PHẦN THỨ BA TẦM VÓC, Ý NGHĨA VÀ BÀI HỌC LỊCH SỬ PHÁT HUY TINH THẦN CHIẾN THẮNG TÂY BẮC, QUYẾT TÂM XÂY DỰNG YÊN BÁI THÀNH TỈNH PHÁT TRIỂN KHÁ TRONG VÙNG TRUNG DU VÀ MIỀN NÚI BẮC BỘ ĐỖ ĐỨC DUY* hững ngà[.]
Trang 1PHẦN THỨ BA
TẦM VÓC, Ý NGHĨA
VÀ BÀI HỌC LỊCH SỬ
Trang 3PHÁT HUY TINH THẦN CHIẾN THẮNG TÂY BẮC,
QUYẾT TÂM XÂY DỰNG YÊN BÁI THÀNH TỈNH PHÁT TRIỂN KHÁ TRONG VÙNG TRUNG DU VÀ MIỀN NÚI BẮC BỘ
ĐỖ ĐỨC DUY *
hững ngày này cách đây 70 năm, dưới sự lãnh đạo của Đảng, quân và dân ta tiến hành Chiến dịch Tây Bắc nhằm giải phóng đất đai, giải phóng nhân dân, phá âm mưu chiếm giữ Tây Bắc của thực dân Pháp Với
niềm tin vững chắc: “Dù phải gian lao kháng chiến, nhưng với một lòng kiên quyết hy sinh, thắng lợi nhất định về dân tộc ta”, quân và dân Yên Bái đã
cùng các đơn vị bộ đội khắc phục mọi khó khăn, vượt qua đèo cao suối sâu, mưa rét và bom đạn của địch để vận chuyển hàng vạn tấn đạn dược, lương thực, thực phẩm vào mặt trận, phối hợp với các đơn vị chủ lực tiến hành chiến đấu, góp phần vào thắng lợi của chiến dịch
Ngày 14/10/1952, Chiến dịch Tây Bắc mở màn bằng các trận đánh vào phân khu Nghĩa Lộ của địch, chưa đầy 10 ngày, quân ta đã giải phóng được một vùng rộng lớn bên tả ngạn sông Đà, gồm các huyện Văn Chấn, Than Uyên (Yên Bái), Phù Yên và một phần huyện Quỳnh Nhai (Sơn La), là tiền
đề quan trọng để quân và dân ta tiếp tục tiến công làm nên thắng lợi của chiến dịch, tạo nên dấu mốc quan trọng, tiếp tục khẳng định, phát huy quyền chủ động chiến lược của cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp; tiến lên giành thắng lợi trận quyết chiến chiến lược Điện Biên Phủ, chấm dứt hoàn toàn chế độ cai trị của thực dân Pháp trên đất nước ta
_
* Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương Đảng, Bí thư Tỉnh ủy, Trưởng Đoàn đại biểu Quốc hội tỉnh Yên Bái.
N
Trang 4Phát huy tinh thần, khí thế tiến công của Chiến dịch Tây Bắc, xứng đáng với danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân, trong cuộc kháng chiến chống đế quốc Mỹ xâm lược, Đảng bộ, chính quyền, quân và dân Yên Bái tiếp tục đoàn kết một lòng, vượt qua mọi khó khăn, gian khổ, vừa sản xuất, vừa chiến đấu, chi viện cho tiền tuyến lớn miền Nam; hàng vạn thanh niên Yên Bái đã xung phong tòng quân, lên đường đánh giặc, nhiều người đã anh dũng hy sinh ở tuổi đôi mươi vì độc lập, tự do của Tổ quốc, góp phần cùng quân, dân cả nước làm nên thắng lợi vĩ đại mùa Xuân năm 1975, giải phóng hoàn toàn miền Nam, thống nhất đất nước
Sau hơn 35 năm thực hiện đường lối đổi mới toàn diện đất nước do Đảng ta khởi xướng và lãnh đạo và sau hơn 30 năm tái lập tỉnh (từ năm
1991 đến nay), Đảng bộ, chính quyền, lực lượng vũ trang và nhân dân các dân tộc Yên Bái tiếp tục phát huy truyền thống anh hùng cách mạng, ý chí
tự lực, tự cường, đoàn kết một lòng, đồng tâm, hiệp lực, khơi dậy tiềm năng, phát huy nội lực, huy động mọi nguồn lực đưa Yên Bái phát triển, đóng góp vào sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc
Với quyết tâm, nỗ lực và sự năng động, chủ động, sáng tạo, đổi mới không ngừng, quân và dân Yên Bái luôn đoàn kết, đồng lòng, nêu cao ý chí
tự lực, tự cường, quyết liệt trong hành động, sáng tạo, linh hoạt trong thực hiện nhiệm vụ chính trị, vượt qua nhiều khó khăn, thách thức, đạt được những thành tựu quan trọng trong sự nghiệp phát triển kinh tế - xã hội, bảo đảm quốc phòng - an ninh Kinh tế duy trì tăng trưởng khá, cơ cấu kinh tế chuyển dịch tích cực1, thu hẹp dần khoảng cách phát triển giữa vùng thấp và vùng cao, giữa đô thị và nông thôn; thu ngân sách trên địa bàn tăng nhanh, tạo thêm nguồn lực cho đầu tư phát triển2; xây dựng nông thôn mới đạt kết quả tích cực, là điểm sáng trong các tỉnh khu vực Tây Bắc3; giảm nghèo
_
1 Tốc độ tăng tổng sản phẩm trên địa bàn (GRDP) năm 2021 đạt 7,11%, đứng thứ 2/14 tỉnh trong vùng, đứng thứ 12/63 tỉnh, thành phố; cơ cấu kinh tế: khu vực nông, lâm nghiệp, thủy sản đạt 23,17%; khu vực công nghiệp - xây dựng đạt 31,0%; khu vực dịch vụ đạt 41,33%.
2 Tốc độ tăng thu ngân sách trên địa bàn bình quân khoảng trên 20%/năm, năm
2021 đạt 4.383 tỷ đồng, cao gấp 2 lần so với 5 năm trước.
3 Toàn tỉnh đã có 88/150 xã đạt chuẩn nông thôn mới, bằng 58,7% số xã, đứng thứ 4/14 tỉnh trong vùng; có 3/9 đơn vị cấp huyện đạt chuẩn hoặc hoàn thành nhiệm vụ xây dựng nông thôn mới, huyện Trấn Yên là huyện miền núi đầu tiên của khu vực Tây Bắc đạt chuẩn nông thôn vào năm 2019.
Trang 5nhanh và bền vững; diện mạo đô thị và nông thôn ngày càng thay đổi theo hướng văn minh, hiện đại Chất lượng, hiệu quả lĩnh vực văn hóa - xã hội có nhiều tiến bộ Quốc phòng, an ninh được giữ vững, chính trị ổn định, trật tự
an toàn xã hội được bảo đảm Công tác xây dựng Đảng và hệ thống chính trị đạt nhiều kết quả quan trọng; năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của các cấp
ủy, tổ chức đảng không ngừng được nâng lên; chủ động xây dựng, tạo nguồn cán bộ trẻ, cán bộ nữ, cán bộ người dân tộc thiểu số cho cả trước mắt và lâu dài Yên Bái đã và đang phát huy được vị trí là cửa ngõ của khu vực Tây Bắc, nằm trên tuyến hành lang kinh tế Côn Minh - Lào Cai - Hà Nội - Hải Phòng - Quảng Ninh, có 80 km đường cao tốc chạy qua và hệ thống quốc lộ, tỉnh lộ kết nối giao thông vùng, liên vùng thuận lợi, cùng với lợi thế về tài nguyên thiên nhiên, môi trường sinh thái, bản sắc văn hóa các dân tộc đa dạng, đặc sắc, Yên Bái có nhiều tiềm năng, lợi thế để bứt phá trong phát triển kinh tế - xã hội
Bước vào nhiệm kỳ 2020-2025, Nghị quyết Đại hội lần thứ XIX Đảng
bộ tỉnh đã xác định mục tiêu đưa Yên Bái phát triển nhanh, bền vững theo
hướng “xanh, hài hòa, bản sắc và hạnh phúc”, trở thành tỉnh khá vào năm
2025 và nằm trong nhóm các tỉnh phát triển hàng đầu của vùng trung du và miền núi Bắc Bộ vào năm 2030 Để đạt được mục tiêu đó, trong những năm qua, Đảng bộ, chính quyền, lực lượng vũ trang và nhân dân các dân tộc tỉnh Yên Bái đã và đang phát huy cao độ truyền thống anh hùng cách mạng, nỗ lực đổi mới sáng tạo, triển khai đồng bộ các nhóm nhiệm vụ, giải pháp, quyết tâm hoàn thành thắng lợi nghị quyết đại hội Đảng các cấp đã đề ra
Cụ thể là:
Thứ nhất, tập trung triển khai đồng bộ 3 đột phá chiến lược theo tinh thần Nghị quyết Đại hội lần thứ XIX Đảng bộ tỉnh, tạo cơ sở, nền tảng, động lực đưa tỉnh Yên Bái phát triển nhanh, bền vững.
(i) Chủ động đổi mới, hoàn thiện cơ chế, chính sách tạo cơ sở chính trị,
cơ sở pháp lý quan trọng nhằm huy động, quản lý và sử dụng hiệu quả mọi nguồn lực cho phát triển Cụ thể hóa, ban hành đầy đủ, đồng bộ các nghị quyết,
_
1 Tỷ lệ hộ nghèo toàn tỉnh theo chuẩn nghèo giai đoạn 2016-2020 giảm bình quân trên 5,0%/năm, khu vực đồng bào dân tộc thiểu số giảm trên 7,5%/năm, đến năm 2020 tỷ lệ
hộ nghèo toàn tỉnh còn 7,04% (năm 2016 là 32,21%).
Trang 6chỉ thị, đề án, chính sách của Tỉnh ủy, Ban Thường vụ Tỉnh ủy, Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân tỉnh với tư duy đổi mới, bao quát toàn diện trên các lĩnh vực1; tập trung tổ chức triển khai lập quy hoạch tỉnh và các quy hoạch ngành, lĩnh vực Thực hiện phân cấp, phân quyền hợp lý, hiệu quả gắn với kiểm tra, giám sát chặt chẽ, nhằm giải tỏa ách tắc, khơi thông điểm nghẽn, thúc đẩy phát triển Quyết liệt cải cách hành chính, cải thiện môi trường đầu tư kinh doanh, nâng cao năng lực cạnh tranh, hiệu quả quản trị
và hành chính công cấp tỉnh; đẩy mạnh chuyển đổi số trên cả 3 trụ cột: xây dựng chính quyền số, kinh tế số và xã hội số, thiết thực nâng cao mức độ hài lòng của người dân và doanh nghiệp2
(ii) Nâng cao chất lượng nguồn nhân lực đáp ứng yêu cầu đổi mới, hội nhập và phát triển; trọng tâm là nâng cao chất lượng nhân lực khu vực nông nghiệp, nông thôn, vùng đồng bào dân tộc thiểu số và xây dựng đội ngũ cán
bộ, công chức, viên chức các cấp, các ngành đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ.
Quan tâm đẩy mạnh đào tạo nghề, giải quyết việc làm và chuyển dịch
cơ cấu lao động nông thôn3, phấn đấu đến năm 2025 tỷ lệ lao động qua đào tạo đạt 70%, trong đó lao động có bằng cấp, chứng chỉ đạt 40%; chuyển dịch lao động nông nghiệp sang phi nông nghiệp bình quân 2%/năm; tốc độ tăng năng suất lao động xã hội bình quân giai đoạn 2021-2025 đạt 6,2%/năm Tập trung cơ cấu lại đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức trong hệ thống chính trị gắn với tuyển dụng, đào tạo, bồi dưỡng, luân chuyển, sử dụng, bảo đảm tiêu chuẩn chính trị, chuyên môn, nghiệp vụ và khung năng lực vị trí việc làm; ban hành và thực hiện các chính sách thu hút nguồn nhân lực chất lượng cao, nhất là đội ngũ chuyên gia thuộc các ngành, lĩnh vực
_
1 Bao gồm 11 nghị quyết chuyên đề của Tỉnh ủy; 53 nghị quyết, chỉ thị, quy định, đề
án của Ban Thường vụ Tỉnh ủy; 44 nghị quyết, 23 đề án, chính sách của Hội đồng nhân dân,
Ủy ban nhân dân tỉnh.
2 Năm 2021, Yên Bái xếp thứ 21/63 về chỉ số cải cách hành chính (cải thiện 3 bậc so với năm 2020); xếp thứ 14/63 về chỉ số hài lòng của doanh nghiệp, người dân về sự phục vụ của các cơ quan hành hành (cải thiện 2 bậc so với năm 2020); xếp thứ 27/63 về chỉ số chuyển đổi số (cải thiện 13 bậc so với năm 2020).
3 Năm 2021, đã đào tạo nghề cho 20.386 lao động, vượt 16,4% kế hoạch; giải quyết việc làm mới cho 20.462 lao động, vượt 13,7% kế hoạch, đứng thứ 3/14 tỉnh trong khu vực.
Tỷ lệ lao động qua đào tạo hiện nay đạt gần 65%.
Trang 7trọng điểm của tỉnh, góp phần nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức1
(iii) Huy động, lồng ghép, sử dụng hiệu quả các nguồn lực đầu tư phát triển hạ tầng kinh tế - xã hội theo hướng đồng bộ, hiện đại, đáp ứng yêu cầu phát triển, trọng tâm là hạ tầng giao thông kết nối vùng, liên vùng; hạ tầng
đô thị, khu, cụm công nghiệp; hạ tầng công nghệ thông tin, viễn thông, chuyển đổi số; hạ tầng xây dựng nông thôn mới Tổng nguồn vốn đầu tư phát triển tăng nhanh2; cơ cấu nguồn vốn đầu tư chuyển dịch tích cực theo hướng giảm mạnh tỷ trọng vốn đầu tư nhà nước, tăng tỷ trọng vốn đầu tư ngoài nhà nước3; nguồn lực nhà nước có vai trò dẫn dắt, là đòn bẩy để thu hút các nguồn lực đầu tư ngoài nhà nước, tập trung ưu tiên đầu tư các công trình, dự
án trọng điểm có ý nghĩa quan trọng, có tác động lớn đến phát triển kinh tế
-xã hội của tỉnh4
Thứ hai, tập trung lãnh đạo triển khai đồng bộ, linh hoạt, hiệu quả các nhiệm vụ, giải pháp phát triển kinh tế - xã hội, bảo đảm quốc phòng - an ninh, đạt nhiều kết quả quan trọng, khá toàn diện, có mặt nổi trội.
(i) Tiếp tục cơ cấu lại kinh tế, đổi mới mô hình tăng trưởng, nâng cao chất lượng tăng trưởng và năng lực cạnh tranh của nền kinh tế; phấn đấu
duy trì tốc độ tăng trưởng kinh tế ở mức khá, bình quân giai đoạn 2021-2025 đạt khoảng 7,5%/năm, giai đoạn 2025-2030 đạt khoảng 8,5%/năm5
_
1 Năm 2021, tỷ lệ cán bộ, công chức, viên chức khối hành chính, sự nghiệp có trình
độ chuyên môn từ đại học trở lên chiếm 72%, trong đó trình độ sau đại học chiếm 7% (tăng 1% so với năm 2020); tỷ lệ cán bộ, công chức cấp xã có trình độ chuyên môn đại học, cao đẳng là 81,2% (tăng 20% so với năm 2020).
2 Tổng vốn đầu tư phát triển năm 2021 đạt 18.014 tỷ đồng, tăng 9,31% so với cùng
kỳ, xếp thứ 5/14 tỉnh trong vùng trung du và miền núi Bắc Bộ; 8 tháng năm 2022 đạt 11.557,8 tỷ đồng, bằng 60,8% kế hoạch năm, tăng 4,5% so với cùng kỳ.
3 Hiện nay, tỷ trọng vốn đầu tư nhà nước trong tổng vốn đầu tư phát triển chiếm khoảng 27,5% (giảm 3,5% so với năm 2020).
4 Trong tổng nguồn vốn đầu tư công từ ngân sách Trung ương giai đoạn 2021-2025 là 6.782 tỷ đồng, bố trí cho lĩnh vực giao thông 5.154,4 tỷ đồng, chiếm 76% với 17 dự án; lĩnh vực nông nghiệp và phát triển nông thôn 391 tỷ đồng, chiếm 6% với 4 dự án; còn lại là các lĩnh vực khác 1.236,6 tỷ đồng, chiếm 18%.
5 Năm 2021, tốc độ tăng GRDP đạt 7,11%, đứng thứ 2/14 tỉnh trong vùng, đứng thứ 12/63 tỉnh, thành phố trong cả nước; 6 tháng đầu năm 2022 đạt 7,57%, đứng thứ 7/14 tỉnh trong vùng, vượt mục tiêu đề ra và cao nhất trong 5 năm gần đây, trong đó: Khu vực nông, lâm, thủy sản tăng 5,44%; công nghiệp - xây dựng tăng 12,54%; dịch vụ tăng 5,69%; dự ước
cả năm 2022 đạt trên 8,0%.
Trang 8Cơ cấu lại ngành nông nghiệp theo hướng nâng cao chất lượng, hiệu quả, giá trị gia tăng, đẩy mạnh phát triển kinh tế nông thôn gắn với xây dựng nông thôn mới bền vững, với quan điểm nông nghiệp là một trụ cột quan trọng của nền kinh tế, là cơ sở cho phát triển bền vững và bảo đảm ổn định đời sống nhân dân
Thực tế những năm qua, tốc độ tăng trưởng ngành nông nghiệp luôn duy trì mức cao so với bình quân chung cả nước, vượt chỉ tiêu kế hoạch đề
ra1 (chỉ tiêu kế hoạch là 4,5%/năm); cơ cấu nội ngành chuyển dịch đúng hướng2; sản xuất nông nghiệp chuyển mạnh theo hướng hàng hóa, tập trung vào các sản phẩm chủ lực, đặc sản, sản phẩm OCOP có thế mạnh của tỉnh3 Chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới giai đoạn 2021-2025 được triển khai hiệu quả với sự vào cuộc của cả hệ thống chính trị, cộng đồng doanh nghiệp và các tầng lớp nhân dân, đặc biệt là phát huy vai trò trung tâm, chủ thể, tự nguyện, trực tiếp của người dân trong xây dựng nông thôn mới; kết quả hằng năm luôn vượt mục tiêu kế hoạch đề ra4
_
1 Năm 2021, tốc độ tăng trưởng ngành nông nghiệp đạt 5,36%, đứng thứ 4/14 tỉnh trong vùng, 6 tháng đầu năm 2022 đạt 5,44%, cao gấp gần 2 lần bình quân chung cả nước.
2 Trồng trọt: 38,5%; chăn nuôi: 27,8%; lâm nghiệp: 28,85%; thủy sản: 4,15%; dịch vụ: 0,7%.
3 Đã xây dựng, phát triển được 10 vùng chuyên canh, sản phẩm chủ lực: Vùng quế
gần 80.000 ha, măng tre Bát Độ trên 6.000 ha, sơn tra gần 10.000 ha, lúa đặc sản chất lượng cao 3.000 ha, ngô 15.000 ha, cây ăn quả gần 10.000 ha, chè 7.000 ha, dâu tằm trên 1.000 ha, nguyên liệu gỗ rừng trồng sản xuất trên 220.000 ha; tổng đàn gia súc đạt khoảng
760.000 con, vùng nuôi thủy sản trên 2.600 ha và trên 2.000 lồng cá Phát triển 10 sản
phẩm đặc sản, hữu cơ: Lúa nếp đặc sản xã Tú Lệ; chè Shan hữu cơ của Văn Chấn và Trạm
Tấu; bưởi Đại Minh; cam sành Lục Yên; vịt bầu Lâm Thượng; gà đen đặc sản vùng cao; lợn bản địa Yên Bái; sơn tra Mù Cang Chải và Trạm Tấu; quế sản xuất theo phương thức hữu
cơ và các loại cây dược liệu Trong 2 năm đã triển khai 39 dự án liên kết sản xuất theo chuỗi
giá trị Xây dựng, phát triển được 138 sản phẩm đạt tiêu chuẩn OCOP (trong đó có 20 sản
phẩm 4 sao và 118 sản phẩm 3 sao) Hằng năm trồng mới được trên 16.000 ha rừng; sản lượng gỗ rừng trồng khai thác trung bình mỗi năm đạt khoảng 900.000 m 3
4 Đến hết năm 2021, toàn tỉnh đã có 88/150 xã đạt chuẩn nông thôn mới, bằng 58,7%
số xã, đứng thứ 4/14 tỉnh trong vùng, trong đó có 17 xã đạt chuẩn nông thôn mới nâng cao;
3 xã đạt chuẩn nông thôn mới kiểu mẫu; có 19 xã đặc biệt khó khăn đã hoàn thành xây dựng nông thôn mới Dự kiến đến cuối năm 2022, sẽ có thêm 13 xã được công nhận đạt chuẩn nông thôn mới, đưa tổng số xã đạt nông thôn mới toàn tỉnh lên 101 xã, đạt tỷ lệ 67,3%.
Trang 9Ngành công nghiệp được cơ cấu lại theo hướng phát triển bền vững, hiệu quả, thân thiện với môi trường, tạo động lực mạnh mẽ thúc đẩy tăng trưởng và phát triển kinh tế - xã hội; ưu tiên phát triển các ngành công nghiệp gắn với tiềm năng lợi thế của tỉnh1 Công nghiệp luôn duy trì tốc độ tăng trưởng khá, chỉ số sản xuất công nghiệp (IIP) năm 2021 tăng 9,12%, xếp thứ 5/14 tỉnh trong vùng; 8 tháng đầu năm 2022 tăng 10,52% so với cùng kỳ
Phát triển thương mại, dịch vụ, du lịch theo hướng chuyên nghiệp, hiện đại, trở thành ngành kinh tế quan trọng của tỉnh Khai thác hiệu quả các tài nguyên du lịch; triển khai thực hiện các quy hoạch, đề án, chính sách phát triển du lịch Mở rộng, đa dạng hóa các sản phẩm và loại hình du
lịch, xây dựng hình ảnh “Yên Bái - Nơi hội tụ sắc màu Tây Bắc”, trở thành
thương hiệu du lịch, điểm đến an toàn, thân thiện, đặc sắc, hấp dẫn, ấn tượng Năm 2022, thương mại, dịch vụ, du lịch có sự phục hồi và phát triển nhanh chóng sau đại dịch Covid-192, đóng góp tích cực vào tăng trưởng kinh tế của tỉnh
Quản lý, kiểm soát chặt chẽ thu - chi ngân sách nhà nước; tích cực nuôi dưỡng nguồn thu, chống thất thoát, thất thu để chủ động nguồn lực chi cho các nhiệm vụ theo dự toán và các nhiệm vụ đột xuất, phát sinh3 Tiết kiệm triệt để chi thường xuyên để dành nguồn lực chi cho đầu tư phát triển4
Không ngừng nỗ lực cải thiện môi trường đầu tư kinh doanh; đẩy mạnh thu hút đầu tư; khuyến khích đổi mới, sáng tạo, hỗ trợ phát triển các thành
_
1 Như: chế biến nông, lâm sản; chế biến sâu khoáng sản và sản xuất vật liệu xây dựng cao cấp; phát triển năng lượng sạch, năng lượng tái tạo; chế biến, chế tạo và một số ngành sử dụng nhiều lao động địa phương.
2 Trong năm 2021, toàn tỉnh đón 793.700 lượt khách, đạt gần 90% kế hoạch; 8 tháng đầu năm 2022, toàn tỉnh đã đón trên 1.046.000 lượt khách, bằng 95% kế hoạch năm, gấp 2,03 lần so với cùng kỳ.
3 Thu ngân sách nhà nước trên địa bàn năm 2021 đạt 4.383 tỷ đồng, vượt 71% dự toán Trung ương giao, tăng 22,1% so với năm 2020; 8 tháng đầu năm 2022 đạt 2.513 tỷ đồng, tăng 20,2% so với cùng kỳ.
4 Tỷ lệ chi đầu tư phát triển trong tổng chi ngân sách nhà nước năm 2022 đạt 59%, tăng 3,4% so với năm 2021, tăng 8,5% so với năm 2020.
Trang 10phần kinh tế, nhất là khu vực kinh tế tư nhân để trở thành một động lực quan trọng phát triển kinh tế - xã hội
Quan tâm phát triển kinh tế - xã hội vùng cao, vùng đồng bào dân tộc thiểu số gắn với thực hiện hiệu quả Chương trình mục tiêu quốc gia phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi2
(ii) Quan tâm phát triển đồng bộ, toàn diện lĩnh vực văn hóa
-xã hội, thiết thực nâng cao chất lượng cuộc sống và chỉ số hạnh phúc của nhân dân.
Thực hiện linh hoạt, hiệu quả các biện pháp phòng, chống và thích ứng
an toàn với dịch bệnh Covid-19 theo chỉ đạo của Trung ương3 Nâng cao chất lượng công tác bảo vệ và chăm sóc sức khỏe nhân dân; chú trọng củng cố, phát triển hệ thống y tế dự phòng, y tế cơ sở4
Tiếp tục đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo Thực hiện sắp xếp quy mô, mạng lưới trường lớp học tinh gọn, hợp lý5; củng cố hệ thống trường phổ thông dân tộc nội trú, bán trú, kết hợp với đầu tư cơ sở vật chất, trang thiết bị, chăm lo xây dựng đội ngũ nhà giáo, nhất là tại địa bàn vùng cao, vùng đồng bào dân tộc thiểu số Nhờ đó, chất lượng giáo dục
_
1 Kết quả thành lập mới doanh nghiệp, hợp tác xã, tổ hợp tác hằng năm đều vượt cao
so với kế hoạch đề ra.
2 Từ đầu nhiệm kỳ 2020-2025 đến nay đã quan tâm bố trí trên 6.056 tỷ đồng đầu tư cho vùng cao, vùng đồng bào dân tộc thiểu số, tập trung hỗ trợ sản xuất nông, lâm nghiệp, xây dựng kết cấu hạ tầng giao thông, thủy lợi, đầu tư cơ sở vật chất giáo dục, y tế, nước hợp
vệ sinh
3 Năm 2021, Yên Bái luôn duy trì là tỉnh vùng xanh an toàn và là địa phương cuối cùng trong cả nước có ca lây nhiễm trong cộng đồng sau khi Chính phủ đã thay đổi chiến lược sang giai đoạn “Thích ứng an toàn, linh hoạt và kiểm soát hiệu quả dịch bệnh Covid-19”, tạo điều kiện thuận lợi để duy trì, phục hồi và phát triển kinh tế - xã hội.
4 Đến hết năm 2021, toàn tỉnh đã có 147 xã đạt tiêu chí quốc gia về y tế, bằng 85% tổng số xã toàn tỉnh; số bác sĩ trên 1 vạn dân đạt 10,4 bác sĩ, số giường bệnh trên 1 vạn dân đạt 34,4 giường (cao hơn so với bình quân chung của cả nước).
5 Thực hiện Đề án sắp xếp quy mô, mạng lưới trường lớp học bậc giáo dục mầm non
và trung học phổ thông giai đoạn 2016-2020, toàn tỉnh đã sắp xếp giảm 130 trường, 478 điểm trường; tăng 29 lớp, tăng 24.687 học sinh, tăng 11.061 học sinh bán trú; toàn tỉnh đã
có 289 trường đạt chuẩn quốc gia, bằng 65,1% tổng số trường.