Đặc điểm của hành động hỏi và hồi đáp hỏi trong tiếng Việt từ góc độ phân tầng xã hội.Đặc điểm của hành động hỏi và hồi đáp hỏi trong tiếng Việt từ góc độ phân tầng xã hội.Đặc điểm của hành động hỏi và hồi đáp hỏi trong tiếng Việt từ góc độ phân tầng xã hội.Đặc điểm của hành động hỏi và hồi đáp hỏi trong tiếng Việt từ góc độ phân tầng xã hội.Đặc điểm của hành động hỏi và hồi đáp hỏi trong tiếng Việt từ góc độ phân tầng xã hội.Đặc điểm của hành động hỏi và hồi đáp hỏi trong tiếng Việt từ góc độ phân tầng xã hội.Đặc điểm của hành động hỏi và hồi đáp hỏi trong tiếng Việt từ góc độ phân tầng xã hội.Đặc điểm của hành động hỏi và hồi đáp hỏi trong tiếng Việt từ góc độ phân tầng xã hội.Đặc điểm của hành động hỏi và hồi đáp hỏi trong tiếng Việt từ góc độ phân tầng xã hội.Đặc điểm của hành động hỏi và hồi đáp hỏi trong tiếng Việt từ góc độ phân tầng xã hội.BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI BÙI ĐOAN TRANG ĐẶC ĐIỂM CỦA HÀNH ĐỘNG HỎI VÀ HỒI ĐÁP HỎI TRONG TIẾNG VIỆT TỪ GÓC ĐỘ PHÂN TẦNG XÃ HỘI Chuyên ngành Ngôn ngữ h.
Trang 1BÙI ĐOAN TRANG
ĐẶC ĐIỂM CỦA HÀNH ĐỘNG HỎI
VÀ HỒI ĐÁP HỎI TRONG TIẾNG VIỆT
Trang 2Người hướng dẫn khoa học 1: GS.TS Nguyễn Văn Khang Người hướng dẫn khoa học 2: PGS.TS Nguyễn Thị Lương
Phản biện 1: PGS.TS Nguyễn Văn Lộc - Trường Đại học Sư phạm - Đại học Thái Nguyên
Phản biện 2: PGS.TS Phạm Văn Hảo - Viện Từ điển và Bách khoa thư Việt Nam
Phản biện 3: PGS.TS Trần Kim Phượng - Trường Đại học Sư phạm
Hà Nội
Luận án sẽ được bảo vệ trước Hội đồng cấp Trường Đại học Sư phạm
Hà Nội chấm luận án tiến sĩ họp tại
Có thể tìm hiểu luận án tại:
- Thư viện Quốc gia Việt Nam
- Trung tâm Thông tin và Thư viện trường ĐH Sư phạm Hà Nội
Trang 31. Bùi Đoan Trang (2016), Câu hỏi thực hiện hành động biểu cảm trong tiểu thuyết “Đi tìm nhân vật” của Tạ Duy Anh, Tạp chí
Trang 4MỞ ĐẦU
1 Lí do lựa chọn đề tài
1.1 Có thể nói, hỏi là một hành động phổ biến trong giao tiếp của con ngườiđược sử dụng với tần suất cao, gắn với đặc trưng ngôn ngữ - văn hóa của mỗidân tộc, mỗi cộng đồng giao tiếp
1.2 Hỏi và đáp là hai mặt của một quá trình thống nhất, là tiền đề tồn tại củanhau và cả hai cùng hướng đến một đích chung, đó là làm sáng tỏ một thôngtin, một vấn đề chưa biết, chưa được làm rõ Hỏi – trả lời về thực chất chính làmối quan hệ tương hỗ giữa cái chưa biết và cái đã biết và khi tương tác hỏi –đáp được thực hiện thì nhận thức về đối tượng được nâng lên một bước Trongcác nghiên cứu ngôn ngữ, hành động hỏi và hồi đáp hỏi được tiếp cận từ nhiềugóc độ khác nhau như: cấu trúc học, ngữ dụng học, ngôn ngữ học xã hội 1.3 Giao tiếp là quá trình lựa chọn ngôn ngữ của các nhân vật giao tiếp vàquá trình này chịu sự tác động của hàng loạt các nhân ngôn ngữ - xã hội Cácnhân tố như tuổi, giới, nghề nghiệp, thu nhập, địa vị, học vấn là các biến xãhội quan trọng tác động vào hoạt động giao tiếp của con người Hành động hỏi
và hồi đáp hỏi xuất hiện với tần suất lớn trong giao tiếp sẽ không nằm ngoài sựtác động của các yếu tố thuộc phân tầng xã hội trên
Ở Việt Nam hiện nay chưa có một đề tài, luận án nào nghiên cứu chuyên sâu
về hành động hỏi và hồi đáp hỏi gắn với đặc điểm phân tầng xã hội Chính bởi
vậy, chúng tôi lựa chọn vấn đề “Đặc điểm của hành động hỏi và hồi đáp hỏi trong tiếng Việt từ góc độ phân tầng xã hội” làm đề tài nghiên cứu.
2 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
2.1 Mục đích nghiên cứu của luận án
Luận án này nhằm mục đích chỉ ra các đặc điểm về nội dung và hình thức
của hành động hỏi – hồi đáp hỏi dưới sự chi phối của ba nhân tố: tuổi, giới, địa
vị, qua đó thấy được sự chi phối của các nhân tố xã hội đối với giao tiếp, vấn đềlựa chọn ngôn ngữ trong giao tiếp…Kết quả dự kiến đạt được sẽ góp phần vàonghiên cứu Ngữ dụng học tiếng Việt, cụ thể là hành động ngôn ngữ và Ngônngữ học xã hội tiếng Việt, cụ thể là sự phân tầng xã hội trong sử dụng ngônngữ
2.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
Để đạt được mục đích trên, chúng tôi đề ra các nhiệm vụ nghiên cứu sauđây: 1/Tổng quan tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài; 2/Xây dựng cơ sở
lí thuyết cho luận án; 3/Khảo sát, phân loại hành động hỏi và hồi đáp hỏi từ góc
độ phân tầng xã hội; 4/Tìm hiểu sự chi phối của các nhân tố xã hội đối với hànhđộng hỏi và hồi đáp hỏi
3 Đối tượng, phạm vi và tư liệu nghiên cứu
Trang 53.1 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên của luận án là hành động hỏi và hồi đáp hỏi trong giao tiếpbằng tiếng Việt Để có thể tập trung nghiên cứu sâu, luận án này giới hạn:1/Khảo sát hành động hỏi với các chủ đề hỏi và các biểu thức ngôn ngữ thực hiệnhành động hỏi; khảo sát hồi đáp hỏi với các kiểu hồi đáp tích cực và hồi đáptiêu cực 2/ Từ góc độ phân tầng xã hội, luận án chọn ba nhân tố là giới, tuổi vàđịa vị để khảo sát biểu hiện của hành động hỏi và hồi đáp hỏi bởi đây là banhân tố chi phối mạnh nhất tới nội dung và mục đích giao tiếp của người Việt
3.2 Phạm vi nghiên cứu
Phạm vi nghiên cứu: Về hành động hỏi luận án chỉ nghiên cứu hành độnghỏi trực tiếp Về sự chi phối của lí thuyết phân tầng xã hội luận án chỉ nghiêncứu ở ba nhân tố: tuổi, giới, địa vị
3.3 Tư liệu nghiên cứu
Nguồn ngữ liệu của luận án từ: ngữ liệu thực tế; ngữ liệu trong các tác phẩm
văn học; ngữ liệu từ giao tiếp của gameshow Thương vụ bạc tỉ
4 Phương pháp và thủ pháp nghiên cứu
Để thực hiện luận án, chúng tôi sử dụng các phương pháp và thủ pháp sauđây: 1/Phương pháp miêu tả (thủ pháp thống kê và phân loại, thủ pháp phântích thành tố nghĩa); 2/Phương pháp khảo sát; 3/ Phương pháp phân tích diễnngôn
5 Ý nghĩa lí luận và thực tiễn của luận án
5.1 Về mặt lí luận: Kết quả nghiên cứu của luận án góp phần: làm sáng tỏ
thêm các luận điểm đại cương về hành động hỏi và hồi đáp hỏi và mối quan hệgiữa hỏi và đáp trong tiếng Việt; làm rõ sự chi phối của các yếu tố phân tầng xãhội tác động tới hành động ngôn ngữ nói chung và hành động hỏi, hồi đáp hànhđộng hỏi nói riêng; đánh giá, nhìn nhận một cách đầy đủ và chính xác vị trí, vaitrò của hành động hỏi, hồi đáp hành động hỏi trong văn bản cũng như trongthực tế giao tiếp xã hội
5.2 Về mặt thực tiễn: Có thể vận dụng hành động ngôn ngữ này phù hợp với
các hoạt động giao tiếp vốn rất đa dạng của con người nhất là dưới góc độ phântầng xã hội Kết quả nghiên cứu còn có thể dùng làm tài liệu tham khảo choviệc giao tiếp nói chung và việc giảng dạy ngôn ngữ tiếng Việt nói riêng
6 Cấu trúc của luận án
Luận án ngoài phần Mở đầu, Kết luận, Tài liệu tham khảo và Phụ lục,
có cấu trúc 3 chương:
Chương 1 Tổng quan tình hình nghiên cứu và cơ sở lí luận của luận án
Chương 2 Đặc điểm của hành động hỏi xét từ góc độ phân tầng xã hội Chương 3 Đặc điểm của hồi đáp hỏi xét từ góc độ phân tầng xã hội
Trang 6Chương 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ CƠ SỞ LÍ LUẬN 1.1 Tổng quan nghiên cứu hành động hỏi và hồi đáp hỏi trong tiếng Việt
1.1.1 Hành động hỏi và hồi đáp hành động hỏi trong tiếng Việt từ góc độ lí thuyết hành động ngôn ngữ
Hành động ngôn ngữ được coi là xương sống của Ngữ dụng học Hành độnghỏi là một trong những hành động ngôn ngữ có tần suất sử dụng cao Lí thuyết
về hành động ngôn ngữ đề cập đến nhiều vấn đề trong đó có hành động hỏi.Một số sách về ngữ dụng, một số bài viết, chuyên khảo, chuyên đề, luận án,luận văn… đã đề cập đến đối tượng nghiên cứu này từ nhiều phương diện khácnhau như:
Hành động hỏi và hồi đáp hỏi thường được đề cập trong các sách về ngữdụng Có thể kể đến một số công trình tiêu biểu của các tác giả như: Đỗ HữuChâu - Đại cương ngôn ngữ học, tập 2; Nguyễn Thiện Giáp - Dụng học Việtngữ, tập 1; Nguyễn Đức Dân - Ngữ dụng học, tập 1 Trong các công trình vềngữ dụng học, các tác giả đã bàn đến hành động hỏi trong lí thuyết hành độngngôn từ trên các bình diện như: hiệu lực ở lời của hành động hỏi, các điều kiệnthực hiện hiệu lực ở lời của hành động hỏi, sự phân biệt hành động hỏi trực tiếp– gián tiếp Các công trình trên đã cung cấp một cái nhìn khái quát, đa diện chođối tượng được nghiên cứu của luận án
Tiếp đến trong một số chuyên khảo, luận án, luận văn…đã đi sâu nghiên cứuhành động hỏi; mối quan hệ giữa hỏi và trả lời tức là đã quan tâm đi sâu đếnnhững bình diện ngữ nghĩa, ngữ dụng…mà cụ thể là sự tương tác hỏi - đáptrong những ngữ cảnh giao tiếp cụ thể; trong mối quan hệ giao văn hóa của cácngôn ngữ khác nhau
Ngôn ngữ nói chung hay hành động hỏi và hồi đáp hỏi nói riêng sẽ đầy đủhơn nếu đặt nó vào thực tế xã hội, nơi mà ta không chỉ thấy được mối quan hệhai chiều là ngôn ngữ và xã hội mà còn thấy được sự tác động, sự ảnh hưởng,
sự chi phối giữa chúng Để làm rõ mối quan hệ và sự ảnh hưởng này, luận án đisâu xem xét cặp hành động hỏi và hồi đáp hỏi trên bình diện phân tầng xã hội
1.1.2 Hành động hỏi và hồi đáp hỏi trong tiếng Việt từ góc độ lí thuyết phân tầng xã hội
1.1.2.1 Một số công trình nghiên cứu về hành động hỏi và hồi đáp hỏi từ góc độ phân tầng xã hội của các tác giả nước ngoài.
Ở phương Tây từ những năm 60, 70 của thế kỉ 20 đã có một số tác giảnghiên cứu câu hỏi và câu trả lời theo hướng ứng dụng kết quả nghiên cứu củaNgôn ngữ học xã hội Có thể kể đến một số tác giả như: WP Robinson và Susan
J Rackstraw (1967, 1978); Bernstein (1971); WP Robinson (1973); Linnea
Trang 7Rask (2014) Tuy nhiên, các tác giả mới chỉ nghiên cứu câu hỏi và câu trả lời từcấu trúc hình thức, xét theo địa vị xã hội chứ chưa nghiên cứu về hành động hỏi
và hồi đáp hỏi từ góc độ phân tầng xã hội
1.1.2.2 Một số công trình nghiên cứu về hành động hỏi và hồi đáp hỏi từ góc
độ phân tầng xã hội của các tác giả Việt Nam
Ở Việt Nam hiện nay, nghiên cứu hành động ngôn ngữ theo hướng ứng dụngNgôn ngữ học xã hội đang là hướng nghiên cứu được nhiều người quan tâm Với hành động hỏi và hồi đáp hỏi, ở Việt Nam hiện nay có rất ít công trìnhnghiên cứu đề cập đến vấn đề sự phân tầng xã hội trong trong việc sử dụnghành động hỏi và hồi đáp hỏi Điểm xuyết trong một số luận án, luận văn cóbàn đến vấn đề phân tầng xã hội trong việc sử dụng hành động hỏi và hồi đáphỏi trong giao tiếp ở một vài góc độ như: giới, quyền lực, văn hóa
1.2 Cơ sở lí luận của luận án
1.2.1 Hành động ngôn ngữ, hành động hỏi
1.2.1.1 Hành động ngôn ngữ
- Khái niệm hành động ngôn ngữ: Trong luận án này, chúng tôi sử dụng khái
niệm hành động ngôn ngữ theo quan niệm của Đỗ Hữu Châu:“Hành động ngôn ngữ là hành động thực hiện khi tạo ra một phát ngôn (diễn ngôn) trong một cuộc giao tiếp Hành động ngôn ngữ đòi hỏi phải có điều kiện, thao tác, cách thức tổ chức thao tác và quan trọng nhất là đích như mọi hành động khác của con người có ý thức”
- Các hành động ngôn ngữ: Trong “Đại cương ngôn ngữ học” tập 2, dựa
trên kết quả nghiên cứu của J.Austin, Đỗ Hữu Châu đã chỉ ra ba loại hành độngngôn ngữ là: hành động tạo lời, hành động mượn lời, hành động ở lời
- Điều kiện sử dụng hành động ở lời: Đỗ Hữu Châu đã chỉ ra các điều kiện
sử dụng hành động ở lời theo Searle Cụ thể, để sử dụng hành động ở lời cầnphải đảm bảo các điều kiện sau: Điều kiện nội dung mệnh đề; Điều kiện chuẩnbị; Điều kiện tâm lí; Điều kiện căn bản
- Các phương tiện biểu thị hành động ở lời: Mỗi biểu thức ngữ vi được đánh
dấu bằng các dấu hiệu chỉ dẫn mà Searle goi là các phương tiện chỉ dẫn hiệu lực
ở lời (illocutionary force indicating devices – IFIDs Như vậy mỗi biểu thứcngữ vi, theo Đỗ Hữu Châu sẽ được nhận diện bằng các phương tiện sau: cáckiểu kết cấu; những từ ngữ chuyên dùng; ngữ điệu; quan hệ giữa các thành tốtrong cấu trúc vị từ - tham thể; động từ ngữ vi
- Phân loại hành động ở lời: Dựa vào bốn tiêu chí phân loại hành động ở lời
của Searle hành động ở lời được phân chia thành 5 phạm trù lớn gồm: Tái hiện;điều khiển; cam kết; biểu cảm; tuyên bố
- Hành động ở lời trực tiếp và hành động ở lời gián tiếp:
Trang 8+ Hành động ở lời trực tiếp: Hành động ở lời trực tiếp là hành động đượcdùng đúng với đích ở lời, đúng với điều kiện sử dụng chúng.
+ Hành động ở lời gián tiếp: Hiện tượng người nói sử dụng trên bề mặt hànhđộng ở lời này nhưng lại nhằm đạt hiệu quả của một hành động ở lời khác đượcgọi là hiện tượng sử dụng hành động ngôn ngữ theo lối gián tiếp
1.2.1.2 Hành động hỏi
- Điều kiện sử dụng hành động hỏi: Trong “Đại cương ngôn ngữ học” tập 2,
Đỗ Hữu Châu đã trình bày các điều kiện sử dụng hành động hỏi theo Searle nhưsau: 1/Điều kiện nội dung mệnh đề (NDMĐ): Bao gồm tất cả mệnh đề hay hàmmệnh đề; 2/Điều kiện chuẩn bị (ChB): Người hỏi có một điều gì đó mà anh tachưa có được những thông tin đầy đủ về nó; 3/Điều kiện chân thành (CT):Người hỏi tin là mình không biết và mong muốn có được thông tin đó; 4/ Điềukiện căn bản (CB): Người hỏi thực hiện hành động hỏi để cố gắng nhận đượcthông tin, lời đáp cần thiết từ người nghe
- Các phương tiện biểu thị hành động hỏi: Dựa trên lí thuyết hành động
ngôn từ, các phương tiện biểu thị hành động hỏi gồm có: 1/Các kiểu kết cấu hỏi(kết cấu hỏi tổng quát, kết cấu hỏi chuyên biệt, kết cấu hỏi lựa chọn); 2/Các từngữ chuyên dùng trong biểu thức ngữ vi hỏi (các từ ngữ chuyên dùng trongbiểu thức ngữ vi hỏi gồm các đại từ nghi vấn; các phụ từ nghi vấn; quan hệ từ
hay; các tiểu từ tình thái); 3/Ngữ điệu (ngữ điệu đặc thù cho hành động hỏi là
một ngữ điệu cao và sắc dành cho trọng điểm hỏi); 4/Động từ ngữ vi hỏi (động
từ chỉ dẫn hành động được biểu thị trong hành hỏi, đó là động từ “hỏi”- có thể
có hoặc không)
- Phân loại hành động hỏi:
Luận án dựa vào cách phân loại hành động ngôn ngữ trong các sách ngữdụng của Nguyễn Thiện và Đỗ Hữu Châu: 1/Hành động hỏi trực tiếp là hànhđộng sử dụng các cấu trúc hỏi để thực hiện mục đích hỏi; 2/Hành động hỏi giántiếp: Hành động hỏi gián tiếp là sử dụng các hành động ngôn ngữ khác để thựchiện mục đích hỏi
1.2.2 Lí thuyết hội thoại và tương tác hỏi - đáp
1.2.2.1 Lí thuyết hội thoại
- Khái niệm hội thoại: Đã có một số tác giả Việt ngữ học đã bàn về khái
niệm hội thoại Luận án theo quan điểm của Đỗ Hữu Châu: “Hội thoại là hình
thức giao tiếp thường xuyên, phổ biến của ngôn ngữ, và cũng là hình thức cơ
sở của mọi hoạt động ngôn ngữ khác”
- Các đơn vị hội thoại: Hồi đáp hỏi liên quan đến các đơn vị sau: cuộc
thoại, đoạn thoại, cặp thoại, tham thoại và hành động ngôn ngữ
Trang 9- Nguyên tắc công tác hội thoại: Theo Đỗ Hữu Châu, nguyên tắc này được hiểu
là “Hãy làm cho phần đóng góp của anh (vào cuộc hội thoại) mà nó xuất hiện, phù hợp với đích hay phương châm của cuộc thoại mà anh chấp nhận tham gia vào”.
Có bốn phương châm cộng tác hội thoại sau: Phương châm về lượng; Phươngchâm về chất; Phương châm về quan yếu; Phương châm cách thức
1.2.2.2 Hội thoại và vấn đề hồi đáp hỏi
a Đặc điểm của hồi đáp hỏi: Qua sự phân tích về cặp thoại, tham thoại,
lượt lời, sự tương tác của lí thuyết hội thoại, trong mối liên hệ với hồi đáp hỏi
có thể chỉ ra một số đặc điểm của hồi đáp hỏi như :1/Hành động hỏi cũng nhưtất cả các hành động ngôn ngữ khác đều đòi hỏi sự hồi đáp; 2/Cùng với hànhđộng hỏi, hồi đáp hỏi đã tạo nên cặp thoại trong cấu trúc cơ bản của hội thoại:Hỏi – đáp/ hỏi – trả lời; 3/Tham thoại hồi đáp hỏi là lượt lời phản hồi của ngườinghe SP2 sau khi tiếp nhận lượt lời hỏi dẫn nhập từ SP1 và tham thoại này cómột chức năng trong giao tiếp đó là chức năng ở lời hồi đáp; 4/Giữa phát ngônhỏi và phát ngôn hồi đáp có mối quan hệ trực tiếp với nhau; 5/Có những lượtlời hồi đáp nằm ngay sau tham thoại hỏi dẫn nhập, nhưng cũng có những lượtlời hồi đáp nằm cách xa tham thoại hỏi dẫn nhập (sau ba hoặc bốn lượt lời).Điều này góp phần làm cho cuộc thoại thêm phong phú, đa dạng, sinh động
- Phân loại hồi đáp hỏi: Trong luận án này chúng tôi sử dụng cách phân chia
hồi đáp của Đỗ Hữu Châu để phân loại hồi đáp hỏi Theo đó, hồi đáp hỏi đượcchia thành hai loại:1/Hồi đáp hỏi tích cực (là một tham thoại trực tiếp hoặc giáptiếp, tích cực, được ưu tiên phù hợp, làm thỏa mãn đích của người hỏi); 2/Hồiđáp hỏi tiêu cực (là một tham thoại trực tiếp hoặc giáp tiếp tiêu cực, được đánhdấu, không phù hợp, không làm thỏa mãn đích của người hỏi)
1.2.3 Phương ngữ xã hội và vấn đề phân tầng xã hội
1.2.3.1 Khái niệm phương ngữ xã hội
Phương ngữ xã hội là ngôn ngữ của một nhóm người nhất định trong xã hội
có sự tương đồng với nhau về các yếu tố xã hội như: tuổi, giới, địa vị, nghềnghiệp, học vấn, vùng miền, tôn giáo, thu nhập Theo Nguyễn Văn Khang,
(…)“Mỗi một thành viên trong xã hội sẽ được xếp vào các giai tầng xã hội khác nhau trên cơ sở hàng loạt các tiêu chí như: giới tính, tuổi tác, nghề nghiệp, thành phần xuất thân, trình độ văn hóa ( ) Các đặc điểm về giai tầng xã hội có tác động trực tiếp và tạo nên các đặc điểm về ngôn ngữ trong sử dụng” 1.2.3.2 Phân tầng xã hội và vấn đề phân tầng xã hội ở Việt Nam
Ngôn ngữ được coi là một yếu tố có vai trò phân tầng xã hội NguyễnVăn Khang đã chỉ ra ba nhóm các nhân tố từ mạnh đến yếu tác động đếngiao tiếp của người Việt Trong đó có Nhóm 1 là nhóm các nhân tố tác động
Trang 10mạnh nhất đến giao tiếp của người Việt gồm: tuổi, địa vị và giới Luận án chọncác nhân tố thuộc nhóm này làm đối tượng khảo sát cho hành động hỏi và hồiđáp hỏi.
(i) Sự phân tầng về tuổi: Tuổi đóng vai trò là nhân tố quan trọng nhất tácđộng đến giao tiếp của người Việt Trong luận án này, chúng tôi sử dụng kháiniệm “tuổi” với nghĩa “khoảng thời gian đã tồn tại từ khi chào đời cho đến mộtthời điểm xác định nào đó (thường là hiện tại).” Nhân tố tuổi tác động đến giaotiếp tiếng Việt của người Việt chủ yếu ở hai mặt: 1/Ngôn từ tiếng Việt thể hiện
sự phân biệt về tuổi và 2/Phong cách ngôn ngữ của mỗi lứa tuổi người Việt
(ii) Sự phân tầng về giới: Giới (giới tính) là đặc điểm có sẵn được phân chia
thành nam giới và nữ giới Trong luận án này, chúng tôi chia sẻ cách hiểu “Giớitính” là khái niệm chỉ các đặc điểm sinh học của nam, nữ; “Giới” là khái niệmchỉ đặc điểm, vị trí, vai trò của nam và nữ trong tất cả các mối quan hệ xã hội.Nhân tố giới tác động đến giao tiếp tiếng Việt của người Việt ở ba nội dung chủyếu sau: 1/ Ngôn ngữ nói về mỗi giới; 2/ Phong cách ngôn ngữ của mỗi giới và3/ Ngôn ngữ kì thị giới (chủ yếu là phản ánh kì thị nữ giới)
(iii) Sự phân tầng về địa vị xã hội: Trong luận án này, chúng tôi sử dụngkhái niệm “địa vị” mang nghĩa khái quát “Vị trí, chỗ đứng thích hợp với vai trò,nghĩa vụ, trách nhiệm và quyền lợi.” Nhân tố địa vị tác động mạnh thứ hai đếngiao tiếp tiếng Việt của người Việt Nhân tố địa vị tác động đến giao tiếp tiếngviệt chủ yếu ở hai mặt: 1/ Ngôn ngữ nói về mức độ quyền lực trong xã hội và 2/Phong cách ngôn ngữ của người có quyền lực
1.2.4 Phân tầng xã hội và vấn đề sử dụng ngôn ngữ
Theo Nguyễn Văn Khang, các tầng lớp xã hội khác nhau sẽ có kiểu giao tiếpkhác nhau tương ứng với giai tầng của mình, theo đó, con người thuộc các tầnglớp xã hội khác nhau sẽ có cách sử dụng ngôn ngữ khác nhau Với cách phânchia này, có thể thấy giao tiếp của con người chịu tác động của các nhân tố xãhội như tuổi, giới, quyền lực, nghề nghiệp, học vấn, thu nhập, vùng miền, tôngiáo, v.v rõ rệt
Xét trên trục tọa độ không gian và thời gian thì ngôn ngữ biến đổi theo cáchtiệm biến, theo chiều hướng thích nghi và tác nhân làm cho nó biến đổi là người
sử dụng ngôn ngữ
Có thể thấy rằng, nhân tố xã hội tác động lên giao tiếp ngôn ngữ là rất phongphú, đa dạng Trên cơ sở của lí thuyết của ngôn ngữ học xã hội về phương ngữ,vấn đề phân tầng xã hội ở Việt Nam, sự phân tầng xã hội trong sử dụng ngônngữ (mối quan hệ giữa ngôn ngữ và các yếu tố xã hội tuổi, giới, địa vị) giúpluận án tập trung nghiên cứu một cách toàn diện và hệ thống yếu tố tuổi, giới,địa vị trong hành động hỏi và hồi đáp hỏi của tiếng Việt.
Trang 11Tiểu kết chương 1
Trong chương 1, chúng tôi đã tiến hành tổng quan các công trình nghiên cứu
về hành động hỏi và hồi đáp hỏi trên 2 nội dung chính: 1/Hành động hỏi và hồiđáp hỏi trong tiếng Việt từ lí thuyết hành động ngôn từ; 2/Hành động hỏi và hồiđáp hỏi trong tiếng Việt từ lí thuyết phân tầng xã hội Bên cạnh đó để thực hiệnmục đích đặt ra, luận án đã xây dựng một cơ sở lí thuyết liên quan chặt chẽ đến
đề tài như: Lí thuyết về hành động ngôn ngữ, lí thuyết về hành động hỏi và hồi đáphỏi; lí thuyết hội thoại; lí thuyết về phương ngữ xã hội và vấn đề phân tầng xã hộitrong sử dụng ngôn ngữ Các lí thuyết trên đây chính là cơ sở để chúng tôi triểnkhai đề tài trong chương 2 và chương 3 của luận án
Chương 2 ĐẶC ĐIỂM CỦA HÀNH ĐỘNG HỎI XÉT TỪ GÓC ĐỘ PHÂN TẦNG XÃ HỘI 2.1 Dẫn nhập
2.2 Các chủ đề xuất hiện trong hành động hỏi từ góc độ phân tầng xã hội
2.2.1 Các chủ đề xuất hiện trong hành động hỏi
Qua 1106 phát ngôn mà luận án thống kê được, có thể quy chủ đề xuất hiệntrong hành động hỏi từ góc độ phân tầng xã hội thành 7 nhóm với tỉ lệ khácnhau: 1) Chủ đề công việc (23%); 2) Chủ đề gia đình (19%); 3) Chủ đề tìnhcảm (20%); 4) Chủ đề bạn bè (10%); 5) Chủ đề học tập (11%); 6) Chủ đề sởthích (8); 7) Các chủ đề khác (9%) Sự phân ra thành 7 nhóm chủ đề trên cũngchỉ là tương đối, vì thực tế giữa chúng có sự giao nhau do có mối liên quan trựctiếp đến nhau
2.2.2 Chủ đề xuất hiện trong hành động hỏi từ góc độ tuổi
- Công việc, gia đình và tình cảm là ba nhóm chủ đề được các độ tuổi quan tâm
nhiều nhất: chủ đề công việc: 250/1106 (23%); chủ đề gia đình :221/1106 (20%); chủ
đề tình cảm : 197/1106 (19%)
- Ba nhóm tuổi quan tâm hơn cả đến các chủ đề trong cuộc sống (thông qua sự
xuất hiện của các chủ đề trong hành động hỏi) là độ tuổi thanh niên, trung niên, thiếuniên với số liệu lần lượt là: 340/1106 (30%); 260/1106 (24%); 246/1106 (22%)
- Mức độ quan tâm của con người đến các chủ đề trong cuộc sống có xu hướng
tăng nhanh dần (tăng 20%) từ khi còn nhỏ đến tuổi trưởng thành và giảm dần (giảm16%) khi đến độ tuổi trung niên và cao tuổi
2.2.3 Chủ đề xuất hiện trong hành động hỏi từ góc độ giới
- Cũng giống như nhân tố tuổi, chủ đề xuất hiện nhiều nhất trong hành
động hỏi từ góc độ giới là các nhóm chủ đề: công việc (250/1106 PN); giađình (221/1106 PN) và tình cảm (207/1106 PN) chiếm 61%tổng số chủ đềxuất hiện trong hành động hỏi từ góc độ giới
Trang 12- Về tổng thể, nữ giới có xu hướng quan tâm đến các chủ đề trong cuộc sốngcao hơn nam giới (nữ giới chiếm 55%, nam giới chiếm 45%) Nữ giới đặc biệtquan tâm đến chủ đề gia đình (55%) và tình cảm (58%) Nam giới lại quan tâmnhiều hơn cả đến chủ đề công việc (57%).
2.2.4 Chủ đề xuất hiện trong hành động hỏi từ góc độ địa vị
- Chủ đề xuất hiện nhiều nhất trong hành động hỏi từ góc độ địa vị là các
nhóm chủ đề: công việc, gia đình và tình cảm với các số liệu lần lượt nhưsau: 220/894PN;191/894PN; 163/894 PN
- Tần suất xuất hiện các chủ đề trong hành động hỏi có sự khác biệt giữa cácvai giao tiếp Trong đó, chủ đề xuất hiện trong hành động hỏi giữa những ngườingang vai là lớn nhất chiếm 40% với 351/865 PN
- Mức độ quan tân đến các nhóm chủ đề có sự khác nhau giữa các vai giaotiếp
2.3 Biểu thức hỏi trong tiếng Việt từ góc độ phân tầng xã hội
2.3.1 Các biểu thức hỏi thường gặp trong tiếng Việt từ góc độ phân tầng xã hội
Có 3 nhóm biểu thức hỏi , mỗi nhóm lại gồm các BTH nhỏ Đó là: 1/BTH tổng
quát, gồm: (1) có V không? (2) đã V chưa?; (3) kết cấu trần thuật + không/có phảikhông/đúng không? (4) kết cấu trần thuật + tiểu từ tình thái.? 2/BTH chuyên biệt gồm:(1) hỏi về địa điểm, vị trí; (2) hỏi về trạng thái, cách thức; (3) hỏi về lí do, nguyên nhân;(4) hỏi về thời g ian; (5) hỏi về đồi tượng, chủ thể; (6) hỏi về kết quả, mục đích; ( 7) hỏi
về số lượng; 3/BTH lựa chọn gồm: (1) A hay/hay là B?; (2) A1 và A2, A nào?
Trong tổng số 1106 phát ngôn có chứa biểu thức hỏi thì nhóm biểu thức hỏi
chuyên biệt chiểm tỉ lệ cao nhất 59% (654 PN); nhóm biểu thức hỏi tổng quát là 34%(377 PN) thứ hai và thấp nhất là nhóm biểu thức hỏi lựa chọn là 7% (75 PN)
2.3.2 Biểu thức hỏi trong tiếng Việt từ góc độ tuổi
2.3.2.1 Biểu thức hỏi tổng quát trong tiếng Việt từ góc độ tuổi
- Biểu thức hỏi (1) có V không? có số lượng lớn nhất (129 PN); tiếp đến làbiểu thức (4) kết cấu trần thuật + tiểu từ tình thái? có số lượng lớn thứ hai (110PN); biểu thức (2) – đã V chưa? có số lượng lớn thứ ba (68 PN) và (3) kết cấutrần thuật + không/ có phải không? có số lượng thấp hơn cả (68PN)
- Về việc sử dụng biểu thức hỏi tổng quát ở các độ tuổi có gắn với chủ
đề giao tiếp thì: Độ tuổi trung niên sử dụng nhiểu nhất biểu thức hỏi tổngquát, sau đó đến độ tuổi thanh niên, người cao tuổi, thiếu niên, nhi đôngvới các số liệu lần lượt là: 123-91-89-46-28/37PN
2.3.2.2 Biểu thức hỏi chuyên biệt trong tiếng Việt từ góc độ tuổi
- Ba biểu thức được sử dụng nhiều nhất trong HĐH chuyên biệt từ góc độtuổi đó là: Biểu thức (5) với 198 PN, đối tượng; biểu thức (2) với 136 PN; biểuthức (3) với 96 PN
Trang 13- Khi sử dụng BTH chuyên biệt thì trẻ em ít sử dụng các biểu thức hỏi vềthời gian; kết quả mục đích mà hỏi nhiều về chủ thể, đối tượng (trẻ em có100/198 PN hỏi về chủ thể, đối tượng) cho các chủ đề bạn bè, học tập, sở thích.Trong khi đó người lớn lại sử dụng nhiều BTH chuyên biệt để hỏi về trạng thái,cách thức; lí do; mục đích nhiều hơn cả cho các chủ đề công việc, gia đình, tìnhcảm (người lớn có 93/136 PN hỏi về trạng thái, cách thức; 63/96 PN hỏi về lí
do, nguyên nhân; 28/38 PN hỏi về mục đích, kết quả)
2.3.2.3 Biểu thức hỏi lựa chọn trong tiếng Việt từ góc độ tuổi
- So với hai nhóm biểu thức hỏi tổng quát và biểu thức hỏi chuyên biệt,nhóm biểu thức hỏi lựa chọn có số lượng ít hơn cả (chiếm 7%) Hai biểu thức
thường gặp thuộc nhóm này là: (1) A hay/hay là B? và (2) A1 và A2, A nào?
Trong hai biểu thức trên thì dạng biểu thức (1) được tất cả các độ tuổi sử dụngcao hơn (52 PN chiếm 69%) còn biểu thức (2) được sử dụng ít hơn (23 PN,chiếm 21%)
- Biểu thức hỏi lựa chọn cũng được người lớn sử dụng nhiều hơn trẻ em với52/75 PN
2.3.3 Biểu thức hỏi trong tiếng Việt từ góc độ giới
2.3.3.1 Biểu thức hỏi tổng quát trong tiếng Việt từ góc độ giới
- Biểu thức hỏi tổng quát được cả nam giới và nữ giới sử dụng nhiều tronggiao tiếp Dạng biểu thức (1) được sử dụng nhiều nhất với 131 PN, 35%; biểuthức (4) với 114 PN, 30%; biểu thức (2) với 73PN, 19% xuất hiện trong tất cảcác chủ đề
- Các biểu thức (1); (4) được nữ giới sử dụng nhiều hơn nam giới lần lượt là:
10 và 25PN Trong khi đó, nam giới có xu hướng sử dụng biểu thức (2) và (3)nhiều hơn nữ giới lần lượt là: 12 và 5 PN
- Việc sử dụng các biểu thức hỏi tổng quát ở hai giới gắn với chủ đề giao
tiếp có một số điểm sau: Nam giới sử dụng nhiều BTH (1) với 18PN và (4) với
16PN; biểu thức (3) cho chủ đề tình cảm (13PN); biểu thức (1),(2),(4) cho cácchủ đề bạn bè, học tập, sở thích và các chủ đề khác Nữ giới có thói quen sử
dụng biểu thức (1), (4), (2) cho chủ để công việc, gia đình, tình cảm
2.3.3.2 Biểu thức hỏi chuyên biệt từ góc độ giới
- Mức độ sử dụng biểu thức hỏi chuyên biệt ở nữ giới (54%) cao hơn namgiới 8% (nam giới là (46%)) Có 188/653 PN sử dụng biểu thức (5) (nữ giới có
106 PN, 54%; nam giới có 82PN, 46%) Có 137/653PN sử dụng biểu thức (3)(nữ giới là 81/137 PN, 59%, nam giới là 56/137 PN, 41%) Các biểu thức (1),(4), (6), (7) được sử dụng với mức độ thấp hơn và không có nhiều sự khác biệtgiữa hai giới
Trang 14- Cả nam giới và nữ giới đều ưa sử dụng các biểu thức (5), (2), (3) cho chủ
đề công việc, gia đình, tình cảm
2.3.3.3 Biểu thức hỏi lựa chọn trong tiếng Việt từ góc độ giới
- Nữ giới có thói quen sử dụng BTH lựa chọn cao hơn nam giới Trong tổng
số 73 PN chứa BTH lựa chọn mà luận án thu thập được có 45 PN là của nữgiới, chiếm tỉ lệ 61%, còn nam giới là 28 PN, chiếm tỉ lệ là 39%
- Các chủ đề giao tiếp gắn với BTH lựa chọn, xét theo giới: BTH lựa chọnđược nam giới sử dụng nhiều nhất là trong nhóm chủ đề về sở thích gồm 7 PN.BTH lựa chọn được nữ giới sử dụng nhiều nhất là trong nhóm chủ đề về tìnhcảm gồm 8 PN
2.3.4 Biểu thức hỏi trong tiếng Việt từ góc độ địa vị
2.3.4.1 Biểu thức hỏi tổng quát trong tiếng Việt từ góc độ địa vị
Từ góc độ địa vị, vai giao tiếp trên - dưới sử dụng nhiều nhất hai BTH (1) và(4) với số lượng 42 và 27PN trong các chủ đề công việc, gia đình, tình cảm Vaigiao tiếp dưới – trên sử dụng nhiều BTH (1); (4); (2) cho các chủ đề công việc,gia đình, tình cảm, bạn bè, học tập với số lượng lần lượt là 25-25-17PN Vaigiao tiếp ngang vai cũng sử dụng nhiều BTH (1); (4); (2) cho các chủ đề côngviệc, gia đình, tình cảm, bạn bè, học tập, các chủ đề khác với số lượng lần lượt
là 48-39-19PN
2.3.4.2 Biểu thức hỏi chuyên biệt trong tiếng Việt từ góc độ địa vị
Biểu thức (2); (5); (3) được vai giao tiếp trên - dưới sử dụng nhiều nhất với
số lượng là 37-36-28 PN cho các chủ đề gia đình, tình cảm Các nhân vật giaotiếp ngang vai sử dụng nhiều nhất là biểu thức(5); (2); (3) với số lượng lần lượt
là 72-47-37PN Giữa những người ngang vai, khi trao đổi về các chủ đề côngviệc, tình cảm có xu hướng sử dụng nhiều biểu thức hỏi chuyên biệt hơn cả.Giữa vai giao tiếp dưới – trên cũng sử dụng nhiều nhất các BTH (5); (2); (3)với số lương là 36-33-24PN
2.3.4.3 Biểu thức hỏi lựa chọn trong tiếng Việt từ góc độ địa vị
- Biểu thức hỏi lựa chọn là dạng biểu thức được sử dụng ít hơn cả trong tổng
số các biểu thức hỏi, xét theo địa vị Có 71/856 PN hỏi , chiếm 8% trên tổng sốbiểu thức hỏi thuộc biến xã hội này Cụ thể: Biểu thức hỏi lựa chọn theo chủ đềcủa vai giao tiếp trên – dưới là 20 PN, ngang vai là 30 PN, dưới – trên là 21 PN
- Trong 2 cấu trúc biểu thức hỏi lựa chọn, thì biểu thức (1) được cả ba nhómvai giao tiếp sử dụng nhiều hơn biểu thức (2) Tổng số phát ngôn hỏi sử dụngbiểu thức hỏi lựa chọn (1) là 48/71 PN, chiếm 68% phát ngôn hỏi lựa chọn;biểu thức (2) là 23/71 PN, chiếm 32%
- Biểu thức hỏi lựa chọn được cả ba vai giao tiếp sử dụng nhiều trong cácchủ đề công việc, gia đình, tình cảm