Tuy nhiên, hiện nay các mặt hàng thủ công mỹ nghệ của Việt Nam trên thị trường EU đang gặp phải sự cạnh tranh quyêt liệt từ hàng hoá của một sô nước khác có những điều kiện tương tự tron
Trang 2Bộ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TÊ QUỐC DÂN
LUẬN VĂN TIIẠC SỸ KINII TÊ
A ,
M A
Chuyên ngành: KINH TÊ Q U Ô C TÊ
Người hướng đẫn khoa học: Tồ NGUYỄN THƯÒNG LẠNG
T H ĩ c
HÁ NỘI - 2002
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Tôi xin chân thành cảm ơn sự giúp đỡ tận tình của thầy giáo hướng dẫn, tiến
sỹ Nguyễn Thường Lạng Cảm ơn tập thổ các thầy giáo, cô giáo khoa Kinh tế và Kinh doanh Quốc tế, khoa Sau Đại học, trường đại học Kinh tế Quốc dân
Xin chân thành cảm ơn anh Hà Sơn, cục Chế biến Nông, Lâm sản và Ngành nghề Nông thôn, bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Cảm ơn bạn bè, đồng nghiệp và gia đình đã giúp đỡ tôi hoàn thành luận văn này
Trong quá trình thực hiện luận văn, do khả năng và thời gian có hạn sẽ không tránh khỏi những thiếu sót Tôi rất mong được các thầy, cô giáo, các cơ quan hữu quan và bạn đọc tham gia góp ý để lần nghiên cứu sau có được những đóng góp thiết thực hơn
Xin trân trọng cảm ơn
Trang 4MỤC LỤC
NHŨNG CHỮ VIẾT TẮT TIÊNG VIỆT s ử DỤNG TRONG LUẬN VÃN 6
NHŨNG CHỮ VIẾT TẮT TIÊNG ANH s ử DỤNG TRONG LUẠN VÃN 6 DANH MỤC CÁC BẢNG SÔ LIỆU 7
DANH MỤC CÁC s ơ Đổ ZZ.ZZZZ.ZZZ.Z.ZZZZZ.Z.ZZZ.ZZ 7 PHẦN Mổ ĐẦU zzzzzzzzz.zzzzzz.z.zzz.z.i"""”" 8 C h ư ơ n g / : NHỮNG VÂN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG VỂ CẠNH TRANH VÀ HOẠT ĐỘNG SẢN XUẤT HÀNG THỦ CÔNG MỸ NGHỆ CỦA VIỆT NAM 11 1.1 Những vấn đề lý luận chung về cạnh tranh 1 1 1 1 1 K h á i n iệ m c ạ n h tr a n h 1 1 1 1 2 V a i tr ò c ủ a c ạ n h tr a n h tr o n g v iệ c p h á t tr iể n s ả n x u ấ t h à n g h o á 12
1.1.2.1 Điều chỉnh giữa cung và cầu 12
1.1.2.2 Phân bổ có hiệu quả các nguồn lực .13
1.1.2.3 Kích thích tiến bộ công nghệ 14
1.1.2.4 Phân phối thu nhập 14
1.1.2.5 Thoả mãn nhu cầu của người tiêu dùng .15
1.1.2.6 Tạo ra sự thích nghi lỉnh h o ạ t 15
1.1.2.7 Đem lại quyên tự clo cá nhân trong lựa chọn và hành động 15 1 1 3 K h ả n ă n g c ạ n h tr a n h c ủ a d o a n h n g h iệ p 16
1.1.3.1 Khái niệm vê khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp .16
1.1.3.2 Các chỉ tiêu đánh giá khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp 15
1.1.3.3 Các yếu tố ảnh hưởng trực tiếp đến khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp .17
1.1.3.4 Các yếu tô tác động gián tiếp đến khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp .21
1.2 Hoạt động sản xuất hàng thủ công mỹ nghệ của Việt N a m 27
1 2 1 L ịc h s ử p h á t tr iể n n h ó m h à n g th ủ c ô n g m ỹ n g h ệ c ủ a V iệ t N a m 2 7 1.2.1.1 Nghề gốm, sứ mỹ nghệ 27
1.2.1.2 Nghề đan mây, tre, cói, l á 28
1.2.1.3 Nghề dệt thổ cẩm, thêu ren .30
1.2.1.4 Nghê làm đồ ÍỊỖ mỹ nghệ 30
1.2.1.5 Nghề sơn mài .31
1 2 2 T h u ậ n lợ i và k h ó k h ă n .3 3 1.2.2.1 Thuận lợ i 33
1.2.2.2 Khó khăn z z z z z z z z z z z z z z z z z z z 3 6 1.3 Kết luận chương 1 38
c h u ơ n e 2 : THỤC TRẠNG KHẢ NĂNG CẠNH TRANH CÚA NHÓM HÀNG THỦ CÔNG MỸ NGHỆ VIỆT NAM TRÊN THỊ TRUỜNG EU 40
2.1 Hàng thủ công mỹ nghệ Việt Nam trên thị trường thê giói 40
2 1 1 K im n g ạ c h x u ấ t k h ẩ u .4 0
Trang 52.1.2 Một sô mặt hàng thủ công mỹ nghệ xuất khẩu chủ lực của
Việt Nam 40
2.1.2.1 Đồ gỗ dân dụng 41
2.1.2.2 Hàng gốm, sứ mỹ nghệ 42
2.1.2.3 Hàng đan bằng mây, tre, cói, lá 42
2.1.2.4 Hàng thêu ren, thổ c ẩ m 43
2.1.2.5 Hàng đồ gỗ mỹ nghệ 44
2.1.2.6 Nhóm hàng thảm các loại 44
2.1.2.7 Các mặt hàng khác 44
2.1.3 Thị trường xuất khẩu 43
2.1.3.1 Thị trường Nhật Bản 46
2.1.3.2 Thị trường Nga, các nước SNG và Đông Âu .47
2.1.3.3 Thị trường Bắc Mỹ 4 J 2.1.3.4 Thị trường Đài Loan, Hổng Kỗng, Hàn Quốc .48
2.1.3.5 Thị trường Trung Đông 48
2.1.3.6 Dự báo thị trường tiêu th ụ 49
2.2. Hàng thủ công mỹ nghệ Việt Nam trên thị trường EƯ 49
2.2.1 Hiệp định khung giữa Việt Nam và E Ư 49
2.2.2 Xuát khâu của Việt Nam sang EU trong những năm gần đây 50
2.2.3 Xuất khâu hàng thủ công mỹ nghệ của Việt Nam sang thị trường EU 5/
2.2.3.1 Kim ngạch xuất khẩu sang các nước thuộc EU .51
2.2.3.2 Các mặt hàng thủ công mỹ nghệ Việt Nam trên thị trường EU • 33
2.3 Khả năng cạnh tranh của hàng thủ công mỹ nghệ Việt Nam trên thị trường E U 5 5 2.3.1 Trung Quốc 5 5 2.3.1.1 Sơ lược về địa lý, lịch sử Trung Quốc. 55
2.3.1.2 Sự ra đời và phát triển của xí nghiệp hương trấn ở Trung Quốc .36
2.3.1.3 Các chính sách phát triển xí nghiệp hương trấn .57
2.3.2 Các nước A S E A N 60
2.3.2.1 Sơ lược về địa lý, lịch sử các nước ASEAN 60
2.3.2.2 Một sô chính sách của chính phủ các nước ASEAN dôi với việc phát triển mặt hàng thủ công mỹ nghệ truyền thống .60
2.3.24 Một sô nước ASEAN có ưu thê trong việc sản xuất và xuất khẩu hàng thủ công mỹ nghệ .62
2.3.3 So sách các yếu tô'ảnh hưởng đến các chỉ tiêu cạnh tranh .64
2.4 Tồn tại và nguyên n h ân 67
2.4.1 Tổ chức hoạt động tiêu thụ .67
2.4.2 Chủng loại mặt h à n g 68
2.4.3 Mẫu m ã 68
2.4.4 Chất lư ợ n g 69
Trang 62.4.5 Giá c ả 7Q
2.4.6 Dịch vụ hỗ tr ợ 71
2.4.7 Sô lượng - thời gian giao h à n g 71
2.4.8 Vệ sinh môi trường và điểu kiện lao động 72
2.5 Kết luận chương 2 7 2 Chương 3:NHỮNG GIẢI PHÁP CHỦ YẾU NHẰM NÂNG CAO KHẢ NĂNG CẠNH TRANH CỦA NHÓM HÀNG THỦ CÔNG MỸ NGHỆ VIỆT NAM TRÊN THỊ TRƯỜNG EU Z Z 74 3.1 Nhũng Lý do phải nâng cao tính cạnh tranh trên thị trường E U 74
3.1.1 Vai trò của ngành nghê thủ công mỹ nghệ đối với sự nghiệp công nghiệp hoá nông th ô n 74
3.1.2 1 riên vọng đôi vói hàng thủ công mỹ nghệ Việt N a m 76
3.1.3 Nhu cầu và đòi hỏi của thị trường EU đối vói hàng thủ công mỹ n g h ệ
3.1.4 1 'riên vọng xuất khâu hàng thủ công mỹ nghệ Việt Nam sang thị trường EU đến năm 2005 78
3.2 Nhũng giái pháp chủ yêu nhằm tăng cường khả năng cạnh tranh của nhóm hàng thủ công mỹ nghệ Việt Nam trên thị trường EU .79
3.2.1 Giải pháp từ phía Nhà n ư ớ c 79
3.2.1.1 Phát triển thị trường 80
3.2.1.2 Phát triển các doanh nghiệp vừa và n h ỏ 83
3.2.1.3 Các chính sách thuế, lệ p h í 84
3.2.1.4 Chính sách tín dụng, hỗ trợ vốn .85
3.2.1.5 Các chính sách đối với các làng nghề .86
3.2.1.6 Các chính sách với nghệ nhân .90
3.2.1.7 Đào tạo lao động và thợ thủ công truyền thống .93
3.2.1.8 Về nguyên liệu phục vụ sản x u ấ t 95
3.2.1.9 Phát triển đơn vị chủ lự c 97
3.2.1.10 Các chính sách vê khoa học, công nghệ và môi trường 98
3.2.1.11 Về tổ chức, quản lý chỉ đ ạ o 100
2.2.2 Giải pháp từ phía các doanh ngh iệp 102
2.2.3 Giầi pháp từ phía các làng nghề, nghệ nhân, thọ thủ c ô n g 105
3.3 Kết luận chương 3 105 PHẦN KẾT LUẬN .z. Z Z ZZZ.ZZZZZZZ”! 1 0 7
Trang 7NHỮNG CHỮ VIẾT TẮT TIÊNG VIỆT sử DỤNG TRONG LUẬN VÃN
NHŨNG CHỮ VIẾT TẮT TIÊNG ANH s ử DỤNG TRONG LUẬN VĂN
Hiệp hội các nước Đông Nam Á
Khu vực mậu dịch tự do của hiệp hội các nước Đông Nam Á
Tối huệ quốc
Liên Minh Châu Âu
Tổ chức Thương mại Thế giới
Trang 8DANH MỤC CÁC BẢNG s ố LIỆU
Bang / /■ Sô lượng các xã và làng nghề theo vùng, loai nghề sản xuất
và số hộ tham g ia 3 4
Bảng 2.1: Dự báo thị trường tiêu thụ hàng thủ công mỹ nghệ của Việt
Năm trong nhũng năm tới 4 9
Báng 2.2: Kim ngạch xuất khẩu hàng thủ công mỹ nghệ sang các
nước EƯ (1996 -2001) 5 2
Bang 2.3: Kim ngạch xuất khâu các mặt hàng thủ công mỹ nghệ sang
thị trường EU (1996 - 2001) .53
Bảng 2.4: So sánh một sô yếu tô ảnh hưởng đến khả năng cạnh
tranh của hàng thủ công mỹ nghệ 66
Bàng 3.1: Triển vọng xuất khẩu hàng thủ công mỹ nghệ sang thị
Sơ đồ 2 2 : Tỷ trọng kim ngạch xuất khẩu các nhóm mặt hàng thủ công
mỹ nghệ của Việt Nam năm 2001 .41
Sơ đồ 2.3: Tỷ trọng kim ngạch xuất khấu hàng thủ công mỹ nghệ của
Việt Nam sang các thị trường năm 2001 46
Sơ đồ 2.4: Tỷ trọng kim ngạch xuất khẩu hàng thủ công mỹ nghệ của
Việt Nam sang các nước thuộc Liên minh Châu Âu năm 2001 .52
Sơ đồ 2.5: Tỷ trọng kim ngạch các mặt hàng thủ công mỹ nghệ của
Việt Nam xuất khẩu sang thị trường EU năm 2001 .53
Sơ đồ 2.6: Thị phần hàng thủ công mỹ nghệ Việt Nam trên thị trường
EU năm 2001 65
Trang 9PHẦN MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Tù rât xa xua, khi còn sống dưới chê độ công xã nguyên thuỷ cũng như dưới thời kỳ dựng nước của các vua Hùng, vua Thục, với bàn tay cần cù và khéo léo của mình, các dân tộc Việt Nam đã biết sử dụng những nguyên liệu sẵn có trong tự nhiên như đất, đá, đồng, thân cây, lá cây để tạo ra công cụ lao động vũ khí đồ trang sức và đô dùng sinh hoạt cho mình Trải qua quá trình phát triển của đất nước cung VƠI sự phat hiện ra các vật liệu mới, với óc tìm tòi, sáng tao, các nghề thủ công ngày càng phát triển và tổn tại gắn liền với đời sống của đa số người dân Việt Nam
Cho đến nay, cả nước có khoảng 1.450 làng nghề, trong đó có khoảng 300 làng nghề truyền thống, với khoảng 4 triệu lao động sản xuất và phục vụ, hoạt động trong 30 nhóm ngành nghề, trong đó có 6 nhóm nghề chính, đó là: nghề sản xuất đổ
go dân dụng; nghê gốm, sứ; nghề mây, tre, lá đan; nghề làm đồ gỗ mỹ nghệ; nghề thêu ren, dệt thố cẩm; nghề làm thảm Sản phẩm của một số nghề đã trở thành hàng hoá và được sản xuất ra không chỉ để sử dụng hay tiêu dùng trong nước mà còn có giá trị xuất khẩu cao, trở thành những mặt hàng được thị trường thế giới ưa chuộng Ngoài các nghề kể trên còn có các nghề khác như nghề dệt lụa; nghề sơn then, sơn mài, sơn thếp; nghề làm mành trúc; nghề chạm bạc, khắc đá, chạm, đúc đồng
Từ khi mở cửa nền kinh tế, Việt Nam luôn mở rộng và tăng cường quan hệ kinh tế, thương mại với nhiều nước và nhiều khu vực trên thế giới Xuất khẩu hàng hoá của Việt Nam qua các năm liên tục tăng, trong đó, kim ngạch xuất khẩu hàng thủ công mỹ nghệ chiếm một tỷ trọng đáng kể Trong số các thị trường tiêu dùng nhiều hàng thủ công mỹ nghệ của Việt Nam, Liên minh Châu Âu (EU) là một trong những khu vực thị trường trọng điểm và có tiềm năng rất lớn cần phải tiếp tục được khai thác Tuy nhiên, hiện nay các mặt hàng thủ công mỹ nghệ của Việt Nam trên thị trường EU đang gặp phải sự cạnh tranh quyêt liệt từ hàng hoá của một sô nước khác có những điều kiện tương tự trong việc sản xuất những mặt hàng này như Trung Quốc và các nước ASEAN Nhìn chung, hàng hoá của các nước này có sức cạnh tranh cao hơn hàng Việt Nam cả về giá bán, chất lượng và mẫu mã đe doạ đến sự phát triển của hàng thủ công mỹ nghệ có xuất xứ từ Việt Nam, đe doạ đến đời sống của một phần lớn người dân Việt Nam, những người đã gắn bó nhiều đời với các nghề thủ công mỹ nghệ truyền thống của quê hương mình
Nhận thức được tầm quan trọng của việc phát triển các ngành nghề thủ công
mỹ nghệ truyền thống ở các địa phương trong việc phát triển và ổn định kinh tế xã hội của đất nước Trong những năm gần đây, Đảng, Nhà nước, các cấp, các ngành
đã tập trung hỗ trợ và có nhiều chính sách, biện pháp nhằm duy trì và mở rộng các
Trang 10hoạt động sản xuất và xuất khẩu hàng thủ công mỹ nghệ và cũng đã đạt đuợc những thành công đáng kể.
Trong phương hướng, nhiệm vụ kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội 5 năm
2001 - 2005 nhấn mạnh “Phát triển mạnh ngành, nghề và kết cấu hạ tầng ở nông thôn, tạo thêm việc làm mới để chuyển lao động nông nghiệp sang ngành, nghề phi nông nghiệp, nâng cao đời sống của dân cư nông thôn Phấn đấu đến năm 2005 thu nhập bình quân đầu người của nông dân gấp 1,7 lần so với hiện nay; không còn hộ đói, giảm đáng kể tỷ lệ hộ nghèo”; “Mở mang các làng nghề, phát triển các điểm công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp sản xuất hàng thủ công mỹ nghệ, đưa công nghiệp sơ chế và chế biến về nông thôn và vùng nguyên liệu; phát triển lĩnh vực dịch vụ cung ứng vật tư kỹ thuật, trao đổi nông sản hàng hoá ở nông thôn, tăng nhanh việc làm cho khu vực phi nông nghiệp”
Tuy nhiên, cho đến nay, nỗ lực của các cấp, các ngành chưa đem lại những kết quả thiết thực, hầu như chỉ dừng lại ở các cuộc thảo luận, chưa ban hành và thực hiện những chính sách hợp lý và kịp thời, những vấn đề được đem ra thảo luận chỉ xoay quanh những biện pháp chung chung nhằm đẩy mạnh xuất khẩu nhóm hàng thủ công mỹ nghệ của Việt Nam
Giữa khả năng cạnh tranh của hàng hoá và xuất khẩu hàng hoá có quan hệ tỷ
lệ thuận với nhau Do vậy, nâng cao khả năng cạnh tranh của hàng thủ công mỹ nghệ Việt Nam trên thị trường EU sẽ giúp cho kim ngạch xuất khẩu vào khu vực thị trường này tăng lên và chiếm tỷ trọng ngày càng lớn so với hàng hoá của các đối thủ cạnh tranh trên cùng thị trường
Để góp một phần vào công cuộc công nghiệp hoá nông thôn, luận văn này sẽ nghiên cứu thực trạng khả năng cạnh tranh của nhóm hàng thủ công mỹ nghệ Việt Nam trên thị trường EU và đưa ra những giải pháp chủ yếu để tăng sức cạnh tranh trên khu^thị trường này
2 Mục đích nghiên cứu
Mục đích nghiên cứu của luận văn là tìm ra các giải pháp để nâng cao tính cạnh tranh của các mặt hàng thủ công mỹ nghệ của Việt Nam trên thị trường EU, giúp cho việc xuất khẩu nhóm hàng này sang thị trường EU ngày càng thuận lợi
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của luận văn này là khả năng cạnh tranh của hàng thủ công mỹ nghệ Việt Nam trên thị trường EU về các khía cạnh như chất lượng, mẫu
mã, giá cả, số lượng, tổ chức hoạt động tiêu thụ trong mối quan hệ tương quan với các quốc gia có điều kiện sản xuất kinh doanh nhóm mặt hàng tương tự là Trung
Trang 11Phạm VI nghiên cưu cua luận văn là khá năng canh tranh của nhóm hàng thủ công mỹ nghệ Việt Nam trên thị trường EU Những mặt hàng thủ công mỹ nghệ có kim ngạch xuất khẩu cao trong những năm từ 1996 đến nay như hàng gốm sứ' đồ
gô dân dụng; đổ gỗ mỹ nghệ; hàng mây, tre, cói đan; hàng thêu ren, thổ cẩm; thảm các loại, được chọn để nghiên cứu
4 Phương pháp nghiên cứu
Trong luận vãn này, tác giả sử dụng các phương pháp nghiên cứu khoa học nhu phuơng pháp duy vật lịch sử và phương pháp duy vật biện chứng của chủ nghĩa Mác - Lênin, phương pháp tổng hợp, phân tích và các phương pháp khác để nghiên cứu
5 Những đóng góp của Luận văn
- Hệ thống hoá những vấn đề lý luận chung về cạnh tranh;
- Trình bày khái quát về lịch sử phát triển của nhóm hàng thủ công mỹ nghệ Việt Nam;
- Đánh giá thực trạng khả năng canh tranh của nhóm mặt hàng thủ công mỹ nghệ Việt Nam trên thị trường EU;
Đê xuất những giải pháp chủ yêu để nâng cao khả năng cạnh tranh của nhóm hàng thủ công mỹ nghệ Việt Nam trên thị trường EU, giúp cho các nghề thủ công mỹ nghệ của Việt Nam phát triển và thúc đẩy xuất khẩu nhóm hàng này sang thị trường EU
6 Kết cấu của luận văn
Tên đề tài: “Những biện pháp chủ yếu nhằm nâng cao khả năng cạnh tranh của nhóm hàng thủ công mỹ nghệ Việt Nam trên thị trường Liên minh Châu Âu (ELI)”
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, phụ lục, luận văn được trình bày trong 3 chương:
Chuông 1: Những vấn đề lý luận chung về canh tranh và hoat động sản xuất hàng thủ công mỹ nghệ của Việt Nam
Chương 2: Thực trạng khả năng cạnh tranh của nhóm hàng thủ công mỹ nghệ Việt Nam trên thị trường EU
Chương 3: Định hướng và những biện pháp chủ yếu nhằm nâng cao khả năng cạnh tranh của nhóm hàng thủ công mỹ nghệ Việt Nam trên thị trường EU
Trang 12CHƯƠNG 1:
NHŨNG VẤN ĐỂ LÝ LUẬN CHƯNG VỂ CẠNH TRANH VÀ HOẠT ĐỘNG SẢN XUÂT HÀNG THỦ CÔNG MỸ NGHỆ CỦA VIỆT NAM 1.1 NHŨNG VẤN ĐỂ LÝ LƯẬN CHƯNG VỂ CẠNH TRANH
1.1.1 Khái niệm cạnh tranh
Cạnh tranh là một trong những đặc trưng cơ bản của kinh tế thị trường, là nang lục phat tnên cua kinh tê thị trường Trong kinh tê thi trường, canh tranh là sư sống còn của mỗi doanh nghiệp Cạnh tranh có thể được hiểu là sự ganh đua nhau giữa các nhà doanh nghiệp trong việc dành một nhân tố sản xuất hoặc khách hàng nhằm nâng cao vị thế của mình trên thị trường, để đạt được một mục tiêu kinh doanh cụ the, VI dụ nhu lợi nhuận hoăc doanh sô (thi phần) Canh tranh trong môt môi trường như vậy đồng nghĩa với ganh đua: ganh đua về giá cả, số lượng, dịch vụ hoặc kêt hợp các yêu tô này và các nhân tô khác nữa để tác động đến khách hàng Trong nền kinh tế thị trường, cạnh tranh, các tín hiệu giá cả, lợi nhuận tạo ra sự kích thích để các doanh nghiệp chuyển nguồn lực từ nơi tạo giá trị thấp hơn sang nơi tạo giá trị cao hơn
Cạnh tranh là một phương thức vận động của thị trường Nói đến thị trường cũng có nghĩa là nói đến sự cạnh tranh giữa các chủ thể kinh tế Không có cạnh tranh thì không có nền kinh tế thị trường Thực chất của cạnh tranh là sự tranh giành
vê lợi ích kinh tê giữa các chủ thể tham gia thị trường Đối với người mua, họ muốn mua được hàng hoá có chất lượng cao, ở một mức giá rẻ Còn ngược lại, đối với doanh nghiệp, bao giờ cũng muốn tối đa hoá lợi nhuận của mình Vì mục tiêu lợi nhuận, họ phải giảm chi phí và tìm cách giành giật khách hàng và thị trường về phía mình
Cạnh tranh là một điều tất yêu của kinh tê thị trường Các doanh nghiệp bắt buộc phải chấp nhận cạnh tranh, ganh đua với nhau, phải luôn không ngừng tiến bộ
để giành được ưu thế tương đối so với đối thủ Nếu như lợi nhuận là động lực thúc đẩy các doanh nghiệp tiến hành các hoạt động sản xuất kinh doanh thì cạnh tranh bắt buộc họ phải tiến hành các hoạt động sản xuất kinh doanh một cách hiệu quả nhất nhằm thu được lợi nhuận tối đa và không bị loại ra khỏi thị trường
Hiện nay, Việt Nam đang xây dựng nền kinh tế thị trường có sự quản lý của Nhà nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa, cạnh tranh được thừa nhận là một quy
Trang 13luật kinh tê khách quan và được coi như là một nguyên tắc cơ bản trong tổ chức điều hành kinh doanh của toàn bộ nền kinh tế cũng như trong mỗi doanh nghiệp Nền kinh tê của chúng ta, có thể nói, là một nền kinh tế mang đậm tính xã hội Cạnh tranh là tiến trình hợp lý nhất để nâng cao chất lượng hoạt động kinh tế Hoạt động kinh tê hiệu quả, đên lượt mình, là một điều kiện tiên quyết cho một chính sách xã hội thoả đáng Do vậy, cạnh tranh là một nhân tố trung tâm không thể thiếu trong cac nên kinh tê hiện đại nói chung và nền kinh tê Việt Nam nói riêng Cạnh tranh với tư cách là một tiến trình xác định những gì đang diễn ra trên thị trường, đòi hỏi
sự khuyên khích và bảo vệ của chính phủ
Việc phân cấp quá trình ra quyết định cho doanh nghiệp sẽ thúc đẩy phân bổ hiẹu qua cac nguôn lực khan hiếm của xã hội, tăng phúc lợi cho người tiêu dùng và tăng hiệu quả các hoạt động thông qua đổi mới, thay đổi kỹ thuật và tiến bộ của toàn bộ nền kinh tế
1.1.2 Vai trò của cạnh tranh trong việc phát triển sản xuất hàng hoá
Cạnh tranh kinh tế khẳng định việc các doanh nghiệp muốn có quyền tự do hành động, chứ không phải đơn thuần tuân theo các kế hoạch do Nhà nước đặt ra mà
họ buộc phải hoàn thành Họ có quyền tự do trong việc quyết định cung ứng loại sản phẩm, dịch vụ gì, với số lượng và chất lượng như thế nào, giá cả cụ thể bao nhiêu Các công ty này phải có được cơ hội công bằng để tồn tại trên thị trường, để tạo ra lợi nhuận và họ cũng buộc phải chấp nhận nguy cơ thất bại, ví dụ như có thể bị loại khói thị trường Không có cơ hội và rủi ro này - hay nói một cách cụ thê hơn nếu không có quyền tự do thâm nhập và rút lui khỏi thị trường, là hai trong số các ưu thế
do cạnh tranh đem lại - cạnh tranh không thể được duy trì một cách lâu dài và hiệu quả Cạnh tranh có thể dẫn đến lợi ích cho người này và thiệt hại cho người khác song xet dưới góc độ toàn xã hội, canh tranh luôn có tác động tích cực Trong nền kinh tế của Việt Nam hiện nay, tất cả các chức năng của cạnh tranh đều bao hàm cả hai yêu tô kinh tê và ‘xã hội mặc dù trong hầu hết các chức năng dưới đây một trong hai yếu tố đó có thể được đánh giá là có vai trò nổi trội hơn
1.1.2.1 Điều chỉnh giữa cung và cầu
Cạnh tranh điều chỉnh cung, cẩu hàng hoá trên thị trường Khi cung một hàng hoá nào đó lớn hơn cầu, cạnh tranh giữa người bán làm cho giá cả thị trường giảm xuông, chí cơ sở kinh doanh nào đủ khả năng cải tiến công nghê, trang bi kỹ thuật phương thức quản lý và hạ được giá bán sản phẩm mới có thể tồn tại Với V nghĩa
Trang 14đó, cạnh tranh là nhân tố quan trọng kích thích việc ứng dụng khoa học, công nghệ tiên tiến trong sản xuất.
Khi cung một hàng hoá nào đó thấp hơn cầu, hàng hoá đó trở nên khan hiếm trên thị trường, giá cả tăng lên tạo ra lợi nhuận cao hơn mức bình quân Khi đó người kinh doanh sẽ đầu tư thêm vốn để xây dựng thêm cơ sở sản xuất mới hoặc nâng cao năng lực sản xuất của những cơ sở sản xuất sẵn có Đó là động lực quan trọng nhất làm tăng thêm lượng vốn đầu tư cho sản xuất kinh doanh, nâng cao năng lực sản xuất trong toàn xã hội Điều quan trọng là động lực đó hoàn toàn tự nhiên không theo và không cần bất kỳ một mệnh lệnh hành chính nào của cơ quan quản lý nhà nước
Cạnh tranh buộc các chủ thể kinh doanh luôn luôn quan tâm đến cải tiến công nghệ, hiện đại hoá sản xuất và đổi mới phương thức quản lý nhằm nâng cao chất lượng sản phẩm, hạ giá thành và hạ giá bán của hàng hoá
Trong cạnh tranh tất yếu sẽ có doanh nghiệp ngày càng lớn mạnh nhờ làm ăn hiệu quả, đồng thời có doanh nghiệp bị phá sản Đối với xã hội, phá sản doanh nghiệp không hoàn toàn mang ý nghĩa tiêu cực vì các nguồn lực xã hội được chuyển sang cho nhà kinh doanh khác tiếp tục sử dụng một cách hiệu quả hơn Vì vậy phá sản không phải là sự huỷ diệt hoàn toàn mà là sự huỷ diệt sáng tạo Việc duy trì các doanh nghiệp kém hiệu quả còn gây ra nhiều lãng phí cho xã hội hơn là phá sản
Trang 15đa bi chinh phu bo qua Như vậy, cạnh tranh đã hướng việc điều chỉnh nhưng nhân tô' sản xuất vào những noi hiệu quả nhất.
1.1.2.3 Kích thích tiến bộ công nghệ
Những phần thưởng mà một doanh nghiệp tham gia cạnh tranh có thể hi vọng
co được từ sáng chê, cải tiến mà có thể bán được, là động lực thúc đẩy mạnh mẽ sang che va cai tiên công nghệ Việc là người đầu tiên và duy nhất trên thị trường có đuợc một sản phẩm được người tiêu dùng quan tâm sẽ giúp tạo ra một sự độc quyền với cơ hội tạo ra lợi nhuận độc quyền trong suốt thời gian đó Các doanh nghiệp tham gia cạnh tranh muốn có được thị phần vừa phải bắt chước vai trò nhà sáng chế đổi mới công nghệ vừa phải cố gắng xin được giấy phép sử dựng, nếu đổi mới đó được tien hanh trên cơ sơ quyên sở hữu tài sản, đăc biệt trong trường hợp đã được đăng ký bản quyền sáng chế Tuy nhiên, sau một khoảng thời gian nhất định, có thể
la ngan cung co thô tuơng đôi dài, sự độc quyền ban đầu có thể bi bãi bỏ và tiến tnnh cạnh tianh sẽ có thê tiêp tục trở lại Khi hàng loạt các tiến trình như vậy đồng thời diễn ra, cạnh tranh tạo ra một động lực mạnh mẽ và liên tục buộc các doanh nghiệp phải tìm kiếm các sáng chế, cải tiến và bắt chước hoặc nói cách khác đóng góp vào sự phát triển của công nghệ
Tom lại, cạnh tranh là động lực thúc đấy đổi mới Cạnh tranh tạo môi trường thuận lợi dê san xuât thích ứng với sư biến động của cầu và công nghê sản xuất Cạnh tranh trên thị trường quốc tế giúp cho các doanh nghiệp trong nước tiếp cận được với trình độ khoa học, kỹ thuật tiên tiến trên thế giới, góp phần tăng năng suất lao động và hiệu quả của hoạt dộng sản xuất kinh doanh
1.1.2.4 Phân phối thu nhập
Một chức năng khác của cạnh tranh là nhằm cung cấp một cấu trúc sơ bộ cho việc phân phổi thu nhập Do cạnh tranh luôn đem lại những phần thưởng xứng đáng cho người thành công nên thoạt nhìn những ai sản xuất có hiệu quả hơn sẽ thu được nhiêu lợi nhuận hơn và do vậy có thu nhâp cao hơn Tất nhiên chức năng này không thể chấp nhận được nếu không có những điều chỉnh quan trọng Do đó thực tế của kinh tế thị trường Việt Nam hiện nay hoàn toàn khác sự phân bố lập tức thu nhập dưới tác động của cạnh tranh; trên thực tế nó đã được điều chỉnh cơ bản, đặc biệt tien binh diện an toàn và an ninh xã hôi Môt lần nữa cần nhấn manh rằng những khía cạnh xã hội này cũng có vị trí quan trong như các nhân tố kinh tế “thị trường” trong hệ thống kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa
Trang 161 1 2 5 T h o ả m ã n n h u c ầ u c ủ a n g ư ờ i t i ê u d ù n g
Tiong nền kinh tê thị trường, người tiêu dùng là người cuối cùng quyết định chủng loại, số lượng, chất lượng của các sản phẩm và dịch vụ được sản xuất Chỉ các sản phẩm và dịch vụ được người tiêu dùng yêu cầu mới được bán và sản xuất một cách lâu dài Danh mục hàng hoá và dịch vụ đa dạng như hiện nay trên thị trường thục tê chí có thể được giải thích trong các điều kiện của sự cạnh tranh một cách hiệu quả Trong nền kinh tế kế hoạch hoá tập trung của ta trước đây, chính quyền là người có quyên quyêt định tối cao và người tiêu dùng phải tự xoay xở những gì mà
họ có thể kiếm được Tinh huống tương tự cũng có thể xảy ra đối với nền kinh tế thị trường ở những nơi nào cạnh tranh không vận hành một cách có hiệu quả ví dụ khi tổn tại tình trạng độc quyền hoặc một cartel khu vực loại trừ bất kỳ sự cạnh tranh nào bằng chất lượng và giá cả Trong bối cảnh đó, vai trò của các doanh nghiệp vừa
và nhỏ rất quan trọng Số lượng, sức sáng tạo, khả năng thích nghi và sự năng động của các doanh nghiệp này đóng góp quan trọng vào sự hiệu quả của cạnh tranh trong nhieu linh vực va nhơ vậy cũng đóng góp vào độ thoả dung của người tiêu dùng
1 1 2 6 T ạ o r a s ự th íc h n g h i lin h h o ạ t
Cạnh tranh không chỉ là công cụ phổ biến nhất mà còn nhanh nhất giúp phân
bo cac nguôn lực một cách tối ưu và duy trì một sư lưu thông liên tục của các nguồn lực tới nơi sản xuất có năng suất cao hơn Khi nói đến “sự lưu thông liên tục” tức là
ám chỉ các nguồn lực luôn vận động Chúng ở yên một chỗ cho đến khi sự khác biệt
về khả năng sinh lợi phát triển tới mức chi phí chuyển giao bao gồm cả các giải pháp xã hội và các khía cạnh khác rõ ràng thấp hơn lợi nhuận thu được Nếu như sự năng động này không tồn tại, hoặc nếu sự thích nghi trở nên trì trệ trong nhiều trường hợp khác những lý do giống nhau dẫn tới việc phân bố không hợp lý các nguôn lực, đó là: sự can dự không hợp lý của Nhà nước, hoặc các cấu trúc thị trường không mang tính cạnh tranh
1 1 2 7 Đ e m lạ i q u y ê n t ự d o c á n h â n tr o n g lự a c h ọ n và h à n h đ ộ n g
Cạnh tranh đem lạt sự tự do tối da trong lưa chọn và hành động cho các doanh nghiệp trong kinh doanh Sự tự do này không chỉ là tiền đề nền tảng của cạnh tranh mà tự bản thân nó còn có một giá trị, dưới một hình thức toàn diện hơn của quyen tụ do hanh dộng thông thường, đã được hiên pháp công nhận là một đặc tính cua quyên công dân Từ chức năng cụ thể này, sự khác biệt của kinh tê thị trường
Trang 17Trong khi trong hệ thống kinh tế thị trường hiện nay của ta, tự do hành động là một nhan tô câu thành thực hiện một loạt chức năng quan trọng, thì trong hệ thống kế hoạch hoá tập trung bao cấp trước kia, nơi mà kế hoạch hoá điều tiết không chỉ sự phân bổ vốn mà cả lao động, nó đã bị hạn chế ở một mức độ thích hợp.
1.1.3 K há năng cạnh tra n h của doanh nghiệp
Hàng hóa của một quốc gia nào đó trên thị trường thế giới là do các doanh nghiệp của quốc gia đó sản xuất và bán ra thị trường thế giới, do vậy việc nghiên cứu khả năng cạnh tranh của hàng thủ công mỹ nghệ Việt Nam trên thị trường EU
se được xem xét thông qua khả năng cạnh tranh của các doanh nghiệp Việt Nam hoạt động tiong lĩnh vực sản xuất và xuất khẩu nhóm hàng thủ công mỹ nghệ (sau đây gọi tắt là doanh nghiệp)
1.1.3.1 Khai mẹm vê kha năng canh tranh của doanh nghiêp
Một doanh nghiệp muốn có vị trí vững chắc trên thị trường thì cần phải có tiềm lực đủ mạnh để cạnh tranh với các doanh nghiệp khác Khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp là năng lực mà doanh nghiệp có thể tự duy trì vị trí của nó một each lâu dài trên thị trường cạnh tranh, đảm bảo thực hiện một mức lợi nhuận ít nhất bằng tỷ lệ đòi hỏi cho việc thực hiện các mục tiêu của doanh nghiệp
Khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp thể hiện ở nhiều mặt Các doanh nghiệp phải luôn luôn đưa ra các phương án, giải pháp tối ưu để giảm chi phí sản xuất từ đó giảm giá thành, giá bán, áp dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật vào sản xuất nâng cao hiệu quả quản lý để nâng cao chất lượng sản phẩm, tổ chức tốt mạng lưới bán hàng và biết chọn đúng thời điểm bán hàng, nhằm thu hút được khách hàng mở rộng thị trường
1.1.3.2 Cac chi tiêu đánh giá khả năng canh tranh của doanh nghiêp
- Thị phần
Chi tiêu tỏng hợp nhất để đánh giá khả năng cạnh tranh của một doanh nghiẹp la thi phân mà doanh nghiệp đã chiêm được Thị phần càng lớn có nghĩa là khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp càng mạnh Để tồn tại và có sức cạnh tranh doanh nghiệp phải chiếm giữ được một phần thị trường bất kể nhiều hay ít chính điều này đã phản ánh được quy mô tiêu thụ của doanh nghiệp Qua đó ta cũng có the đanh gia được khá năng cạnh tranh của mỗi một doanh nghiệp, các điểm mạnh
Trang 18điểm yếu tương đối của doanh nghiệp so với các đối thủ cạnh tranh trong cùng một lĩnh vực.
- Lợi nhuận
Ngoài ra chỉ tiêu lợi nhuận cũng được sử dụng để đánh giá khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp, trong một số ngành, chỉ tiêu này có thể quan trọng hơn chỉ tiêu thi phần Đối với hàng thủ công mỹ nghệ, các sản phẩm chủ yếu được làm bằng đôi tay của người thợ thủ công, lao động nông nhàn, chỉ cần đào tạo trong một thời gian ngắn do vậy lao động kết tinh trong giá trị hàng hoá chủ yếu là lao động giản đơn, chứ không phải lao động mang tính phức tạp, vì thế lợi nhuận thu được trong cac hoạt động kinh doanh mặt hàng này thấp hơn so với lợi nhuận trong một sô ngành khác và thường chỉ đạt từ 10%-20% Chỉ có một số ít các mặt hàng mang tính chất là các tác phẩm nghệ thuật mới có lợi nhuận cao
Tuy nhiên, hàng thủ công mỹ nghệ được sản xuất chủ yếu bằng nguồn nguyên liệu sẵn có ở trong nước Nguyên phụ liệu nhập khẩu không đáng kể, thường chi chiêm 3-5% giá trị hàng hoá được sản xuất ra, cho nên ngoại tệ thực thu trong xuất khẩu chiếm tỷ lệ rất cao (95-97%), khác với các nhóm mặt hàng như may mặc, giày dép tuy kim ngạch xuất khẩu lớn nhưng ngoại tệ thực thu chỉ khoảng 25% vì nguyên vạt liẹu, phụ liệu nhập khâu cho sán xuất chiếm tý trong lớn trong giá tri sản phẩm làm ra Hơn nữa, theo kinh nghiệm tổng kết được, cứ xuất khẩu 1 triệu đô-la hàng thủ công mỹ nghệ thì tạo việc làm cho 3.500 - 4.000 lao động, nếu là lao dộng nông nhàn thì số lượng nhiều hơn khoảng 2 - 3 lần, trong khi chế biến hạt điều thì 1 triệu đô la Mỹ kim ngạch xuất khẩu chỉ thu hút được khoảng 400 lao động Với kim ngạch xuất khẩu hàng thủ công mỹ nghệ như vừa qua, khoảng 500 - 600 ngàn lao dọng co viẹc lam va thu nhập khá, nêu tính cả viêc sử dung lao đông nông nhàn thì con sô này lên tới gần 4 triệu người Do vậy hiệu ích xã hội trong việc phát triển các nghành nghề thủ công mỹ nghệ rất lớn
Với ý nghĩa đó, việc đánh giá khả năng cạnh tranh của nhóm hàng thủ công
my nghẹ chu yeu dựa vao chi tiêu doanh số Trong luân văn này, viêc nghiên cứu và đánh giá khả năng của hàng thủ công mỹ nghệ Việt Nam sẽ tập trung vào chỉ tiêu thị phần của hàng thủ công mỹ nghệ Việt Nam trên thị trường EU qua việc phân tích cac yêu tô anh hướng đến khả năng cạnh tranh của mặt hàng này cụ thê là ảnh hưởng đên chỉ tiêu thị phần của hàng thủ công mỹ nghệ trên thị trường EU
Trang 19Có nhiều yếu tố ảnh hưởng đến chỉ tiêu thị phần của doanh nghiệp, mức độ anh huớng của môi yêu tố đên chỉ tiêu này của doanh nghiệp cũng khác nhau và găn liên VỚI một trọng số nhất định Các mặt hàng khác nhau thì các wếu tô ảnh huơng đen chi tiêu cạnh tranh này cũng khác nhau Đối với nhóm mặt hàng thủ cong my nghệ, hiện nay chưa có một nghiên cứu đầy đủ và chính xác nào về các yếu
tố ảnh hưởng đến khả năng cạnh tranh trên thị trường quốc tế Trong luận văn này tác giả đưa ra 8 yếu tố ảnh hưởng trực tiếp đến khả năng cạnh tranh của hàng thủ cong my nghệ, mức độ ánh hướng của các yêu tô này giảm dần theo trình tự sau đây: (1) tổ chức hoạt động tiêu thụ; (2) chủng loại sản phẩm; (3) mẫu mã; (4) chấtlượng; (5) giá cả; (6) dịch vụ hỗ trợ; (7) số lượng - thời gian giao hàng; (8) vệ sinh môi trường - điều kiện lao động
- Tổ chức hoạt động tiêu thụ
Tiêu thụ sản phẩm là khâu cuối cùng của quá trình sản xuất kinh doanh Đây cũng là giai đoạn bù đắp chi phí và thu lợi nhuận Có thể nói đây là khâu quan trọng nhất vì dù cho các yếu tố khác có tốt đến đâu nhưng khâu tiêu thụ không tốt thì hàng hoá cũng không đến được tay người tiêu dùng
Việc đầu tiên của quá trình tổ chức tiêu thụ sản phẩm là phải lựa chọn các kenh phân phôi sản phâm một cách hợp lý và có hiệu quả nhằm mục đích đáp ứng mọt each tot nhat cac yêu câu cua khách hàng, nhanh chóng giải phóng nguồn hàng
đê bù đăp chi phí, thu hồi vốn Bên cạnh việc tổ chức mạng lưới bán hàng doanh nghiẹp cung can ho trợ cac hoạt động bán hàng như quảng cáo, khuyên mai các dịch vụ sau bán hàng Đây là một hình thức cạnh tranh phi giá cả, gây sự chú ý và thu hút khách hàng
Các hoạt động như quảng cáo, tham gia hội chợ, tổ chức hội nghị khách hàng là những hình thức tốt nhất để giới thiệu về các sản phẩm và doanh nghiệp của mình, từ đó giúp cho doanh nghiệp tìm ra được nhiều bạn hàng mới, mở rộng thị trường, nâng cao khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp
Trong điều kiện thị trường thuộc về người mua như hiện nay, cạnh tranh giữa nhung ngươi ban cục ky khôc hệt Người sán xuất băng moi cách phải làm hài lòng khách hàng của mình, một trong những biện pháp đó là đưa ra các dịch vụ sau bán hàng Những dịch vụ sau bán hàng thường được áp dụng là: bảo hành sản phẩm giao hàng tận tay người mua, tư vấn sử dụng
- Chủng loại sản phẩm
Trang 20Điều quan trọng nhất đối với một doanh nghiệp là phải trả lời được những câu hỏi cơ bản: sản xuất cái gì? sản xuất cho ai? Sản xuất như thế nào? Như vậy có nghĩa là doanh nghiệp đã xây dựng cho mình một chính sách sản phẩm Không một doanh nghiệp nào hoạt động trên thị trường mà lại không có sản phẩm kinh doanh cho dù là hữu hình hay vô hình Vấn đề đặt ra cho các doanh nghiệp là phải làm cho sản phẩm của mình thích ứng được với thị trường một cách nhanh chóng thì mới có the tieu thụ het tiên thi trường, tăng khả năng canh tranh của doanh nghiệp.
Đe co the cạnh tianh với các đối thủ trên thi trường, doanh nghiêp phải thưc hiện đa dạng sản phẩm Đa dạng hoá sản phẩm không chỉ là để đảm bảo đáp ứng được nhu câu thị trường, thu nhiều lợi nhuận mà còn là một biện pháp phân tán rủi
10 tiong kinh doanh khi mà cuộc cạnh tranh ngày càng trở nên gay gắt quyết liệt
Đi doi VƠI viẹc thục hiện đa dạng hoá sản phâm, đê đảm bảo đứng vũng trong điều kiện cạnh tranh gay gắt, doanh nghiệp có thể thực hiện trọng tâm hoá sản phẩm vào một sô loại sản phám nhằm cung cấp cho một nhóm người hoặc một vùng thị trường nhất định của mình
Ngoài ra, doanh nghiệp cũng cần phải thực hiện chiến lược cá biệt hoá sản phẩm, tạo ra các nét độc đáo riêng cho mình để thu hút, tạo sự hấp dẫn cho khách hang vao cac san phâm cua mình, nâng cao uy tín của doanh nghiêp
Trang 21Chất lượng sản phẩm là hệ thống nội tại của sản phẩm được xác định bằng các thòng số có thể đo được hoặc so sánh được, thoả mãn những điều kiện kỹ thuật
và những yêu cầu nhất định của người tiêu dùng và xã hội Chất lượng sản phẩm được hình thành từ khâu thiết kê tới tổ chức sản xuất và ngay cả sau khi tiêu thụ hàng hoá và chịu tác động của nhiều yếu tố như công nghệ dây chuyền sản xuất nguyên vật liệu, trình độ tay nghề lao động
Chất lượng sản phẩm là một vấn đề sống còn đối với một doanh nghiệp đặc biệt là đối với các doanh nghiệp Nhà nước ở Việt Nam khi mà họ đang phải đương đầu với các đối thủ cạnh tranh từ nước ngoài vào Việt Nam Một khi chất lượng sản pham không còn được đảm bảo thì cũng có nghĩa là doanh nghiệp bị mất khách hàng, mất thị trường, nhanh chóng đi tới chỗ suy yếu và bị phá sản
Hiẹn nay, khi nên kinh tê ngày càng phát triển, một quan niêm mới về chất lượng da xuât hiện: chất lượng sản phẩm không chỉ là tốt, bền đẹp mà nó còn do khách hàng quyết định Chất lượng là thoả mãn nhu cầu của khách hàng Đây là một quan niệm mới xuất phát từ thực tế là mức độ cạnh tranh trên thị trường ngày càng trở nên quyết liệt hơn
Chất lượng sản phẩm có ảnh hưởng quyết định đến khả năng của danh nghiệp
“khách hàng là thượng đế” , họ có quyền lựa chọn những gì mà họ cho là tốt nhất, và cùng một loại sản phẩm với chất lượng tương đương nhau, chắc chắn họ sẽ lựa chọn muc giá bán thấp hơn, khi đó sản lượng tiêu thụ của doanh nghiệp sẽ tăng lên
Trang 22Giá cá được thê hiện như một vũ khí để cạnh tranh thông qua việc định giá của sản phẩm: định giá thấp, định giá ngang thị trường hay là chính sách định giá cao Đê chiêm lĩnh được ưu thê trong cạnh tranh, doanh nghiệp cần phải chọn các chinh sach gia thích hợp cho từng loại sản phẩm, từng giai đoạn trong chu kỳ sản phẩm hay tuỳ vào đạc điếm của từng vùng thị trường.
- Dịch vụ hỗ trợ
Các dịch vụ liên quan tới việc bán hàng cũng ảnh hưởng trực tiếp đến khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp Đặc biệt là trong buôn bán quốc tế khi mà khoang each đìa lý giũa người mua và người bán xa nhau, hàng hoá chuyển từ tay người sản xuất đến tay người tiêu dùng phải qua rất nhiều khâu trung gian và chịu nhieu rui ÌO Cac dich vụ phai kê đên là vận tải, bảo hiểm, thanh toán quốc tế và các dịch vụ về kế toán, tài chính
- Sỗ lượng - thời gian giao hàng
Vơi một sô thi trường, do nhu cầu tiêu thụ lớn, việc người sản xuất có thể cung cấp hàng hoá với số lượng lớn trong một thời gian ngắn cũng là điều quan trọng Bằng cách ấy khách hàng không bị lỡ kế hoach tiêu thụ, đặc biệt là các sản phẩm tiêu thụ theo mùa, vụ
- Vệ sinh môi trường, điều kiện lao động
Ngày nay, tiến trình hội nhập khu vực và toàn cầu ngày càng phát triển để bảo vệ cho sản xuất trong nước, các quốc gia thay vì áp dụng các chính sách bảo hộ thue quan hay phi thuê quan, đã đưa ra các điều kiên khác về vê sinh mỏi trường và điêu kiện lao động trong doanh nghiệp Ví dụ đối với hàng may mặc sang thị trường
EU phái thoả mãn các quy định của tiêu chuẩn SA8000; hiện nay, hàng hoá muốn nhập khẩu vào thị trường Nhật Bản cũng phải thoả mãn những yêu cầu nhất định
1.1.3.4 Các yêu tô tác động gián tiếp đến khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp
Ngoài các yếu tố ảnh hưởng trực tiếp đến khả năng cạnh tranh của doanh nghi ẹp nhu đa tiình bày ớ trên, còn có các yêu tô khác tác động gián tiếp đến khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp, các yếu tố này đôi khi sẽ tác động đến các yếu tố trực tiếp ở trên trước khi ảnh hưởng đến khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp
- Môi trường kinh tế
Trang 23Đây là nhân tố quan trọng nhất tác động đến hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp Tính ổn định hay bất ổn định về kinh tế có tác động trực tiếp đến hoạt động kinh doanh và hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp Tính ổn định về kinh tế truớc hết và chủ yếu là ổn định nền tài chính quốc gia, ổn định tiền tệ, khống chế lạm phát Nền kinh tế được ổn định sẽ là điều kiện tốt để tăng trưởng Khi một nền kinh tế tăng trưởng với tốc độ cao, sẽ kéo theo sự tăng thu nhập và do đó khả năng thanh toán của người dân cũng tăng lên Mặt khác, nền kinh tế phát triển mạnh có nghĩa là khả năng tích tụ và tập trung tư bản lớn, và như vậy tốc độ đầu tư phát triển sản xuất kinh doanh sẽ tăng lên Đây chính là cơ hội tốt cho các doanh nghiệp phát triển Doanh nghiệp nào có khả năng nắm bắt được những cơ hội này thì chắc chắn
sẽ thành công và khả năng cạnh tranh cũng tăng lên
Tuy nhiên, do sự tăng trưởng của nền kinh tế sẽ kéo theo sự tàng lên một cách nhanh chóng số lượng các doanh nghiệp tham gia thị trường và như vậy mức
đọ cạnh tranh sẽ lại trơ nên gay găt Ai đi trước trong cuộc cạnh tranh này người đó
sẽ thắng Và ngược lại, khi nền kinh tế đang trong giai đoạn suy thoái, tỷ lệ lạm phát tang lam cho gia ca se tăng, sức mua của người dân bị giảm sút, các doanh nghiệp phai tim mọi each đê giư khách hàng, do đó sư canh tranh trên thi trường cũng sẽ khốc liệt hơn
Chinh sach cua Nhà nước ảnh hưởng rất lớn đến hoạt động của các ngành nghe Vi dụ như các chí tiêu, chính sách phát triển ngành nghề nông thôn chính sách ưu đãi thuế có tác động rất lớn đến hoạt động sản xuất và xuất khẩu hàng thủ công mỹ nghệ Lãi suất cho vay của ngân hàng cũng là một nhân tố quan trọng ảnh hưởng tới khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp, với mức lãi suất đi vay cao chi phi san xuât cua doanh nghiệp cũng sẽ tăng lên do phải trả lãi tiền vay lớn, do vậy khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp cũng sẽ bị giảm đi Cơ sở hạ tầng kinh tế như điện, nuớc, đuờng giao thông, thông tin liên lạc cũng ảnh hưởng đến hoạt động của các doanh nghiệp
- Môi trường chính trị và pháp luật
Chinh tụ va phap luật là nên tảng cho phát triển kinh tê cũng như là cơ sở pháp lý để các doanh nghiệp hoạt dộng sản xuất kinh doanh trên thị trường Luật pháp rõ ràng, chính trị ổn định là môi trường thuận lợi đảm bảo sự bình đẳng cho các doanh nghiệp tham gia cạnh tranh và cạnh tranh có hiệu quả ổ n định về chính trị đem lại sự lành mạnh hoá xã hội, ổn định kinh tế, tạo hành lang thông thoáng cho
sự cạnh tranh giữa các doanh nghiệp
Trang 24Hệ thống luật pháp quy định và cho phép nhưng lĩnh vực, những hoạt động
và hình thức kinh doanh nào mà doanh nghiệp có thể tiến hành và những lĩnh vực những hình thức, mặt hàng doanh nghiệp không được phép tiến hành Vì thế nếu những sự quy định này rõ ràng thì sẽ tạo một sân chơi thông thoáng, bình đẳng cho các doanh nghiệp, trên cơ sở đó cạnh tranh giữa các doanh nghiệp có cơ hội đê phát tnên, do đó thúc đây khả năng cạnh tranh của các doanh nghiệp Đặc biệt vấn đề chúng ta quan tâm là nâng cao sức cạnh tranh của hàng hoá, do đó, việc tạo ra một môi trường cạnh tranh lành mạnh ở thị trường trong nước sẽ giúp cho các doanh nghiệp phát triển và có được những nền tảng khi tham gia vào thị trường quốc tế Thêm vào đó một vấn đề khác không kém phần quan trọng hiện nay là cần phải có các quy đinh cụ thê trong việc bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp, nhất là đối với hàng thủ công mỹ nghệ trên lãnh thổ Việt Nam
- Môi trường khoa học công nghệ
Khoa học công nghệ tác động một cách mạnh mẽ đến khả năng cạnh tranh của một doanh nghiệp thông qua chất lượng sản phẩm và giá bán Bất kỳ một sản phẩm nào được sản xuất ra đều phải gắn liền với một công nghệ, kỹ thuật nhất định Công nghệ sản xuất sẽ quyết định chất lượng sản phẩm cũng như tác động tới chi phí cá biệt của từng doanh nghiệp, từ đó tạo ra khả năng cạnh tranh của từng doanh nghiệp cũng như của toàn bộ nền kinh tế
Khoa học công nghệ mới cũng sẽ giúp cho các doanh nghiệp xử lý thông tin mọt each chinh xác và có hiệu quá, nhất là trong thời đai bùng nổ thông tin như hiện nay, bất kỳ một doanh nghiệp nào cũng cần phải có đầy đủ và chính xác thông tin
vê thị trường, đối thủ cạnh tranh và biết cách xử lý có hiệu quả Khoa học, công nghệ hiện đại sẽ giúp cho các doanh nghiệp có thể thu thập, xử lý, lưu trữ và truyền đạt thông tin một cách nhanh nhất, đầy đủ và chính xác nhất Khoa học công nghệ mới sẽ tạo hệ thông cơ sở vật chất kỹ thuật hiện đại của nền kinh tế quốc dân nói chung cũng như của từng doanh nghiệp nói riêng, đây là tiền đề để các doanh nghiệp ổn định khả năng cạnh tranh của mình
- Môi trường tự nhiên, văn hoá, xã hội
Điêu kiện tự nhiên của từng vùng sẽ tạo ra điều kiện thuận lợi hoặc khó khăn cho doanh nghiệp trong cạnh tranh Vị trí địa lý thuận lợi như những thành phố lớn, phat tnên hay tiên các trục đường giao thông quan trọng cũng như nguồn tài
Trang 25thu được nhiều lợi nhuận, song mức độ cạnh tranh tại những vùng này sẽ hết sức quyết liệt, buộc các doanh nghiệp phải luôn nâng cao khả năng cạnh tranh của mình
để tồn tại và phát triển
Phong tục, tập quán, lối sống, thị hiếu, trình độ văn hoá, mức độ mở cửa về văn hoá sẽ tác động một cách gián tiếp tới khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp thông qua khách hàng và cơ cấu nhu cầu của thị trường Thị hiếu, tập quán của người tiêu dùng còn có ảnh hưởng rất lớn đến nhu cầu, vì mặc dù hàng hoá có chất lượng tốt nhưng nếu không được người tiêu dùng ưu chuộng thì cũng khó được họ chấp nhận
- Đầu tư nước ngoai, tài trợ của nước ngoài
Đối với một nước đang phát triển như Việt Nam, việc tranh thủ vốn đầu tư người thông qua các hoạt động đầu tư trực tiếp và hoạt động tài trợ phát triển của các nuớc phát triên là điều cần đặc biệt quan tâm Hiện nay, vốn đầu tư trực tiếp và viẹn trợ phát triên của nước ngoài chiêm một tỷ trọng rất lớn trong tổng vốn đầu tư của nền kinh tế nước ta, do vậy cần hướng những nguồn vốn này vào các hoạt động trọng tâm Chăng hạn, đê nâng cao khả năng canh tranh của hàng thủ công mỹ nghê cân hướng các nguồn vốn trên vào việc quy hoạch các làng nghề truyền thống xây dựng cơ sở hạ tầng nông thôn, tập trung vào các hoạt động xúc tiến thương mại và
hỗ trợ cho các ngành nghề liên quan trực tiếp phục vụ cho hoạt động của các doanh nghiệp kinh doanh mặt hàng thủ công mỹ nghệ
- Đôi thủ cạnh tranh tiềm ẩn
Việc nghiên cứu các đối thú canh tranh tiềm ẩn cũng cần thiết trong viêc nâng cao sức cạnh tranh của mình, các đối thủ cạnh tranh tiềm ẩn có thể ở tầm các doanh nghiệp cũng có thể ở tầm quốc gia Nếu nắm được đối thủ cạnh tranh tiềm ẩn thì sẽ dê dàng có được các đối sách hợp lý để có thể giành được thị phần cho mình
Các đôi thủ cạnh tranh tiềm ẩn có thể là sự xuất hiện các doanh nghiệp mới tham gia vao thi tiuờng và cũng có thể là sự mở rộng sản xuất, chiếm lĩnh thị trường của các doanh nghiệp hiện tại Để hạn chế mối đe doạ này các nhà quản lý thường dựng lên các hàng rào như:
+ Mở rộng khối lượng sản xuất của doanh nghiệp để giảm chi
phí-+ Dị biệt hoá sản phẩm (khác biệt hoá sản
Trang 26đe doạ của quá trình liên kết những người mua khi tiến hành mặc cả với doanh nghiệp do sử dụng thông tin từ phía nhà cung cấp đối với khách hàng; do sự tập tiung lớn cúa người mua đối với các sản phẩm hoặc các dịch vụ chưa được dị biêt hoá Những thành tựu trong mậu dịch quốc tế của một quốc gia cũng tác động rất lớn đên uy tín của sản phẩm trên thương trường.
- Các đơn vị cung ứng đầu vào cho doanh nghiệp
Là nhân tố phản ánh mối tương quan giữa nhà cung cấp với doanh nghiệp ở khía cạnh sinh lợi, tăng giá, hoặc giảm giá, giảm chất lượng hàng hoá khi tiến hành giao dich VỚI doanh nghiệp Nhà cung cấp có thể chi phối đên doanh nghiêp là do nắm được quyền thống trị, có vị thế độc quyền hoặc do liên kết giữa những nhà cung cap Nha cung câp co thê đe doạ tới doanh nghiêp do sư thay đổi chi phí của sản phẩm đầu vào
- Sức ép của sản phẩm thay thế
Khi gia ca cua san phâm, dịch vụ hiên tại tăng lên thì khách hàng có xu hướng sử dụng sản phẩm, dịch vụ thay thế Đây là nhân tố có thể dẫn đến việc doanh nghiệp bị mất thị trường Các doanh nghiệp cạnh tranh đưa ra thị trường nhung san pham thay thê có kha năng khấc biêt hoắ cao độ so với sản phẩm củadoanh nghiệp hoặc tạo ra các điều kiện ưu đãi hơn về các dịch vụ hay các điều kiện tài chính
- Cạnh tranh trong nội bộ ngành
Tiong dieu kiẹn cac doanh nghiệp canh tranh khốc liêt với nhau về giá sư khác biệt hoá vê sản phẩm hoặc sự thay đổi sản phẩm giữa các doanh nghiệp hiện đang cùng tôn tại trong thị trường Sự cạnh tranh này ngày càng gay gắt là do các
Trang 27do chưa quan tâm đầy đủ tới quá trình khác biệt hoá sản phẩm hoặc các chi tiết' do
sự thay đôi cua các nhà cung cấp; do các đối thủ cạnh tranh có chiến lược kinh doanh đa dạng, có xuất xứ khác nhau; do những hàng rào kinh tế làm cho doanh nghiệp khó có thể tự do di chuyển giữa các ngành
- Hoạt động quản lý của doanh nghiệp
Hiệu quả hoạt động quản lý của doanh nghiệp cũng góp phần tăng khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp trên thương trường Không nhất thiết phải là doanh nghiẹp lơn thì mới có sức cạnh tranh, đôi khi các doanh nghiệp vừa và nhỏ lại xâm nhạp thi tiuơng dê hơn, nhanh hơn và hiệu quả hơn, vấn đề là doanh nghiêp cần phải
co cac sach luợc đúng đăn, hoạt động hiệu quả, đầu tư vào việc nghiên cứu và phát tnen cac nguon lực, nghiên cứu khoa học, quản lý kỹ thuât đảm bảo hiêu quả sử dụng vốn
- Nguồn nhân lực
Đây chính là người tạo ra sản phẩm một cách trực tiếp và gián tiếp Đội ngũ cán bộ quản lý doanh nghiệp sẽ là những người quyết định các hoạt động sản xuất kinh doanh: sản xuất cái gì? sản xuất cho ai? sản xuất như thế nào? với số lượng bao nhieu? Moi một quyêt đinh cua họ có một ý nghĩa hêt sức quan trọng liên quan tới
sự ton tại, phat tnên hay diệt vong của doanh nghiệp Chính họ là những người quyet đinh cạnh tranh như thế nào, khả năng canh tranh của doanh nghiêp sẽ tới mưc nao, bang each nao Đặc trưng dân số, thái độ của người lao đông, năng suất lao động, giá thành lao động, giáo dục nghề và chất lượng cuộc sống của người lao động cũng có tác động tích cực đến khả năng cạnh tranh của sản phẩm
Cùng với máy móc, thiết bị và công nghệ, công nhân là những người trực tiếp sản xuất ra sản phẩm Sản lượng cũng như chất lượng sản phẩm là do họ quyết định Tnnh đọ tay nghê cao cung VỚI lòng hăng say làm việc là cơ sở đảm bảo chất lượng san phâm va tăng năng suất lao động Đây là tiền đề để doanh nghiệp có thể tham gia cạnh tranh và đứng vững trên thị trường
- Cơ sở vật chất kỹ thuật của doanh nghiệp
Mọt hệ thông cơ sơ vật chất kỹ thuật hiện đai cùng với công nghệ tiên tiến phù hợp với quy mô sản xuất của doanh nghiệp chắc chắn sẽ làm tăng khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp lên rất nhiều Với một cơ sở vật chất như vậy chất lượng sản phẩm được nâng cao hơn, cùng với nó, giá thành sản phẩm hạ, kéo theo
Trang 28sự giảm giá bán trên thị trường, khả năng chiến thắng của doanh nghiệp sẽ là rất lớn Ngược lại, không một doanh nghiệp nào lại có khả năng cạnh tranh cao khi mà công nghệ san xuất lạc hậu, máy móc, thiêt bị cũ kỹ vì chính nó sẽ làm giảm chất lượng sản phẩm, tăng chi phí sản xuất.
- Khả năng tài chính của doanh nghiệp
Đây là yếu tố quan trọng quyết định khả năng sản xuất, cung như là chỉ tiêu hàng đầu để đánh giá quy mô của doanh nghiệp Bất cứ một hoạt động đầu tư mua sam trang thiêt bi, nguyên vật liệu hay phân phối, quảng cáo đều phải được tính toan dựa trên thực trạng tài chính của doanh nghiệp Một doanh nghiệp có tiềm lực tài chính mạnh sẽ có khả năng trang bị các dây chuyền sản xuất hiện đại, đảm bảo chât lượng, hạ giá thành, giá bán sản phẩm, tổ chức các hoat động quảng cáo khuyến mại mạnh mẽ, nâng cao sức cạnh tranh Ngoài ra, với một khả năng tài chính hùng mạnh, một doanh nghiệp cũng có khả năng chấp nhận lỗ trong một thời gian, bằng cách đó, hạ giá bán sản phẩm một chút, nhằm giữ và mở rộng thị phần của doanh nghiệp để sau đó lại tăng giá, thu được lợi nhuận nhiều hơn
1.2 HOẠT ĐỘNG SẢN XUẤT HÀNG THỦ CÔNG MỸ NGHỆ CỦA VIỆT NAM 1.2.1 Lịch sử phát triển nhóm hàng thủ công mỹ nghệ của Việt Nam
1.2.1.1 Nghê gôm, sứ mỹ nghệ
Gốm là một trong những phát minh quan trọng của tổ tiên ta và gắn bó mật thiêt với đời sống của nhân dân ta từ ngàn đời nay Với trí sáng tạo và đôi bàn tay khéo léo của người thợ gốm, gốm cổ Việt Nam đã trở thành một loại hình nghệ thuật mang tính dân gian sâu sắc và truyền lại từ đời này qua đời khác
Gốm cố truyền Việt Nam đã có cách đây sáu, bảy ngàn năm, xuất hiện trong những di chí thuộc văn hoá Hoà Bình, văn hoá Bắc Sơn, văn hoá Hạ Long và trong nhũng di chỉ thuộc thời kỳ hậu đồ đá mới Phùng Nguyên, Đồng Đậu, Gò Mun Qua từng giai đoạn lịch sử, gốm cổ truyền Việt Nam đã có những bước phát triển cao và phong phú, con người đã biết sử dụng bàn xoay và chế tạo ra men để phú ngoài, tăng thêm vẻ đẹp cho đồ gốm Trong Lịch sử Việt Nam, tập I, trang 38 có ghi: “Trong giai đoạn Phùng Nguyên những loại hình đổ gốm (nổi, bát, cốc, vò )
co hình dang dẹp, khoe, chac phân nhiêu dã dươc chê tao từ đôi bàn tay con người Mặt ngoài đồ gốm phủ đáy hoa văn trang trí với những đường vạch sắc sảo, những
Trang 29nét cong uyển chuyển mềm mại, được phối khí đối xứng hài hoà Đó là một biểu hiện về óc thẩm mỹ khá cao của người Việt Nam lúc bấy giờ ”
Đến thời Lý - Trần, đất nước thái bình, quân sự vững mạnh, kinh tế văn hoá phát triển, nghề gốm đã phát triển cực thịnh Theo tài liệu giới thiệu “Lịch sử gốm ở Tho Ha cua Sơ Văn hoá Thông tin Bắc Ninh, và tài liêu “Tìm hiểu nghề gốm ở Bát Tràng”, tư liệu của Viện Mỹ thuật, năm 1964, cho biết: Vào khoảng thời Lý - Trần
co ba ngươi đo Thai học sinh, đuợc cư đi sứ nhà Tống là Hứa Vĩnh Kiều, người làng
Bồ Bát, Thanh Hoá; Đào Trí Tiến, người làng Thổ Hà, Hà Bắc; Lưu Phong Tú, người lang Ke Sạt, Hai Duơng Ca ba ông này khi đi sứ đã học đươc nghề gốm Lúc trở về
ba ông chọn ngày lành tháng tốt, lập đàn ở bên sông Hồng làm lễ truyền nghề cho dân làng và phân công:
+ Ông Kiều về Bồ Bát dạy dân làng chuyên chế các hàng gốm sắc
trắng-+ Ông Tiến về Thổ Hà dạy dân làng chuyên chế các hàng gốm sắc đỏ;
+ Ong Tú vê Phù Lãng dạy dân làng chuyên chê các hàng gốm sắc vàngthẫm
Cho đến nay, đổ gốm được sản xuất ở khắp nới trong cả nước, sản phẩm gốm
ở mỗi vùng có kỹ nghệ sản xuất riêng và đặc trưng cho địa phương ấy tiêu biểu là: gốm Bát Tràng (là một xã thuộc Gia Lâm, Hà Nội do làng Bồ Bát chuyển về)- gốm Thổ Hà, Phù Lãng (Bắc Ninh); gốm Hương Canh (Vĩnh Phú) (còn gọi là gốm Cậy vì gân bến đò Cậy thuộc làng Hương Gián, tổng Bình Dã, huyện Đường An thời Lê)- gom Quê Quyên (Hà Nam); Chum Thanh (Thanh Hoá); gốm Đổng Nai; gốm Sông Bé; gốm Mường Chanh (Mai Châu, Sơn La); gốm, sứ Bình Dương (ở hai huyện Tân Phước Khánh - Tân Uyên); gốm, sứ Vĩnh Long; gốm Bắc Bình (Thuận Bình) Tron*
sô các loại trên, gốm, sứ Bát Tràng, Đổng Nai, Bình Dương, Vĩnh Long là mặt hàng xuât khâu có giá trị rất cao, nổi tiêng không chỉ ở trong nước mà còn ở nước ngoài Nhung mạt hang gôm, sứ này có mâu mã đa dạng, men phú có nhiều loại như: men ngọc, men hoa lam, men rạn và đã được xuất khẩu sang nhiều nước trên thê giới đưa về một số lượng ngoại tệ lớn cho đất nước
1.2.1.2 Nghé đan mây, tre, cói, lá
Trong số các đổ dùng sinh hoạt quen thuộc từ lâu đời của nhân dân Việt Nam
có đô gốm và đổ mây tre đan Thủa xa xưa, khi con người biết tìm ra lửa và biết ăn
Trang 30thức ăn chín, phải dùng đến đồ vật để đựng thức ăn thì người ta đa biết hạ tre, nứa đan thành những cái sọt to nhỏ khác nhau để chứa, đựng.
Một trong những cái nôi của nghề đan tre nứa của nước ta phải kể đến là xã Ninh Sở, huyện Thường Tín, tỉnh Hà Tây Nói là nghề tre đan Ninh Sở nhưng thật
ia rat Ít mạt hang đan băng nan tre mà băng nan nứa, giang, cât sây những thứ cây này đêu là họ tre, nứa Do cây tre quen thuộc với con người và làng quê Việt Nam nên người ta gọi là nghề tre đan để cho thêm gần gũi, thân thưong
Ngày trước, mặt hàng chính của Ninh Sở chỉ có mấy thứ: nong nia rổ rá dan, sang, gio cua, lơ, dậm băt cá, đó đơm tôm Nghề tâp trung ở bốn họ chính' Phạm, Phung, Le, Đo Cach đan chu yêu là nong tứ và nong ba Đến nay sản phẩm tre đan có rất nhiều loại, như: cót, bồ, va-ly, thùng giấy, rổ hoa, lẵng hoa, lọ hoa các loại Có những mặt hàng tinh xảo như: giỏ hoa 6 sợi; thùng bẻ gầy, cổ bu hai lớp-
rô bầu dục gầy, cổ bu, hai lớp; rổ bát giác Đặc biệt có hàng nhuộm giả đồi mồi rất tinh vi và kỹ xảo Đế làm mặt hàng này, nan đan được đem nhuộm cốt, rồi đánh bóng tuỳ chỗ, sau đem nhuộm lại, chỗ nào đánh bóng ít thì ăn mầu đậm, chỗ nào đánh bóng kỹ thì ăn ít mầu do vậy tạo thành hoà sắc trên hàng tre nứa như dáng đồi mồi thật Các mặt hàng tre đan có thể được nhuộm màu xanh, đỏ, tím, vàng, hoặc để mộc
Nghề tre đan còn phát triển ở rất nhiều địa phương khác trong cả nước như:
xã Đông Phương Yên, xã Lam Điền, huyện Chương Mỹ; xã Phú Túc, huyện Phú Xuyên, tỉnh Hà Tây; xã Hoàng Thịnh, huyện Hoàng Hoá, tỉnh Thanh Hoá
Con đôi VỚI nghê làm ghê mây, một tư liệu ở cục Lưu trữ Trung ương, được xuât phát từ vùng Từ Sơn, Băc Ninh có chép rằng; “Năm 1923, một người thợ sơn lành nghề, quê ở thôn Trang Liệt (Đồng Quang, Từ Sơn, Bắc Ninh) tên là Nguyễn Quang Loan, một hôm tình cờ nhìn thấy chiếc ghế bằng gỗ mang từ bên Pháp sang
mà người bấy giờ gọi là ghê tô-nê Ông Loan chợt nảy ra ý định dùng vật liệu Việt Nam lam theo kiêu ghê tô-nê của Pháp Sau một thời gian nghiên cứu, ông chọn được vật liệu để thực hiện ý định của mình, đó là: mây, song, sơn ta Lúc đầu, ông ngâm mây vào nước cho mềm để uốn cong (sau này mới biết hơ vào lửa) rồi dùng diêm sinh tẩy trắng mặt ghế, dùng sơn ta phủ thành ghế, chân ghế
Ghế tô-nê bằng mây ra đời được mang sang Mác-Xây (Pháp) dự đấu xảo và được nhiều khách hàng khen ngợi Từ đấy, nghề làm ghế mây tô-nê phát triển ở Từ
Trang 31Sơn Đến nay các mặt hàng song mây rất đa dạng, chẳng hạn: bàn ghế sa lông, mắc
áo, giá để chậu rửa, cái đập bụi quần áo, xe trẻ em
Nghề mây song còn phát triển ở một số địa phương khác như: xã Phú Nghĩa, huyện Chương Mỹ (tỉnh Hà Tây); xã Hoàng Đông, huyện Duy Tiên, tỉnh Hà Nam;
xã Quảng Phong, huyện Quảng Xương (tỉnh Thanh Hoá), huyện Duy Sơn (Quảng Nam), huyện Nhạn Tháp (Bình Định)
Cùng với nghề đan bằng mây, tre, ở một số địa phương còn có nghề dệt chiếu cói (Ông tổ của nghề làm chiếu cói là Phạm Đôn Lễ, người đã hai lần đi sứ Trung Quoc đe tim hiêu nghê đem vê truyên lai cho dân làng) Nghề đan các sản phẩm bằng cói phát triển ở huyện Nga Sơn, tỉnh Thanh Hoá; huyện Kim Sơn, tỉnh Ninh Binh; huyẹn Tư Ky, tinh Hai Dương Các sản phấm đan bằng lá như nón làng Chuông (Hà Tây) cũng rất tiếng trong cả nước và gần đây cũng đã được thị trường nước ngoài ưu thích
Cac san phâm mây, tre, cói, lá cũng có giá trị xuất khẩu cao, là nhóm mật hàng thủ công mỹ nghệ đem lại kim ngạch xuất khẩu lớn thứ ba sau hàng đồ gỗ dân dụng va hang gom, sư Hang mây tre đan với các mẫu mã đa dang ngày càng đươc thị trường thế giới ưa chuộng
1 2 1 3 Nghê dệt th ổ cẩm, thêu ren
Một trong những quê hương của hàng thổ cẩm là Cao Bằng (huyện Hoà An
va Hà Quang) Nghê dệt thô cấm Cao Bằng đã có từ hai ba trăm năm nay nhưng người dân ở đây chỉ mới có ý thức dệt thổ cẩm để xuất khẩu kể từ những nãm 1960 khi các công ty xuất khẩu và ngành thù công nghiệp tỉnh chú ý và có chủ trương cụ thể để việc phát triển
Ngoài Cao Bằng, nghề dệt thổ cẩm còn phát triển ở các địa phương như: làng Triều Khúc, xã Tân Triều, huyện Thanh Trì, Hà Nội; huyện Sapa, tỉnh Lao Cai; huyện Mỹ Nghiệp, tỉnh Ninh Thuận và một số huyện thuộc tỉnh Nam Định
Còn nghề thêu ren phát triển ở Hoa Lư (Ninh Bình), Thanh Liêm (Hà Nam),
Mỹ Nghiệp (Ninh Thuận) và một số huyện thuộc tỉnh Thái Bình, Nam Định Thanh Hoá, Hà Nội, Hải Phòng, Hải Dương, Bắc Ninh và thành phố Hồ Chí Minh
Trong nhũng năm gần đây, các sản phẩm thêu ren, thổ cẩm của ta đã được thị trường nước ngoài ưu thích và đã đem về kim ngạch xuất khẩu đáng kể cho đất nước
Trang 321.2.1.4 N g h ê làm đ ồ g ỗ m ỹ nghệ
Một trong những nơi làm đồ gỗ mỹ nghệ nhiều nhất nước ta là làng mộc Đông Kỵ, tinh Băc Ninh (Xưa kia có tên nôm thôn Cời) Vài trục năm về trước Đồng Kỵ chỉ chuyên canh tác nông nghiệp Trong làng, một số người làm nghề bắt tôm, đánh cá; một số người bặm trợn hơn thì đi lên mạn ngược buôn trâu bò về gọi
la phuơng lai trâu Thoạt đâu, chi có vài toán thợ gồng gánh đồ nghề lên man ngược làm thợ xẻ, thợ mộc, dựng những ngôi nhà thô sơ cho các chòm bản Dần dần tay nghề nâng cao, họ quay về làng vỡ gỗ làm nhà Thủa trước, những gia đình giàu có mới có tiền mua gỗ lim vỡ gỗ làm nhà, làm cửa, dựng nhà đại khoa Đại đa số người dân dùng gỗ xoan, gỗ mít để cắt cột, cắt kèo, xẻ dui, xẻ hoành làm nhà
Việc chuyên từ thợ mộc làm nhà quay sang làm đồ gỗ mỹ nghệ là bước ngoặt tình cờ và quyết định đối với dân làng Đồng Kỵ Sau năm 1975, nghề phục chế đồ mộc mỹ nghệ ở đây mới manh mún trỗi dậy Ớ trong làng có một sô người buôn đồ
gô cố vào Sài Gòn bán, dần dà, số đổ cổ đã cạn, họ tính phục chê làm đổ mới giả cổ Thế là công nghệ chạm khác ở Đổng Kỵ bắt đầu phát triển từ đấy Thoạt đầu chí dam bay chục nhà, sau đấy cả làng tham gia làm đồ mỹ nghệ Những năm 1978 -
1982, nhiêu đô gô chạm khăc từ Đổng Kỵ được chuyển vào Sài Gòn, rồi xuất khẩu sang các nước khác do vậy có bước phát triển lớn Hiện tại, làng có hàng chục cônơ
ty, XI nghiệp, doanh nghiệp tư nhân trực tiếp sản xuất, buôn bán đổ gỗ mỹ nghệ với
nước ngoài, nhiêu người thợ Đồng Ky giàu lên trông thấy Hàng ngàn lao động từ các nơi về làm thuê cho Đồng Kỵ Làng Đồng Kỵ trở thành một trung tâm sản xuất
đồ gỗ mỹ nghệ lớn nhất miền Bắc Đường làng, ngõ xóm ngổn ngang bãi gỗ, ngổn ngang sản phẩm gỗ đang hoàn thiện Ô tô, xe công nông, xe bò, xe ngựa ầm ĩ, rậm rịch xuốt ngày đêm trở gỗ về, trở thành phẩm ra đi Đổng Kỵ là một làng thủ công
mỹ nghệ điển hình về sự biết kết hợp tay nghề sản xuất và đầu óc thương mại Ngoài Đồng Kỵ, nghề làm đổ gỗ mỹ nghệ còn phát triển ở nhiều địa phương khác trong cả nước như Phù Khê (Bắc Ninh), Chương Mỹ (Hà Tây), Kim Bồng (Quảng Nam) Phong Hoà (Thừa Thiên - Huế), Tân Phước Khánh (Bình Dương) và trong những năm gần đây đã được thị trường thế giới ưa chuộng
1.2.1.5 N g h ề son m ài
Chất liệu chính dùng trong ngành sơn mài là nhựa từ vỏ cây sơn, ở nước ta cây sơn được trồng nhiều trên những triền đồi đất vùng trung du Bắc Bộ
Trang 33Nhựa cây sơn có nhiều đặc tính độc đáo nên đã sớm được sử dụng từ thời xa xưa vào các việc thông thường trong đời sống hàng ngày Do có độ dính cao và rất ben chac, nhựa sơn được dùng như một thứ keo để gắn gỗ, tre nứa, hàng thúng mủng dùng đựng nước Do chịu được độ ẩm cao, hgười ta dùng nhựa sơn quét lên đồ đạc bằng gỗ như bàn, ghế, tủ, giường, rương, hòm đựng quần áo, vừa bóng, đẹp lại vừa tăng độ bền cho gỗ.
Gần đây, ngành khảo cổ học nước ta đã tìm thấy ở khu di tích Việt Khê huyện Thu ỷ Nguyên, Hải Phòng một số bát sơn, hộp sơn hình chữ nhật làm bằng gỗ, sơn trong đỏ, ngoài đen và các dụng cụ đổ nghề như bát dùng để đánh sơn chín mỏ vây quây sơn và một sô mảnh ván gô, nếu đem lắp ráp lai theo khuôn mộng còn lại thì trông giống như cái bàn vặn sơn
Tuy nhiên, qua các tài liệu, thì nghề sơn mài Việt Nam phát triển nhất vào thời Lê Đời vua Lê Hiến Tông, cụ Trần Lư, còn có tên gọi là Lương, tự là Tu Khê sinh năm Canh Dần (1470) đỗ đổng tiến sỹ khoa nhâm tuất (1502) niên hiệu Cảnh Thống thứ năm, hiệu là Trần Thượng Công được tôn là bậc thầy đầu tiên về ngành nghề này Để tưởng nhớ công ơn của ông thầy dạy nghề đầu tiên, các môn đệ đã lập đên thờ cụ Trần Thượng Công ở làng Bình Vọng, quê cụ, nay thuộc huyện Thường Tín (Hà Tây)
Các học trò của cụ Trần Lư đã lập thành từng phường thợ sơn, toả đi làm nghê khăp nơi trong cả nước Các thợ giỏi được các triều đình phong kiến lúc bấy giờ thu nạp vào cung điện nhà vua để phục vụ Một số khác tập hợp lại thành từng nhóm thợ, đứng đầu là thợ cả Các nhóm thợ này tự tìm đến các đền đài, chùa chiền
tô đắp tượng phật, sơn son, thếp vàng các đồ thờ, kiệu võng v.v hoặc tìm đến các gia đình giàu có nhận làm các bức hoành phi, câu dối, bàn kỷ, ngai thờ Số phó nhỏ ngày càng trưởng thành trong nghề nghiệp, lại được phát triển nhân lên gấp bội, tạo
ia nhiêu hiệp thợ mới 0 các địa phương Môi nơi lại sáng tao, nảy nở ra nhiều cải tiến, kỹ thuật độc đáo của phường mình và giữ riêng bí mật nhà nghề, làm bảo vật của địa phương để giữ nghề cho riêng địa phương mình Các sản phẩm thường cũng được đặt theo tên các địa danh Hàng đồ nét Cát Đằng, hàng thúng khảo chợ Đầu (Nam Định), hàng tráp quả chợ Bằng (Hà Đông) có nước sơn quang dầu rất bóng Còn nói đên sơn then Đình Bảng” (làng Báng), người ta hình dung ngay đến nước sơn đen của phường Đình Bảng là vô địch Để làm mặt hàng này, sơn được đem trộn với nhựa thông và phèn đen rồi đem quấy kỹ; muốn có sơn son thì pha thêm son- sơn cánh gián được pha chế bằng cách trộn ba phần sơn sống với một phần nhựa
Trang 34thông Còn làng Bằng Sở (Hà Tây) thì có biệt tài làm sơn thếp, sản phẩm loại này nhẵn bóng và có thể để đến năm sáu trục năm Đồ sơn thếp bạc quỳ thì đạt độ óng chuôt, vàng tươi như thêp vàng quỳ Trong khi đó sơn mài Sông Bé nghiêng về làm các đổ vật lớn như các bức bình phong, các lọ độc bình lớn, các bộ bàn ghế đồ sộ các bức tranh sơn mài có cẩn trai, cẩn vỏ trứng hoành tráng.
Hiện nay, chúng ta còn giữ được khá nhiều tác phẩm nghệ thuật có tô sơn như các tượng Phật bằng gỗ chạm nổi, bằng đất đắp được sơn son thếp vàng; các đồ thơ; cưa vong; ban ky; ngai thờ ớ các chùa, chiền, đền đài dưới các thời phong kiến như tượng phật nghìn mắt, nghìn tay ở chùa Bút Tháp và các tượng Phật ở chùa Phật tích (Thạch Thành, Hà Bắc), chùa Đậu (Hà Tây), chùa Tây Phương (Sơn Tây), chùa Tây Hồ, Văn Miếu Quốc Tử Giám, chùa Trấn Quốc (Hà Nội), chùa Dâu (Hà Bắc) Sau đây, phải kê đên các tác phẩm hội hoạ bằng sơn mài nổi tiếng của các hoạ sỹ tài
ba Việt Nam như Trần Văn cẩn, Nguyễn Tường Lân, Nguyễn Gia T rí
1.2.2.1 huận lợi và khó khăn trong hoạt động sản xuất hàng thủ công mỹ nghê của Việt Nam
1.2.2.1 T huận lợi
- Yếu tố con người
Nguồn lao động dồi dào trong đó có đội ngũ nghệ nhân, thợ giỏi là một thuận lợi lớn đê mớ rộng sản xuất, phát triển ngành nghề, đẩy mạnh xuất khẩu đối với hang thu công mỹ nghệ của Việt Nam Tiềm năng về lao dộng ở nông thôn Việt Nam tuy hiện nay còn hạn chê về trình độ chuyên môn kỹ thuật và kiến thức thị trường nhưng có những mặt mạnh cơ bản là lao động trẻ chiếm đa số, trình độ văn hoá cấp hai trở lên chiếm 70%, cần cù, tiếp thu kỹ thuật nhanh và có tinh thần cộng đồng
Điều tra các xã và làng nghề ở 41 tỉnh do Bộ NNPTNT thực hiện năm 1998
và tính toán của nhóm nghiên cứu (xem bảng 1.1) cho thấy các ngành nghề ở nông thôn tại những nơi được khảo sát rất đa dạng và phong phú Trong đó, các hộ tham gia nghề mộc, làm hàng mây, tre, giấy chiếm tỷ lệ lớn
Trang 35Bảng 1.1: Sỏ lượng các xã và làng nghề theo vùng, loại nghề sản xuất và sô hộ tham gia
Loại nghề sản xuất Tổng
sô
Vùng núi Bác bộ
Đổng bàng sông Hổng
Duyên hải Bác Trung bô
Duyên hải Nam trung bỏ
Miền Đòng Nam
Đồng bàng sông Mekong
Tổng sô hộ tham gia vào nghề
Nguôn: Báo cáo điều tra các xã và làng nghề ở 41 tỉnh do Bộ NNPTNT thực hiện năm 1998 và tính toán của nhổm nghiên cứu
a/ Bao gôm dẽt, may mặc, hàng ren và lụa, đan lát, dệt cửi và thêu thùa
b/ Bao gôm nghé môc, đổ mây, tre, giấy, chế biến gỗ và các sản phẩm rừng _
c/ Bao gôm chế biến lương thực, thực phẩm, chế biến cây nống nghiệp/ cây công nghiệp
e/ Bao gôm nghé sản xuất đá, đá vôi, gạch và các vật liệu xây dựng khác
g/ Bao gồm nghé chạm khác gỗ/ đá, sơn mài, khảm vàng/ bạc
h/ Bao gồm nghé làm mũ, nón, lưới, thám , thừng, chão, võng, hương nhang, chổi và quạt giấy _
i/ Bao gồm mộc và vật liệu xây dựng; mộc + nề; mộc + thẽu/ren _
Trang 36Việc sản xuất hàng thủ công mỹ nghệ thu hút được nhiều lao động, trong đó
có số lượng lao động đáng kể là nông nhàn, tạo việc làm và tăng thu nhập, góp phần xoá đói giảm nghèo trong dân cư, có ý nghĩa rất lớn về chính trị, kinh tế xã hội Hiện nay, thu nhập bình quân của một lao động ngành nghề khoảng 300.000- 400.000 đông /tháng, cao hơn từ 2-4 lần so với lao động nông nghiệp thuần tuý ở
ê om my nểhệ Bat Tràng (nay là một xã thuộc Gia Lâm, Hà Nội), mỗi ngày có đên 5.000 - 6.000 người từ các nơi khác đến làm thuê, tương đương với sô dân trong
xã Nhiều người đến Bát Tràng đều có chung nhận xét: Ở làng gốm này mọi lứa tuối đều có việc làm, ít thấy trẻ em chạy lăng xăng ngoài đường hoặc trai tráng tụ tạp tượu che, cơ bạc bê tha; các cụ già giỏi nghề làm việc suốt ngày đêm bên bàn tạo mẫu hay bên lò nung đang rực lửa; phụ nữ thì vuốt gốm phơi gốm, vào lò' thanh thiêu niên từ 12 - 18 tuôi có thế vẽ hoa rất đẹp trên sản phẩm gôm
- Các yếu tố khách quan
+ Hàng thủ công mỹ nghệ được sản xuất chủ yếu bằng nguyên vật liệu sẵn có tiong nước Cơ sở sản xuất thường được bô trí gần các nguồn nguyên liệu Nhu cầu nhập khẩu nguyên phụ liệu cho sản xuất rất nhỏ, không đáng kể Trị giá nguyên phụ
liệu nhập khâu trong giá thành sản phẩm, nêu có cũng chỉ chiếm khoảng 3 - 5%
Đây là một đặc điểm quan trọng, một thuận lợi lớn trong việc phát triển sản xuất những sản phẩm thủ công mỹ nghệ đáp ứng nhu cầu trong nước và đặc biệt là đấy mạnh xuất khẩu
+ Vốn đầu tư sản xuất hàng thủ công mỹ nghệ nói chung không lớn Mặt bang cơ sơ san xuất có thê phân tán một phần trong các gia đình, hộ nông nhàn không nhất thiết phải có cơ sở sản xuất tập trung toàn bộ Một số khâu trong sản xuat co thê sư dụng thiêt bi máy móc thay cho lao động thủ công để tăng năng suất
hạ giá thành sản phẩm, nhưng có thể làm dần từng bước không đòi hỏi cấp bách phải giải quyết ngay một lần nên cũng tạo thuận lợi cho việc chuẩn bị vốn đầu tư
+ Nhu cầu trong và ngoài nước ngày càng tăng lên là một bảo đảm và thuận lợi lơn cho việc đây mạnh san xuât và xuất khẩu các loai hàng thủ công mỹ nghê Thục tê đã chỉ rõ, đời sống càng tăng lên, nhu cầu về các loại hàng này cũng tăng theo, va thị hiêu cua người tiêu dùng cũng ngày càng đa dạng và phong phú Đặc biẹt, đoi song tang lên, hoạt động du lịch cũng tăng lên mà hàng thú công mỹ nghệ
là một trong những mặt hàng có khả năng đáp ứng nhu cầu ngày càng tăng và đa dạng của khách du lịch trong nước và quốc tế
Trang 37Xét trên ý nghĩa đó, nhu cầu về hàng thủ công mỹ nghệ sẽ không giảm đi mà tãng lên theo mức sống của dân cư, theo sự phát triển giao lưu văn hoá và hoạt động
du hch giữa các nước, tạo chỗ đứng xứng đáng cho loại hàng hoá này cho thị trường trong và ngoài nước
1.2.2.2 Khó khăn
+ Mặc dù sản xuất kinh doanh hàng thủ công mỹ nghệ không đòi hỏi đầu tư
von lơn nhu đa nêu ơ trên, nhưng các đơn vị sản xuất kinh doanh trong lĩnh vực này phần lớn là các doanh nghiệp vừa và nhỏ, thậm chí chỉ là các hộ gia đình sản xuất theo đơn đạt hang cua các doanh nghiệp, nên rất khó tiêp cân các nguồn vốn tín dụng của các ngân hàng, nhất là vốn tín dụng theo chính sách ưu đãi của Nhà nước
kể cả vốn đầu tư cho sản xuất và vốn mua nguyên vật liệu, thu gom hàng hoá trong sản xuất kinh doanh; các đơn vị sản xuất kinh doanh loại hàng này không dễ gì vượt qua hàng rào về thủ tục vay vốn và yêu cầu về tài sản thế chấp của các ngân hàng và
tổ chức tín dụng Nhiều hộ, cơ sở phải vay nặng lãi của tư nhân (thường gấp 2 - 3 lân lai vay cua các quỹ) Theo điều tra chỉ có khoảng 2,43% sô cơ sở sản xuất được vay từ Quỹ quốc gia giải quyết việc làm và khoảng 13,19% vay được từ Quỹ tín dụng nông thôn
+ Sản xuất hàng thủ công mỹ nghệ phần lớn được tiến hành tại các làng nghề
có từ lâu đời, nay những ngành nghề có nhu cầu mở rộng và phát triển thì gặp rất nhiều khó khăn về mặt bằng xây dựng; cơ sở sản xuất, điều kiện về cơ sở hạ tầng rất thấp kém (đường giao thông, bến bãi, kho hàng, đường tải điện ); môi trường bị ô nhiêm nặng nề do sử dụng chất đốt rắn, chất thải không được xử lý đối với các đơn
vị sản xuất nhỏ, ngay cả đối với làng nghề thì đây là gánh nặng, và họ không có khả năng xử lý nếu không có sự hỗ trợ của Nhà nước, của Trung ương, hoặc các tỉnh thành phố
+ Tố chức sản xuất ở các làng nghề phân tán, quy mô nhỏ, chủ yếu ở quy mô
hộ gia đình (chiếm 97%) Ở đa số làng nghề, sự thiếu liên kết về tổ chức, kinh tế kỹ thuật đã hạn chê khả năng phát triển Do đó, chất lượng sản phẩm chưa cao; kiểu dang, mâu mã san phâm chưa hấp dẫn; năng suất lao động thấp; chi phí trung gian cao; bản quyền mẫu mã hàng hoá bị vi phạm
+ Thị trường tiêu thụ vẫn là yếu tố có tính quyết định cho việc tổ chức và phát triển sản xuất Mặc dù khẳng định nhu cầu về hàng thủ công mỹ nghệ trên thị trường trong nước và thị trường thế giới vẫn còn và có khả năng tâng lên theo mức
Trang 38sông của dân cư, theo sự phát triển giao lưu thương mại, du lịch và trao đổi văn hoá giua các nước, nhưng để nắm bắt được nhu cầu, thị hiếu của từng thị trường tiếp cận thị trường, tìm được đối tác kinh doanh, xây dựng được mối quan hệ bạn hàng lâu dài và ổn định lại là những công việc có nhiều khó khăn phức tạp không dễ vượt qua
và là công việc cần có sự hỗ trợ của Nhà nước dưới nhiều hình thức
Nhìn chung, thị trường đối với hàng thủ công mỹ nghệ trong nước vẫn còn hạn hẹp; chưa xây dựng được mối quan hệ bạn hàng lâu dài, ổn định; chưa có kênh tiêp thị riêng; chưa tạo được thương hiệu riêng; chưa có các công cụ hữu ích trong Marketing; Việt Nam chưa tham gia vào các tổ chức xúc tiến phát triển hàng thủ cong my nghệ của khu vực và thê giới Việc xuất khẩu còn qua nhiều khâu trung gian, chất lượng sản phẩm thấp, trình độ mỹ thuật kém, mẫu mã sản phẩm không đa dạng, Ít được cai tiên làm cho tính cạnh tranh trên thị trường kém cả ở trong nước và nươc ngoài Các hộ, cơ sở ngành nghề thiêu các thông tin nên không nắm bắt được nhu cầu, thị hiếu của từng thị trường, không tìm được đối tác kinh doanh
+ Sản xuất hàng thủ công mỹ nghệ tuy có thuận lợi lớn là chủ yếu sử dụng nguồn nguyên vật liệu dồi dào trong nước, nhưng việc tổ chức khai thác, cung ứng một sô nguyên liệu cho sản xuất chưa tốt (nhất là các nguyên liệu gỗ song mây ) Các đơn vị sản xuất nhỏ để có được nguyên liệu cho sản xuất thường phải mua lại từ nhiều nguồn, chủ yếu là nguồn cung ứng gián tiếp, thậm chí là các nguồn cung ứng bât hợp pháp, làm tăng chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm, và trong trường hợp này thường không có hoá dơn giá trị gia tăng để được hoàn thuế khi xuất khẩu
+ Về công nghệ, thiết bị, ngoài những kỹ thuật truyền thống và bí quyết nghề được lưu truyền, còn hầu hết công nghệ, trang thiết bị sản xuất đều còn thô sơ, lạc hậu, đặc biệt là ở khâu sơ chế nguyên vật liệu
+ Trình độ tay nghề của lao động, năng lực quản lý của chủ hộ, cơ sở ngành nghê truyền thống còn rất hạn chế Phần lớn các làng nghề truyền thống hiện nay đều thiếu vắng một đội ngũ thợ lành nghề, thợ tạo mẫu, trong khi đó các nghệ nhân ngày càng già yếu đã hạn chế việc truyền nghề, ảnh hưởng đến sự duy trì và phát tnen nghê Đa sô lực lượng lao động có trình độ văn hoá và trình độ thẩm mỹ kém thiêu tính sáng tạo Hầu hết các chủ hộ, cơ sở chưa được đào tạo về quản trị kinh doanh và thiếu kiến thức về kinh tế thị trường Nói chung, việc đào tạo và phát triển nghề chưa tốt; có một sô nghề có nguy cơ mai một
Trang 39+ Thủ tục hành chính trong tất cả các khâu sản xuất, lưu thông, giao nhận vận chuyển và xuất khẩu hàng hoá vẫn còn là vấn đề gây không ít khó khăn phiền
hà cho người sản xuất, kinh doanh, làm cho họ phải rất vất vả, tốn kém mới có thể tiếp cận các nguồn vốn tín dụng ưu đãi, tiếp cận các nguồn nguyên liệu hoặc có thể giải phóng nhanh lô hàng bảo đảm thời hạn giao hàng theo hợp đồng xuất khẩu
Một doanh nghiệp sản xuất gốm mỹ nghệ xuất khẩu mà chỉ được phép hạch toán tiền công không quá 18 - 20% vào giá thành sản phẩm, nếu vượt quá thì phải loại ra để tính thu nhập chịu thuế là không hợp lý, vì trong sản xuất mặt hàng này tiền nguyên vật liệu không đáng kể (chỉ có đất, men) còn chủ yếu là tiền công trả cho các nghệ nhân, hoạ sỹ và công nhân Đó là một thí dụ về những quy định hành chính bất hợp lý gây khó khăn cho sản xuất kinh doanh
1.3 KẾT LUẬN CHƯƠNG 1
Ngành nghề thủ công mỹ nghệ truyền thống Việt Nam đã được hình thành và phát triển lâu đời Nhiều tỉnh, nhiều địa phương hình thành các làng nghề có nhiều sản phẩm giá trị mang đậm nét văn hoá của mỗi địa phương Có nhiều sản phẩm nổi tiếng trong nước và quốc tế như: cói Kim Sơn; gốm, sứ Bát Tràng; tơ Nam Định; lụa
Hà Đông; đá mỹ nghệ Ngũ Hành Sơn (Đà Nang); đồ gỗ mỹ nghệ Đồng Kỵ (Bắc Ninh); mây, tre đan Hà Tây; thổ cẩm Hoà Bình V.V
Làng nghề có vai trò quan trọng trong đời sống kinh tế, văn hoá, xã hội của đất nước; tạo ra nhiều việc làm ở nông thôn, ở các thị trấn và các vùng ven đô thị, tăng thêm thu nhập cho người dân, góp phần xoá đói, giảm nghèo, góp phần ổn định trật tự xã hội Đồng thời nghề thủ công mỹ nghệ với những quy trình sản xuất của
nó là biểu tượng của văn hoá Việt Nam
Tuy nhiên các làng nghề hiện nay với các hạn chế của quá trình phát triển tự phát, chậm đổi mới công nghệ, cải tiến mẫu mã, ít có điều kiện giao lưu rộng rãi để học hỏi kinh nghiệm hoặc để tăng cường tiếp thị, mở rộng thị trường, cùng với sự thiếu vốn đầu tư nên cũng trải qua nhiều bước thăng trầm với sự biến đổi của xã hội
Ngày nay trong cơ chế thị trường, làng nghề đang gặp phải sự cạnh tranh gay gắt bởi các hàng hoá được sản xuất hàng loạt theo các kiểu dáng công nghiệp Các thợ thủ công Việt Nam với nhiều hạn chế nêu trên gặp phải nhiều khó khăn trong cạnh tranh, không theo kịp với nhu cầu nên sản phẩm bị mai một dần
Trang 40Tuy nhiên, với tiềm năng sẵn có về nguyên liệu và nguồn lao động dồi dào ớ trong nước, trong đó có đội ngũ nghệ nhân và thợ lành nghề là những thuận lợi lớn cho việc đẩy mạnh sản xuất và xuất khẩu hàng thủ công mỹ nghệ Mặt khác, đời sống nhân dân ngày càng được cải thiện, quan hệ thương mại, giao lưu văn hoá và
du lịch giữa các nước ngày càng phát triển, nhu cầu trên thị trường trong và ngoài nước tăng lên sẽ tạo thêm thuận lợi cho sản xuất và xuất khẩu cá hàng hoá này trong tương lai
Hiện nay, hàng thủ công mỹ nghệ Việt Nam trên thị trường thế giới nói chung và thị trường EU nói riêng đang bị cạnh tranh rất gay gắt từ hàng hoá của các nước khác, nhất là hàng hoá từ Trung Quốc và các nước ASEAN khác Việc nâng cao khả năng cạnh tranh của hàng thủ công mỹ nghệ Việt nam trên thị trường EU đồng nghĩa với việc tăng thị phần của hàng Việt Nam trên thị trường EU sẽ giúp cho kim ngạch xuất khẩu nhóm mặt hàng này sang thị trường EU ngày càng tăng Thông qua đó gìn giữ và phát triển các ngành nghề truyền thống của nhân dân Việt Nam Điều này có ý nghĩa và tầm quan trọng to lớn, thể hiện ở một số điểm sau:
+ Tạo công ăn việc làm và nâng cao thu nhập cho người lao động ở nông thôn, hạn chế tình trạng di dân tự do ra thành thị;
+ Huy động được nguồn lực trong dân;
+ Sử dụng có hiệu quả nguồn tài nguyên thiên nhiên sẵn có tại địa phương, đặc biệt là các phụ phẩm của nông nghiệp;
+ Duy trì bản sắc văn hoá lâu đời của dân tộc;
+ Góp phần quan trọng trong chuyển dịch cơ cấu kinh tế, tăng GDP ở khu vực nông thôn, thu hẹp khoảng cách mức sống giữa nông thôn và thành thị