 1995 nộp 195 triệu USD, năm 1996 nộp 263 triệu USD, năm 1997 nộp 315 triệu USD, năm 1998 nộp 316 triệu USD, năm 1999 nộp 271 triệu USD.

Hiện nay phần lớn các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài vẫn dang trong thời kỳ được miễn giảm thuế thu nhập doanh nghiệp hoặc chưa thực sự có

31

Trang 38

lãi Phần lớn vật tư nhập khẩu để tạo tài sản cố định hình thành doanh nghiệp dược miễn thuế nhập khẩu Nhiều doanh nghiệp thòi gian gần đây được điều chỉnh giảm giá tiền thuê đất Vì vậy, đóng góp của các doanh nghiệp có vốn đầu

tư nước ngoài (trừ dầu thô xuất khẩu) cho ngân sách Nhà nước mới đạt 6-7% số thu ngân sách hàng năm.

Đầu tư trực tiếp nước ngoài góp phần giải quyết việc làm cho người lao động, tăng thu nhập quốc dân nội địa.

1999 khu vực FDI đã thu hút 325.000 lao động trực tiếp làm việc tại các doanh nghiệp và gián tiếp tạo việc làm cho khoảng 1 triệu lao động trong các lĩnh vực

FDI có khoảng 6.000 cán bộ quản lý, 25.000 cán bộ kỹ thuật và 150.000 công nhân lành nghề Số người do các doanh nghiệp tự đào tạo tay nghề chiếm hơn 60% tổng số lao động Khoảng 73% số lao động làm việc trong khu vực sản xuất công nghiệp Cũng theo Bộ Kế hoạch và đầu tư, với mức lương bình quân xấp xỉ

70 USD/người/tháng, tổng thu nhập của người lao động trong khu vực này lèn tới trên 300 triệu USD/năm.

Đầu tư nước ngoài đã đóng góp tích cực vào công cuộc đổi mới và quá trình hội nhập quốc tế của nước ta.

Trước và một vài năm sau khi có Luật đầu tư nước ngoài (1987-1990), nước ta dứng trước những khó khăn, thách thức cực kỳ to lớn (hệ thông xa hội chủ nghĩa Đông Âu tan rã, các nguồn viện trợ từ các nước XHCN, đặc biệt từ Liên Xô chấm dứt, Mỹ vẫn tiếp tục bao vây, cấm vận, cơ sở vật chất-kỹ thuật của nền kinh tế còn hết sức nghèo nàn, lạc hậu ) Trong bối cảnh dó, cùng với chính sách đối ngoại đúng đắn của Nhà nước ta và các hoạt động kinh tế đối ngoại khác ĐTNN đã góp phần tạo ra thế và lực mới cho đất nước Trong thời kỳ 1991-1998 đầu tư trực tiếp nước ngoài trở thành một động lực quan trọng thúc đẩy quá trình phát triển, đổi mới và hội nhập thế giới của nước ta Nhừ có hoạt động FDI, các mối liên hệ kinh tế song phương, đa phương của Việt Nam với

Trang 39

các nước khu vực trên thế giới đã được thiết lập và củng cố Với sự ra đời của các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài, Việt Nam đang từng bước tham gia vào quá trình phân công lao động quốc tế, qua đó có cơ hội tiếp cận thị trường quốc tế từng bước đi vào quỹ đạo, hoà nhập nền kinh tế thế giới Điều này có vai trò đặc biệt quan trọng khi Việt Nam đang trong quá trình chuyển đổi và phát triển nền kinh tế thị trường.

ra đòi hỏi Nhà nước phải có chính sách khuyên khích hơn nữa xuất khâu.

+ Mục tiêu chuyển dần từ lắp ráp bằng linh kiện nước ngoài sang lắp ráp bằng linh kiện sản xuất trong nước chưa đủ điều kiện thực hiện Chương trình nội địa hoá trong lĩnh vực sản xuất điện, điện tử, ô tố, xe máy hầu như không tiến triển được Chính sách thuế của ta còn bất hợp lý, không khuyến khích các

doanh nghiệp trong nước chưa đủ khả năng sản xuất.

+ Mục tiêu tăng dần tỷ lệ góp vốn của Bên Việt Nam trong các liên doanh gặp nhiều trở ngại, do khả năng tài chính của các doanh nghiệp Việt Nam quá nhỏ bé Hiện nay, Bên Việt Nam chủ yếu góp vốn liên doanh bằng giá trị quyền

sử dụng đất, tài nguyên và nhà xưởng có sẵn, phần góp vốn bằng tiền chỉ chiêm chưa tới 10% Trong điều kiện nhiều doanh nghiệp liên doanh bị thua lỗ trong

33

Trang 40

những năm đầu, Bên Việt Nam không những không có khả năng tăng tỷ lệ góp vốn của mình mà còn phải bán bớt cổ phần cho phía nước ngoài để bảo toàn vốn, dẫn đến xu hướng chuyển doanh nghiệp liên doanh thành doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài.

+ Việc thu hút công nghệ cao thông qua các dự án FDI chưa có kết qua Tính tới hết năm 1999 mới có hơn 70 hợp đồng chuyển giao công nghệ được phê duyệt, quá ít so với hơn 2.000 dự án đang hoạt động Thực tế Nhà nước chưa có chính sách khuyến khích thoả đáng đối với dự án sử dụng công nghệ cao dể tạo

ra sản phẩm xuất khẩu có giá trị Việc giám định, đánh giá công nghệ, thiết bị nhập khẩu đang là vấn đề khó khăn do thiếu chuyên gia có năng lực và am hiểu lĩnh vực này Nguy cơ ngày càng tụt hậu về công nghệ vẫn đang là một thực tế đáng lo ngại.

Vấn đề lao động và tiền lương còn nhiều bất cập.

+ Công tác chuẩn bị đội ngũ lao động cung ứng cho các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài chưa được các ngành và các địa phương quan tâm đúng mức Các cơ quan làm nhiệm vụ cung ứng lao động thường không chịu trách nhiệm về phẩm chất người lao động nên không có uy tín đối với doanh nghiệp

Do vậy, hầu hết các doanh nghiệp đều đòi hỏi được tự tuyển lao động Chất lượng lao động của ta còn thấp, trình độ học vấn chưa đáp ứng được yêu cầu của doanh nghiệp và thiếu khả năng tiếp nhận công nghệ mới Mâu thuẫn giữa việc

áp dụng công nghệ tiên tiến với việc giải quyết việc làm cho người lao dộng đang trỏ' nên nan giải đối với nhiều doanh nghiệp liên doanh.

+ Hiện nay, do thuế thu nhập cá nhân quá cao, đồng thời chi phí dào tạo công nhân Việt Nam lớn, nên tuy tiền lương danh nghĩa người lao dộng nhận được hàng tháng thấp nhưng chi phí lao động ở Việt Nam đã vào mức cao so với các nước trong khu vực, làm giảm sức cạnh tranh thu hút đầu tư nước ngoài.

+ Đội ngũ cán bộ quản lý Việt Nam trong các doanh nghiệp liên doanh (Tổng giám đốc, Phó Tổng giám đốc, kế toán trưởng) chưa dược đào tạo dầy dủ

về chuyên môn, pháp luật và ngoại ngữ (do cơ chế cứ có đất là liên doanh với

Ngày đăng: 24/02/2023, 20:08

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
2. Đỗ Đức Bình, Tô Xuân Dân - Hội nhập AFTA - cơ hội và thách thức - ĐHKTQD, 1997 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hội nhập AFTA - cơ hội và thách thức
Tác giả: Đỗ Đức Bình, Tô Xuân Dân
Nhà XB: ĐHKTQD
Năm: 1997
3. Bộ K ế hoạch và Đầu tư - Báo cáo đánh giá 10 năm hoạt động đầu tư trực tiếp nước ngoài - 1999 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo đánh giá 10 năm hoạt động đầu tư trực tiếp nước ngoài
Tác giả: Bộ K ế hoạch và Đầu tư
Năm: 1999
4. Bộ Kế hoạch và Đầu tư - Báo cáo tình hình và giải pháp thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài - 1999 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo tình hình và giải pháp thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài
Tác giả: Bộ Kế hoạch và Đầu tư
Năm: 1999
5. Bộ K ế hoạch và Đầu tư - Các văn bản hướng dẫn hoạt động đầu tư trực tiếp nước ngoài tại Việt Nam - 1998 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Các văn bản hướng dẫn hoạt động đầu tư trực tiếp nước ngoài tại Việt Nam
Tác giả: Bộ Kế hoạch và Đầu tư
Năm: 1998
6. Bộ K ế hoạch và Đầu tư - Luật sửa đổi bổ sung một số điều của Luật đầu tư nước ngoài tại Việt Nam - 2000 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Luật sửa đổi bổ sung một số điều của Luật đầu tư nước ngoài tại Việt Nam
Tác giả: Bộ Kế hoạch và Đầu tư
Năm: 2000
9. Bộ K ế hoạch và Đầu tư - Tài liệu hội thảo về cổ phần hoá , đa dạng hoá hình thức đầu tư nước ngoài - 1/2000 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tài liệu hội thảo về cổ phần hoá , đa dạng hoá hình thức đầu tư nước ngoài
Tác giả: Bộ Kế hoạch và Đầu tư
Năm: 2000
10. Bộ Kế hoạch và Đầu tư - Tờ trình Quốc hội về Dự án Luật sửa dổi bổ sung một số điều của Luật đầu tư nước ngoài tại Việt Nam - 5/2000 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tờ trình Quốc hội về Dự án Luật sửa đổi bổ sung một số điều của Luật đầu tư nước ngoài tại Việt Nam
Tác giả: Bộ Kế hoạch và Đầu tư
Năm: 2000
11. Bô Ngoại giao - Chủ quyền kinh tế trong một thế giới đang toàn cầu hoá - Nhà xuất bản Chính trị quốc gia - 1999 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bô Ngoại giao - Chủ quyền kinh tế trong một thế giới đang toàn cầu hoá
Nhà XB: Nhà xuất bản Chính trị quốc gia
Năm: 1999
12. Chính phủ - Nghị định 24/2000/NĐ-CP ngày 31 tháng 7 năm 2000 quy định chi tiết thi hành Luật đầu tư nước ngoài tại Việt Nam Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị định 24/2000/NĐ-CP ngày 31 tháng 7 năm 2000 quy định chi tiết thi hành Luật đầu tư nước ngoài tại Việt Nam
Tác giả: Chính phủ
Năm: 2000
13. Mai Ngọc Cường - Hoàn thiện chính sách và tổ chức thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài, thúc đẩy tăng trưởng kinh tế ở Việt Nam - Báo cáo đề tài cấp bộ B98-38-14 - ĐHKTQD, 1999 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hoàn thiện chính sách và tổ chức thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài, thúc đẩy tăng trưởng kinh tế ở Việt Nam
Tác giả: Mai Ngọc Cường
Nhà XB: ĐHKTQD
Năm: 1999
14. Tô Xuân Dân, Nguyễn Thị Hường, Nguyễn Thường Lạng - Giáo trình Quản trị dự án quốc tế và Doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài - NXB Thống Kê, Hà Nội - 1998 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình Quản trị dự án quốc tế và Doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài
Tác giả: Tô Xuân Dân, Nguyễn Thị Hường, Nguyễn Thường Lạng
Nhà XB: NXB Thống Kê
Năm: 1998
15. Đảng Cộng sản Việt Nam - Văn Kiện Đại Hội khoá VI, VII VIII - Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia (1993-1998) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn Kiện Đại Hội khoá VI, VII VIII
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia
Năm: 1993-1998
27. Ban thư ký ASEAN - Trends and Developments in Foreign Direct Investment - ASEAN Investment Report 1999 Sách, tạp chí
Tiêu đề: ASEAN Investment Report 1999
Tác giả: ASEAN Secretariat
Nhà XB: ASEAN Secretariat
Năm: 1999
28. Telstra Corporation Limited - A new Business Model for investment in Telecommunications - Hà Nội, 2000 Sách, tạp chí
Tiêu đề: A new Business Model for investment in Telecommunications
Tác giả: Telstra Corporation Limited
Năm: 2000
29. Văn phòng Thủ tướng Malasia - M alaysia’s socio - economic development - Kuala Lumpur, 1998.30. V ă n phòng Thủ tướng Malasia - Malaysia Investment in themenufacturring sector - Policies, Incentives and Facilities - - Kuala Lumpur, 1998.economic and social development plan (1997-2001) - Bangkok, 1998 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Malaysia’s socio-economic development
Tác giả: Văn phòng Thủ tướng Malasia
Nhà XB: Kuala Lumpur
Năm: 1998
32. World Bank - Vietnam Preparing for take off - Report - 1999 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vietnam Preparing for take off - Report
Tác giả: World Bank
Năm: 1999
1. Hà Anh - Nâng giá thiết bị trong các liên doanh - Việt Nam Đầu tư nước ngoài số 119 -1995 Khác
7. Bộ Kế hoạch và Đầu tư - Một số vấn đề về hình thức liên doanh hợp tác và liên doanh hợp vốn theo pháp luật Trung Quốc - Hà Nội, 1999 8. Bộ K ế hoạch và Đầu tư - So sánh pháp luật và quy định hiện hànhkhuyến khích đầu tư nước ngoài tại 10 nước Châu Á - 1999 Khác

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w