Đặc điểm của hành động hỏi và hồi đáp hỏi trong tiếng Việt từ góc độ phân tầng xã hội.Đặc điểm của hành động hỏi và hồi đáp hỏi trong tiếng Việt từ góc độ phân tầng xã hội.Đặc điểm của hành động hỏi và hồi đáp hỏi trong tiếng Việt từ góc độ phân tầng xã hội.Đặc điểm của hành động hỏi và hồi đáp hỏi trong tiếng Việt từ góc độ phân tầng xã hội.Đặc điểm của hành động hỏi và hồi đáp hỏi trong tiếng Việt từ góc độ phân tầng xã hội.Đặc điểm của hành động hỏi và hồi đáp hỏi trong tiếng Việt từ góc độ phân tầng xã hội.Đặc điểm của hành động hỏi và hồi đáp hỏi trong tiếng Việt từ góc độ phân tầng xã hội.Đặc điểm của hành động hỏi và hồi đáp hỏi trong tiếng Việt từ góc độ phân tầng xã hội.Đặc điểm của hành động hỏi và hồi đáp hỏi trong tiếng Việt từ góc độ phân tầng xã hội.Đặc điểm của hành động hỏi và hồi đáp hỏi trong tiếng Việt từ góc độ phân tầng xã hội.Đặc điểm của hành động hỏi và hồi đáp hỏi trong tiếng Việt từ góc độ phân tầng xã hội.
Trang 1BÙI ĐOAN TRANG
ĐẶC ĐIỂM CỦA HÀNH ĐỘNG HỎI VÀ HỒI ĐÁP HỎI TRONG TIẾNG VIỆT TỪ GÓC ĐỘ PHÂN TẦNG XÃ HỘI
LUẬN ÁN TIẾN SĨ NGÔN NGỮ
Hà Nội - 2023
Trang 2BÙI ĐOAN TRANG
ĐẶC ĐIỂM CỦA HÀNH ĐỘNG HỎI VÀ HỒI ĐÁP HỎI TRONG TIẾNG VIỆT TỪ GÓC ĐỘ PHÂN TẦNG XÃ HỘI
Chuyên ngành: Ngôn ngữ học
Mã số: 9 22 90 20
LUẬN ÁN TIẾN SĨ NGÔN NGỮ
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
1 GS.TS Nguyễn Văn Khang
2 PGS.TS Nguyễn Thị Lương
Trang 3Hà Nội - 2023
Trang 4LỜI CAM ĐOAN
Đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Những tư liệu và số liệu trong luận án là trung thực do tôi thực hiện Đề tài nghiên cứu và các kết luận chưa được ai công bố.
Tác giả luận án
Bùi Đoan Trang
Trang 5MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
1 Lí do lựa chọn đề tài 1
2 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu 2
3 Đối tượng, phạm vi và tư liệu nghiên cứu 2
4 Phương pháp và thủ pháp nghiên cứu 3
6 Ý nghĩa lí luận và thực tiễn của luận án 4
7 Bố cục của luận án 5
Chương 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ CƠ SỞ LÍ LUẬN 6
1.1 Tổng quan nghiên cứu hành động hỏi và hồi đáp hỏi trong tiếng Việt 6
1.1.1 Hành động hỏi và hồi đáp hành động hỏi trong tiếng Việt từ góc độ lí thuyết hành động ngôn ngữ 6
1.1.2 Hành động hỏi và hồi đáp hỏi trong tiếng Việt từ góc độ lí thuyết phân tầng xã hội 9
1.2 Cơ sở lí luận của luận án 14
1.2.1 Hành động ngôn ngữ, hành động hỏi 14
1.2.2 Lí thuyết hội thoại và tương tác hỏi - đáp 24
1.2.3 Phương ngữ xã hội và vấn đề phân tầng xã hội 30
1.2.4 Phân tầng xã hội và vấn đề sử dụng ngôn ngữ 35
Tiểu kết chương 1 37
Chương 2 ĐẶC ĐIỂM CỦA HÀNH ĐỘNG HỎI XÉT TỪ GÓC ĐỘ PHÂN TẦNG XÃ HỘI 39
2.1 Dẫn nhập 39
2.2 Các chủ đề xuất hiện trong hành động hỏi từ góc độ phân tầng xã hội 39
2.2.1 Các chủ đề xuất hiện trong hành động hỏi 39
2.2.2 Chủ đề xuất hiện trong hành động hỏi từ góc độ tuổi 41
2.2.3 Chủ đề xuất hiện trong hành động hỏi từ góc độ giới 46
2.2.4 Chủ đề xuất hiện trong hành động hỏi từ góc độ địa vị 47
2.3 Biểu thức hỏi trong tiếng Việt từ góc độ phân tầng xã hội 52
2.3.1 Các biểu thức hỏi thường gặp trong tiếng Việt từ góc độ phân tầng xã hội 52
2.3.2 Biểu thức hỏi trong tiếng Việt từ góc độ tuổi 55
2.3.3 Biểu thức hỏi trong tiếng Việt từ góc độ giới 62
Trang 62.3.4 Biểu thức hỏi trong tiếng Việt từ góc độ địa vị 69
2.4 Sự chi phối của phân tầng xã hội đối với hành động hỏi trong tiếng Việt 76
2.4.1 Sự chi phối của nhân tố tuổi đối với hành động hỏi trong tiếng Việt 76
2.4.2 Sự chi phối của nhân tố giới đối với hành động hỏi trong tiếng Việt 77
2.4.3 Sự chi phối của nhân tố địa vị đối với hành động hỏi trong tiếng Việt 80
Tiểu kết chương 2 84
Chương 3 ĐẶC ĐIỂM CỦA HỒI ĐÁP HỎI XÉT TỪ GÓC ĐỘ PHÂN TẦNG XÃ HỘI 86
3.1 Dẫn nhập 86
3.2 Các kiểu hồi đáp cho hành động hỏi trong tiếng Việt 86
3.2.1 Hồi đáp tích cực 87
3.2.2 Hồi đáp tiêu cực 88
3.3 Các kiểu hồi đáp hỏi trong tiếng Việt từ góc độ tuổi 89
3.3.1 Hồi đáp tích cực cho hành động hỏi trong tiếng Việt từ góc độ tuổi 90
3.3.2 Hồi đáp tiêu cực cho HĐH trong tiếng Việt từ góc độ tuổi 98
3.3.3 Nhận xét về đặc điểm của hồi đáp hỏi trong tiếng Việt từ góc độ tuổi 103
3.4 Các kiểu hồi đáp hỏi trong tiếng Việt từ góc độ giới 104
3.4.1 Hồi đáp tích cực cho HĐH trong tiếng Việt từ góc độ giới 105
3.4.2 Hồi đáp tiêu cực cho HĐH trong tiếng Việt từ góc độ giới 111
3.4.3 Nhận xét về đặc điểm của hồi đáp hỏi trong tiếng Việt từ góc độ giới 117
3.5 Các kiểu hồi đáp hỏi trong tiếng Việt từ góc độ địa vị 118
3.5.1 Hồi đáp tích cực cho HĐH trong tiếng Việt từ góc độ địa vị 119
3.5.2 Hồi đáp tiêu cực cho HĐH trong tiếng Việt từ góc độ địa vị 124
3.5.3 Nhận xét về đặc điểm của hồi đáp hỏi trong tiếng Việt từ góc độ địa vị 129
3.6 Sự chi phối của PTXH đối với hồi đáp hỏi trong tiếng Việt 130
3.6.1 Sự chi phối của nhân tố tuổi đối với hồi đáp hỏi trong tiếng Việt 130
3.6.2 Sự chi phối của nhân tố giới đối với hồi đáp hỏi trong tiếng Việt 134
3.6.3 Sự chi phối của nhân tố địa vị đối với hồi đáp hỏi trong tiếng Việt 137
Tiểu kết chương 3 140
KẾT LUẬN 142
DANH MỤC CÁC CÔNG TRÌNH ĐÃ CÔNG BỐ LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI LUẬN ÁN 146
Trang 7DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 147
Trang 8DANH MỤC BẢNG
Bảng 2.1 Bảng tổng hợp số lượng chủ đề xuất hiện trong hành động hỏi .41
Bảng 2.2 Chủ đề xuất hiện trong hành động hỏi từ góc độ giới 46
Bảng 2.3 Bảng tổng hợp số lượng chủ đề xuất hiện trong hành động hỏi từ góc độ địa vị 48
Bảng 2.4 Biểu thức hỏi tổng quát trong tiếng Việt từ góc độ tuổi 55
Bảng 2.5 Biểu thức hỏi chuyên biệt trong tiếng Việt từ góc độ tuổi 58
Bảng 2.6 Biểu thức hỏi lựa chọn từ góc độ tuổi 61
Bảng 3.1 Hồi đáp tích cực cho hành động hỏi trong tiếng Việt từ góc độ tuổi 91
Bảng 3.2 Hồi đáp tiêu cực cho HĐH trong tiếng Việt từ góc độ tuổi 99
Bảng 3.3 Hồi đáp tích cực cho HĐH trong tiếng Việt từ góc độ giới 106
Bảng 3.4 Hồi đáp tiêu cực cho HĐH trong tiếng Việt từ góc độ giới 112
Bảng 3.5 Hồi đáp tích cực cho HĐH trong tiếng Việt từ góc độ địa vị 119
Bảng 3.6 Hồi đáp tiêu cực cho HĐH trong tiếng Việt từ góc độ địa vị 124
Trang 9DANH MỤC BIỂU ĐỒ
Biểu đồ 2.1 Các chủ đề xuất hiện trong hành động hỏi 40
Biểu đồ 2.2 Tỉ lệ các nhóm biểu thức hỏi thường gặp trong tiếng Việt từ góc độ phân tầng xã hội 54
Biểu đồ 2.3a Biểu thức hỏi tổng quát theo chủ đề hỏi của nam giới 62
Biểu đồ 2.3b Biểu thức hỏi tổng quát theo chủ đề hỏi của nữ giới 62
Biểu đồ 2.4a Biểu thức hỏi chuyên biệt theo chủ đề hỏi của nam giới 65
Biểu đồ 2.4b Biểu thức hỏi chuyên biệt theo chủ đề hỏi của nữ giới 65
Biểu đồ 2.5a Biểu thức hỏi lựa chọn theo chủ đề hỏi của nam giới 68
Biểu đồ 2.5b Biểu thức hỏi lựa chọn theo chủ đề hỏi của nữ giới 68
Biểu đồ 2.6 Biểu thức hỏi tổng quát theo chủ đề vai giao tiếp trên - dưới 69
Biểu đồ 2.7 Biểu thức hỏi tổng quát theo chủ đề vai giao tiếp ngang vai 71
Biểu đồ 2.8 Biểu thức hỏi tổng quát theo chủ đề vai giao tiếp dưới – trên 71
Biểu đồ 2.9 Biểu thức hỏi chuyên biệt theo chủ đề vai giao tiếp trên – dưới 72
Biểu đồ 2.10 Biểu thức hỏi chuyên biệt theo chủ đề vai giao tiếp ngang vai 73
Biểu đồ 2.11 Biểu thức hỏi chuyên biệt theo chủ đề vai giao tiếp dưới – trên 74
Biểu đồ 2.12a Biểu thức hỏi lựa chọn theo chủ đề thuộc vai trên – vai dưới 75
Biểu đồ 2.12b Biểu thức hỏi lựa chọn theo chủ đề thuộc ngang vai 75
Biểu đồ 2.12c Biểu thức hỏi lựa chọn theo chủ đề thuộc vai dưới – vai trên 75
Biểu đồ 3.1 Biểu đồ hồi đáp tích cực và hồi đáp tiêu cực trong tiếng Việt từ góc độ tuổi 90
Biểu đồ 3.2 Biểu đồ hồi đáp tích cực và hồi đáp tiêu cực trong tiếng Việt từ góc độ giới 105
Biểu đồ 3.3 Biểu đồ tổng hợp số lượng các kiểu hồi đáp hỏi trong tiếng Việt từ góc độ địa vị 118
Trang 10Câu trả lời trực tiếpCâu trả lời gián tiếp
Trang 111.2 Nói đến hỏi là nghĩ ngay đến hồi đáp Vì thế, hỏi và đáp là hai mặt của mộtquá trình thống nhất, là tiền đề tồn tại của nhau và cả hai cùng hướng đến một đíchchung, đó là làm sáng tỏ một thông tin, một vấn đề chưa biết, chưa được làm rõ Trongquá trình giao tiếp, người hỏi không biết, không rõ thông tin thì sẽ thực hiện hànhđộng hỏi nhằm bổ sung điều mình cần tìm kiếm; còn người được hỏi là người cungcấp thông tin, bổ sung cái thiếu hụt cho người hỏi Hỏi – trả lời về thực chất chính làmối quan hệ tương hỗ giữa cái chưa biết và cái đã biết và khi tương tác hỏi – đáp đượcthực hiện thì nhận thức về đối tượng được nâng lên một bước
Trong các nghiên cứu ngôn ngữ, hành động hỏi và hồi đáp hỏi được tiếp cận từnhiều góc độ khác nhau Từ góc độ ngữ nghĩa, hỏi trong tiếng Việt được xem xét từcác đơn vị ngôn ngữ tạo nên hành động hỏi như chủ thể hỏi, đối tượng được hỏi, nộidung hỏi, từ dùng để hỏi Từ góc độ ngữ dụng học, hỏi được tiếp cận từ với lí thuyếthành động ngôn ngữ (speech acts), trong đó hành động ở lời được quan tâm và hiệulực ở lời được xem xét trong các ngữ cảnh giao tiếp khác nhau Từ góc độ ngôn ngữhọc xã hội, hành động hỏi và hồi đáp hỏi được nghiên cứu theo quan hệ tương tác giaotiếp có sự phân tầng về xã hội Theo hướng này, hỏi và hồi đáp hỏi được xem xét dướitác động của các biến xã hội như: tuổi, giới, nghề nghiệp, thu nhập, địa vị, học vấn của người hỏi và người được hỏi
1.3 Giao tiếp là quá trình lựa chọn ngôn ngữ của các nhân vật giao tiếp và quátrình này chịu sự tác động của hàng loạt các nhân tố ngôn ngữ - xã hội Các nhân tốnhư tuổi, giới, nghề nghiệp, thu nhập, địa vị, học vấn là các biến xã hội quan trọngtác động vào hoạt động giao tiếp của con người Theo đó, ngôn ngữ chính là sự phảnchiếu trung thực xã hội, sự biến đổi xã hội cũng như bản sắc, văn hóa của cá nhân vàcộng đồng Vì vậy, khi có sự phân chia con người trong xã hội thành các tầng bậc khácnhau thì kéo theo đó cũng có những đặc trưng trong cách sử dụng ngôn ngữ giữa các
Trang 12nhóm người thuộc các tầng lớp xã hội khác nhau và cách thức giao tiếp cũng mangmàu sắc khác nhau Hành động hỏi và hồi đáp hỏixuất hiện với tần suất lớn trong giaotiếp sẽ không nằm ngoài sự tác động của các nhân tố thuộc phân tầng xã hội.
Ở Việt Nam, đã có những nghiên cứu về câu hỏi, hành động hỏi, nhưng hànhđộng hỏi gắn với đặc điểm phân tầng của các vai giao tiếp lại chưa có một đề tài, luận
án nào nghiên cứu chuyên sâu Chính bởi vậy, chúng tôi lựa chọn vấn đề “Đặc điểm của hành động hỏi và hồi đáp hỏi trong tiếng Việt từ góc độ phân tầng xã hội” làm
đề tài nghiên cứu
2 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
2.1 Mục đích nghiên cứu
Luận án này nhằm mục đích chỉ ra các đặc điểm về nội dung và hình thức củahành động hỏi – hồi đáp hỏi dưới sự chi phối của ba nhân tố: tuổi, giới, địa vị, qua đóthấy được sự chi phối của các nhân tố xã hội đối với giao tiếp, vấn đề lựa chọn ngônngữ trong giao tiếp…Kết quả dự kiến đạt được sẽ góp phần vào nghiên cứu Ngữ dụnghọc tiếng Việt, cụ thể là hành động ngôn ngữ và Ngôn ngữ học xã hội tiếng Việt, cụthể là sự phân tầng xã hội trong sử dụng ngôn ngữ
2.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
Để đạt được mục đích trên, chúng tôi đề ra các nhiệm vụ nghiên cứu sau đây:
- Tổng quan tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài
- Xây dựng cơ sở lí thuyết cho luận án
- Khảo sát, phân loại hành động hỏi và hồi đáp hỏi từ góc độ phân tầng xã hội
- Tìm hiểu sự chi phối của các nhân tố xã hội đối với hành động hỏi và hồi đáp hỏi
3 Đối tượng, phạm vi và tư liệu nghiên cứu
3.1 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên của luận án là hành động hỏi và hồi đáp hỏi trong giao tiếpbằng tiếng Việt dưới sự chi phối của các nhân tố xã hội là giới, tuổi và địa vị Cụ thểluận án chỉ nghiên cứu hành động hỏi trực tiếp
Để có thể tập trung nghiên cứu sâu, luận án này giới hạn:
- Khảo sát hành động hỏi với các chủ đề hỏi và các biểu thức ngôn ngữ thực hiệnhành động hỏi; khảo sát hồi đáp hỏi với các kiểu hồi đáp tích cực và hồi đáp tiêu cực
- Từ góc độ phân tầng xã hội, luận án chọn ba nhân tố là giới, tuổi và địa vị đểkhảo sát biểu hiện của hành động hỏi và hồi đáp hỏi bởi đây là ba nhân tố chi phối
Trang 13mạnh nhất tới nội dung và mục đích giao tiếp của người Việt
3.2 Phạm vi nghiên cứu
- Về hành động hỏi luận án chỉ nghiên cứu hành động hỏi trực tiếp
- Về sự chi phối của lí thuyết phân tầng xã hội luận án chỉ nghiên cứu ở banhân tố: tuổi, giới, địa vị
3.3 Tư liệu nghiên cứu
Để thực hiện luận án này, chúng tôi khai thác ba nguồn ngữ liệu là ngữ liệuthực tế; ngữ liệu trong game show truyền hình và ngữ liệu từ trong các tác phẩm vănhọc Tuy nhiên, việc thu thập ngữ liệu thực tế gặp nhiều khó khăn bởi dịch covid kéodài từ cuối năm 2020 cho đến khi hoàn thành luận án Vì số ngữ liệu thực tế chúng tôithu thập không được nhiều, không đủ cho việc thực hiện luận án nên chúng tôi kết hợploại ngữ liệu thứ hai, đó là nguồn ngữ liệu từ giao tiếp của các gameshow truyền hình
và từ các tác phẩm văn học Ngữ liệu ghi âm thu được chuyển thành văn bản word đểtiện cho xử lí ngữ liệu
Để “bù đắp” cho tư liệu khảo sát từ thực tế, luận án khai thác nguồn tư liệu của
gameshow truyền hình thực tế, đó là chương trình Thương vụ bạc tỉ Đây là một
gameshow thu hút sự quan tâm của nhiều khán giả Mặc dù có thể có hạn chế nhấtđịnh nhưng đây là cuộc trao đổi trực tiếp, chất vấn, tranh biện qua lại, mặt đối mặtgiữa những người tham gia nên cũng thể hiện được tính sống động của ngôn ngữ tronggiao tiếp Với ngữ liệu từ truyền hình kiểu này, chúng tôi cũng có những cách xử líphù hợp Các nhân vật tham gia chương trình, chúng tôi khai thác các thông tin nhưtuổi tác, giới tính, nghề nghiệp và địa vị xã hội mà ít vi phạm tính riêng tư Các diễnngôn tương tác – sản phẩm sau mỗi cuộc chơi cũng được chúng tôi ghi ra thành vănbản word để dễ dàng khai thác
Với những ngữ liệu được trích từ tác phẩm văn học chúng tôi lập hồ sơ thôngtin cá nhân của các nhân vật theo ba đại lượng trên Chúng tôi chỉ xem xét ngôn ngữcủa những nhân vật có thông tin cụ thể và các thông tin này được chúng tôi khai thác
xử lí để phục vụ cho luận án
4 Phương pháp và thủ pháp nghiên cứu
Để thực hiện luận án, chúng tôi sử dụng các phương pháp và thủ pháp sau đây:
1) Phương pháp miêu tả là phương pháp chính được chúng tôi sử dụng trong
luận án này nhằm miêu tả đặc điểm của các hành động hỏi và hồi đáp hỏi Phương
Trang 14pháp này bao gồm các thủ pháp sau được sử dụng:
- Thủ pháp thống kê và phân loại: Thủ pháp thống kê và phân loại được chúngtôi sử dụng khi nghiên cứu phát ngôn hỏi và hồi đáp hỏi trong giao tiếp tiếng Việt.Chúng tôi tiến hành thống kê các phát ngôn này trong một số truyện ngắn, tiểu thuyết,
từ thực tế và từ gameshow truyền hình Sau khi thống kê phát ngôn hỏi và hồi đáp hỏi,chúng tôi tiến hành phân loại các phát ngôn này thành các tiểu nhóm khác nhau nhằmphục vụ mục đích nghiên cứu của luận án
- Thủ pháp phân tích thành tố nghĩa: Các thành tố nghĩa của phát ngôn hỏi vàhồi đáp hỏi cũng được chúng tôi nghiên cứu nhằm chỉ ra các ý nghĩa khác nhau củatừng loại phát ngôn hỏi và hồi đáp hỏi trong từng tình huống giao tiếp
2) Phương pháp khảo sát: Phương pháp này có mục đích thu thập các phát
ngôn hỏi và hồi đáp hỏi trong các văn bản, trong các video chương trình truyền hình,trong thực tế Phương pháp này cung cấp những tư liệu cho việc thực hiện luận án Cụthể là, chúng tôi ghi âm những cuộc thoại ngẫu nhiên tại một số công ty, trường họccủa những đối tượng với những trình độ khác nhau, tuổi tác khác nhau, giới tính khácnhau… để tìm ra những cặp tương tác hỏi - đáp phù hợp Chúng tôi còn thống kênhững cặp hỏi - đáp trong các tác phẩm văn học của những nhân vật và những cặp hỏi
- đáp trong game show truyền hình Những nhân tố xã hội của các nhân vật này đượcchúng tôi xây dựng theo những tiêu chí là tuổi tác, giới tính, nghề nghiệp…
3) Phương pháp phân tích diễn ngôn: Phân tích các cuộc hội thoại đặt trong các
mối quan hệ với ngữ cảnh và các yếu tố xã hội (giới, tuổi, quyền lực) tác động đếnviệc sử dụng hành động hỏi và hồi đáp hỏi trong tiếng Việt
6 Ý nghĩa lí luận và thực tiễn của luận án
- Các kết quả nghiên cứu của luận án còn giúp thấy được vai trò của hành độnghỏi, hồi đáp hành động hỏi trong văn bản cũng như trong thực tế giao tiếp xã hội
- Kết quả nghiên cứu của luận án góp phần chứng minh tính đúng đắn của các lí
Trang 15Chương 1 Tổng quan tình hình nghiên cứu và cơ sở lí luận
Chương 2 Đặc điểm của hành động hỏi xét từ góc độ phân tầng xã hội
Chương 3 Đặc điểm của hồi đáp hỏi xéttừ góc độ phân tầng xã hội
Trang 16Chương 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ CƠ SỞ LÍ LUẬN
1.1 Tổng quan nghiên cứu hành động hỏi và hồi đáp hỏi trong tiếng Việt
Luận án tổng thuật lịch sử nghiên cứu hành động hỏi và hồi đáp hỏi từ các côngtrình sách, tạp chí, chuyên đề, chuyên khảo, luận án, luận văn …của các tác giả theohai góc độ:
- Hành động hỏi và hồi đáp hành động hỏi trong tiếng Việt từ góc độ lí thuyếthành động ngôn ngữ
- Hành động hỏi và hồi đáp hành động hỏi trong tiếng Việt từ góc độ lí thuyếtphân tầng xã hội
1.1.1 Hành động hỏi và hồi đáp hành động hỏi trong tiếng Việt từ góc độ lí thuyết hành động ngôn ngữ
Hành động ngôn ngữ được coi là xương sống của ngữ dụng học Hành động hỏi
là một trong những hành động ngôn ngữ có tần suất sử dụng cao Lí thuyết về hànhđộng ngôn ngữ đề cập đến nhiều vấn đề trong đó có hành động hỏi Một số sách vềngữ dụng, một số bài viết, chuyên khảo, chuyên đề, luận án, luận văn… đã đề cập đếnđối tượng nghiên cứu này
Hành động hỏi và hồi đáp hỏi thường được đề cập trong các sách về ngữ dụng
Có thể kể đến một số công trình tiêu biểu của các tác giả như: Đỗ Hữu Châu - Đại cương ngôn ngữ học, tập 2; Nguyễn Thiện Giáp - Dụng học Việt ngữ, tập 1; Nguyễn Đức Dân - Ngữ dụng học, tập 1.
Trong Đại cương ngôn ngữ học, tập 2 [12], khi trình bày về lí thuyết hành động ngôn ngữ, hành động hỏi được Đỗ Hữu Châu nói đến khi trình bày nội dung Hai thành phần ngữ nghĩa của phát ngôn Theo ông, ngữ nghĩa của tất cả các phát ngôn là sự
tổng hợp của hai thành phần nghĩa là hiệu lực ở lời và nội dung mệnh đề Với hầu hếtphát ngôn hỏi thành phần nội dung mệnh đề thường chứa một hàm mệnh đề chứ khôngphải chỉ chứa một mệnh đề Trường hợp phát ngôn hỏi chỉ chứa một mệnh đề là cácphát ngôn hỏi mà người đáp chỉ có thể đưa ra một lựa chọn trả lời là có/không Bên
cạnh đó, trong nội dung Điều kiện sử dụng hành vi ở lời, tác giả cũng đã trình bày bốn
điều kiện sử dụng hành động ở lời của hành động hỏi theo 4 tiêu chí phân loại củaSearle gồm: điều kiện nội dung mệnh đề, điều kiện chuẩn bị, điều kiện chân thành,điều kiện căn bản Đây chính là cơ sở để nhận diện hành động hỏi có được thực hiện
Trang 17đúng với đích ở lời hỏi hay không.
Trong Dụng học Việt ngữ, tập 1 [24], ở chương 3 - Lí thuyết hành động ngôn
từ, phần hành động ngôn từ trực tiếp và hành động ngôn từ gián tiếp, Nguyễn ThiệnGiáp đã liệt kê các cấu trúc hỏi và phân tích mối quan hệ giữa một cấu trúc và mộtchức năng Khi nào có quan hệ trực tiếp giữa một cấu trúc và một chức năng thì chúng
ta có một hành động ngôn từ trực tiếp Khi nào có quan hệ gián tiếp giữa một cấu trúc
và một chức năng thì chúng ta có một hành động ngôn từ gián tiếp Như vậy, cũnggiống như Đỗ Hữu Châu, Nguyễn Thiện Giáp cũng đã xác định cách để nhận diệnhành động ngôn ngữ nói chung và hành động hỏi nói riêng khi nào được dùng theo lốitrực tiếp, khi nào được dùng theo lối gián tiếp
Trong Ngữ dụng học, tập 1 [17], Nguyễn Đức Dân đã chỉ ra những dấu hiệu
ngữ vi của hành động ngôn ngữ nói chung và hành động hỏi nói riêng Đó là mục đíchnói không phải lúc nào cũng được thực hiện bằng động từ ngữ vi của chính nó Bêncạnh những động từ ngữ vi thực hiện hành động tại lời (hành động ở lời theo cách gọicủa Đỗ Hữu Châu) thì còn có những dấu hiệu ngữ vi khác để nhận diện hành động tại
lời: “Chẳng hạn, chúng ta có một loạt cấu trúc khác nhau để thể hiện hành vi tại lời hỏi Đó là: “có-P không?”, “P à?”, “P-ấy à?”, “P-phải không?” Và những câu hỏi
về thời gian, không gian, nguyên nhân, cách thức, số lượng…dùng tới các từ phiếm chỉ đặc thù: bao giờ, khi nào, ở đâu, vì sao, bao nhiêu, cách nào…” [17; tr.49] Cũnggiống như Đỗ Hữu Châu và Nguyễn Thiện Giáp, Nguyễn Đức Dân đã chỉ ra một sốđặc điểm của hành động ngôn ngữ gián tiếp, đó là, hành động hỏi có thể được sử dụng
để thực hiện một hành động ngôn ngữ gián tiếp khác như là đề nghị, thông báo…đồngthời hành động đề nghi, thông báo cũng có thể được sử dụng để thực hiện gián tiếphành động hỏi
Như vậy ở một số sách về ngữ dụng học đã bàn đến hành động hỏi trong líthuyết hành động ngôn từ trên các bình diện như: hiệu lực ở lời của hành động hỏi, cácđiều kiện thực hiện hiệu lực ở lời của hành động hỏi, sự phân biệt hành động hỏi trựctiếp – gián tiếp Các công trình trên đã cung cấp một cái nhìn khái quát, đa diện chođối tượng được nghiên cứu của luận án
Nếu như những công trình trên đã tiếp cận hành động hỏi và hồi đáp hỏi mộtcách tổng quát với các vấn đề lí thuyết cơ bản thì những chuyên khảo, luận án, luậnvăn dưới đây đã đi sâu nghiên cứu hành động hỏi; mối quan hệ giữa hỏi và trả lời tức
Trang 18là đã quan tâm đi sâu đến những bình diện ngữ nghĩa, ngữ dụng…mà cụ thể là sự
tương tác hỏi – đáp trong những ngữ cảnh giao tiếp cụ thể; trong mối quan hệ giao vănhóa của các ngôn ngữ khác nhau Có thể điểm qua kết quả nghiên cứu ở những luận án
của một số tác giả tiêu biểu như: Luận án Câu nghi vấn tiếng Việt, một số kiểu câu nghi vấn thường không dùng để hỏi của Nguyễn Thị Thìn (1994) [81]; luận án Một số tiểu từ tình thái dứt câu dùng để hỏi với việc biểu thị các hành vi ngôn ngữ của Nguyễn Thị Lương (1995) [57]; luận án Ngữ nghĩa - ngữ dụng câu hỏi chính danh của
Lê Đông (1996) [22]; luận án Ngữ nghĩa, ngữ dụng của câu hỏi tu từ tiếng Việt của Lê Thị Thu Hoài (2013) [85]; chuyên khảo Câu trả lời gián tiếp có nghĩa hàm ẩn cho câu hỏi chính danh của Lê Anh Xuân (1999) [94]; chuyên khảo Hành động ngôn từ gián tiếp và sự tri nhận của Đặng Thị Hảo Tâm (2008) [73]…
Trong những công trình này, các tác giả đã chỉ ra đặc điểm ngữ nghĩa, ngữ dụngcủa câu hỏi chính danh, câu hỏi tu từ; phân loại câu hỏi chính danh và các thông tin bổtrợ thường gặp; khẳng định phản ứng trả lời là đặc trưng của hành động hỏi; một sốkiểu cấu trúc của câu nghi vấn không dùng để hỏi; nghĩa của câu hỏi thông qua cáctiểu từ tình thái nghi vấn cuối câu; một số hành động ngôn từ gián tiếp được thực hiệnbằng hành động hỏi; các đặc điểm của câu trả lời hàm ẩn cho câu hỏi chính danh Những kết quả nghiên cứu này đã góp phần cung cấp cái nhìn rõ ràng, đầy đủ hơn vềhành động hỏi trong tiếng Việt
Đi sâu nghiên cứu hành động hỏi từ những phạm vi giao tiếp cụ thể, có thể kể
đến các công trình sau: Luận án Phát ngôn chứa hành động hỏi trong giao tiếp mua bán bằng tiếng Việt của Mai Thị Kiều Phượng (2007) [65]; Hành động ngôn ngữ qua câu hỏi tu từ trong thơ Chế Lan Viên và thơ Tố Hữu của Phạm Thị Như Hoa (2015) [38]; Cặp thoại hỏi – trả lời, cầu khiến – hồi đáp trong kịch Lưu Quang Vũ của Đàm Thị Ngọc Hà (2017) [30]; Câu hỏi trong hội thoại dạy học của Nguyễn Thị Hồng
Ngân (2010) [64] …Việc xem xét hành động hỏi từ lí thuyết dụng học trong từng cảnhhuống sử dụng khác nhau như trong giao tiếp mua bán, trong ngôn ngữ phỏng vấntruyền h́ình, giao tiếp sư phạm hoặc việc sử dụng hành động hỏi trong các tác phẩmvăn học nghệ thuật của các tác giả cụ thể đã làm phong phú thêm những đặc trưng củahành động hỏi cũng như vai trò của hành động hỏi trong thực tiễn giao tiếp
Từ góc độ so sánh, đối chiếu, hành động hỏi và hồi đáp hỏi cũng được nhiều
công trình đi sâu nghiên cứu Có thể kể đến một số luận án như: Hành động hỏi (trên
Trang 19tư liệu tiếng Hàn và tiếng Việt) của Hoàng Thị Yến (2014) [91]; Hành động hỏi trong ngôn ngữ phỏng vấn trên các kênh của VTV, có so sánh với kênh TV5 của Pháp của Trần Phúc Trung (2011) [89]; Thành phần rào đón ở hành vi hỏi và hồi đáp trong tiếng Anh (đối chiếu với tiếng Việt) của Trần Thị Phương Thu (2015) [86] Những luận
án này đã phân tích và chỉ ra những đặc điểm về cấu tạo, chức năng, phương thức sửdụng từ của hành động hỏi và thành phần kèm theo (hành vi rào đón) Các luận áncũng đã chỉ ra được một số nét tương đồng và khác biệt trong cách sử dụng hành vi hỏinói chung và thành phần rào đón nói riêng chẳng hạn như những tương đồng và khácbiệt về văn hóa trong cách sử dụng ngôn ngữ giữa các quốc gia khác nhau
Có thể thấy, tiếp nối những thành công của trường phái cấu trúc luận, nhữngnghiên cứu của giai đoạn hậu cấu trúc luận trong đó có Ngữ dụng học, đã làm chohành động hỏi không bị “đóng khung” trong những mô hình mà nó sống động hơn, đadiện hơn khi được đặt trong thế tương tác Hỏi – trả lời, đó là hai mặt của một sự thốngnhất Từ đây, hồi đáp hỏi mới được đi sâu nghiên cứu trong mối quan hệ với hỏi Tuynhiên, ngôn ngữ nói chung hay hành động hỏi và hồi đáp hỏi nói riêng sẽ đầy đủ hơnnếu đặt nó vào thực tế xã hội, nơi mà ta không chỉ thấy được mối quan hệ hai chiều làngôn ngữ và xã hội mà còn thấy được sự tác động, sự ảnh hưởng, sự chi phối giữachúng Để làm rõ mối quan hệ và sự ảnh hưởng này, luận án đi sâu xem xét cặp hànhđộng hỏi và hồi đáp hỏi trên bình diện phân tầng xã hội
1.1.2 Hành động hỏi và hồi đáp hỏi trong tiếng Việt từ góc độ lí thuyết phân tầng xã hội
Ngôn ngữ học xã hội ra đời xuất phát từ thuộc tính xã hội của ngôn ngữ để lígiải các hiện tượng cũng như diễn biến của ngôn ngữ, có thể xuất phát từ biến thể ngônngữ và diễn biến của biến thể ngôn ngữ để lí giải các hiện tượng xã hội cũng như diễnbiến của xã hội có liên quan Trên thế giới, đây là một hướng nghiên cứu rất mạnh vàđạt được nhiều thành tựu Có thể kể đến sự thành công của ngôn ngữ học xã hội ởphương Tây khi nghiên cứu mối quan hệ giữa ngôn ngữ và giới Ở Việt Nam hiện nay,hướng nghiên cứu này cũng đã được nhiều tác giả quan tâm Riêng với hành động hỏi
và hồi đáp hỏi, theo khả năng bao quát tài liệu của chúng tôi thì chưa có công trình nào
đi sâu về vấn đề này Tuy nhiên trong một số luận án, luận văn, bài viết… cũng đã
“chạm” đến đối tượng nghiên cứu này Dưới đây luận án sẽ tổng thuật một số côngtrình nghiên cứu về hành động hỏi và hồi đáp hỏi từ lí thuyết phân tầng xã hội của một
Trang 20số tác giả trên thế giới và ở Việt Nam.
1.1.2.1 Một số công trình nghiên cứu của các tác giả nước ngoài
Ở phương Tây từ những năm 60, 70 của thế kỉ 20 đã có một số tác giả nghiêncứu câu hỏi và câu trả lời theo hướng ứng dụng kết quả nghiên cứu của Ngôn ngữ học
xã hội Tuy nhiên, các tác giả mới chỉ nghiên cứu câu hỏi và câu trả lời từ cấu trúchình thức, xét theo địa vị xã hội chứ chưa nghiên cứu về hành động hỏi và hồi đáp hỏi
từ các biến xã hội khác nhau Có thể kể đến nghiên cứu của hai tác giả WP Robinson
và Susan J Rackstraw (1967, 1978); WP Robinson (1973)
Trong một số nghiên cứu của mình, xét theo góc độ địa vị xã hội, hai tác giả
WP Robinson và Susan J Rackstraw đã chỉ ra sự khác biệt trong cách đặt câu hỏi vàcách trả lời của tầng lớp trung lưu và tầng lớp lao động nước Anh
Các nghiên cứu vào năm 1967 [118; tr.88-106] và năm 1973 [120; tr.73-92] đãchỉ ra sự khác biệt trong cách trả lời của các bà mẹ thuộc hai tầng lớp trung lưu và tầnglớp lao động ở nước Anh Trước những câu hỏi của những đứa trẻ ở độ tuổi nhỏ (5 -7tuổi), khi đưa ra câu trả lời, so với các bà mẹ thuộc tầng lớp lao động, các bà mẹ thuộctầng lớp trung lưu thường đưa ra câu trả lời chính xác và nhiều thông tin hơn; câu trảlời được trình bày bằng một cấu trúc logic, dễ hiểu và sự liên kết về mặt ngữ nghĩagiữa các sự vật, hiện tượng phù hợp hơn
Không dừng lại ở đó, nghiên cứu có tên: Social class diffrences in posing questions for answers (Sự khác biệt về tầng lớp xã hội trong việc đặt câu hỏi cho câu
trả lời) của WP Robinson và Susan J Rackstraw (1978) [121; tr.265-280] tiếp tục chỉ
ra sự khác biệt trong việc sử dụng câu hỏi của những đứa trẻ thuộc hai tầng lớp xã hội
kể trên Dựa trên cơ sở từ nghiên cứu sự khác biệt trong việc sử dụng ngôn ngữ củacác tầng lớp xã hội khác nhau của Bernstein (1971) [101] (Bernstein đã phân chia việc
sử dụng ngôn ngữ thành hai loại: quy tắc sử dụng hạn chế và quy tắc sử dụng chi tiết.Ông nhận thấy, tầng lớp trung lưu trong xã hội Anh đương thời tuân theo nguyên tắchạn chế và quy thức trong khi tầng lớp lao động đặc biệt là lớp lao động cấp thấp lạitheo quy chế sử dụng chi tiết) Trên khung tham chiếu này, WP Robinson và Susan J.Rackstraw đã xây dựng hai nhiệm vụ yêu cầu một nhóm trẻ em thuộc hai trường tiểuhọc Giáo hội ở hai quận khác biệt thuộc một thị trấn miền nam nước Anh thực hiện:
- Nhiệm vụ thứ nhất, trẻ em được yêu cầu viết ra các câu hỏi dựa trên câu trả lờiđược cung cấp
Trang 21- Nhiệm vụ thứ hai, nhóm nghiên cứu đặt ra các vấn đề và yêu cầu trẻ em suynghĩ để đưa ra các câu hỏi phù hợp.
Kết quả, trong cả hai nhiệm vụ các trẻ em nam thuộc tầng lớp lao động đưa racác câu hỏi nhanh hơn so với trẻ em thuộc tầng lớp trung lưu Với trẻ em gái thuộc haitầng lớp này không có sự cách biệt đáng kể Tuy nhiên, sự khác biệt về mặt xã hội đượcthể hiện rõ trong chất lượng câu hỏi giữa trẻ em thuộc hai nhóm trên: Trẻ thuộc tầng lớptrung lưu có khả năng sử dụng các cấu trúc câu nâng cao và phức tạp hơn trẻ thuộc tầnglớp lao động; trẻ em thuộc tầng lớp trung lưu có khả năng tạo ra sự phù hợp cao về mặt
từ vựng, ngữ nghĩa giữa câu hỏi và câu trả lời hơn trẻ em thuộc lớp lao động
Như vậy, việc sử dụng hành động hỏi và trả lời trong thực tế phần nào phản ánhkhách quan sự phân tầng xã hội trong việc sử dụng ngôn ngữ Những người thuộc cáctầng lớp xã hội khác nhau (địa vị, nghề nghiệp, tuổi tác, học vấn…) có cách sử dụngngôn ngữ trong giao tiếp có những điểm khác nhau
Thứ hai, tại Thụy Điển, Linnea Rask - Đại học Halmstad trong bài viết có tên: Gender differences in answering questions in a News Interview (2014) [117; tr.1-29].
Tác giả đã sử dụng ngữ liệu từ 13 cuộc phỏng vấn trong chương trình The AndrewMarr Show của kênh truyền hình BBC One - Anh được phát sóng vào các năm 2013,
2014 Trong đó có 6 cuộc phỏng vấn với nam giới và 7 cuộc phỏng vấn với nữ giới.Dựa trên nền lí thuyết về hội thoại, ngôn ngữ và giới tính, sau khi quan sát và phântích, tác giả đã chỉ ra sự khác biệt trong việc hồi đáp câu trả lời của nam và nữ nhưsau:
- Câu trả lời của phụ nữ thường có độ dài lớn hơn câu trả lời của nam giới:Trong nghiên cứu của mình Linnea Rask đã thống kê được, câu trả lời của phụ nữchiếm 68% tổng số thời thời gian phỏng vấn trong khi nam giới là 59%
- Tổng thời gian phỏng vấn mà chương trình dành cho nam giới cao hơn nữgiới Giữa người nam và nữ có vị trí cao trong xã hội thì chương trình dành nhiều thờigian hơn hẳn để phỏng vấn người nam hơn người nữ Nghiên cứu nhận định: yếu tốquyền lực từ nam giới chi phối mạnh hơn nữ giới khi giao tiếp
- Phụ nữ có xu hướng sử dụng nhiều các hình thức ngôn ngữ để thể hiện sựkhông chắc chắn hoặc làm giảm tác động của lời nói hơn nam giới trong khi đưa ra câutrả lời
- Phụ nữ quan tâm nhiều hơn đến lịch sự khi đưa ra câu trả lời nói riêng và khi
Trang 22đàm thoại nói chung.
Nghiên cứu này đã bước đầu chỉ ra sự khác biệt về lứa tuổi, về giới trong việc
sử dụng câu hỏi và câu trả lời Có thể coi đây là những đường hướng để những côngtrình tiếp theo tiếp tục đi sâu khai thác những đặc điểm ngôn ngữ từ góc độ phân tầng
xã hội
1.1.2.2 Một số công trình nghiên cứu của các tác giả Việt Nam.
Ở Việt Nam hiện nay, nghiên cứu hành động ngôn ngữ theo hướng ứng dụngNgôn ngữ học xã hội đang là hướng nghiên cứu được một số công trình, bài viết, luận
án, luận văn quan tâm
Phân tích các hành động ngôn ngữ từ góc độ phân tầng xã hội của các tác giả
Việt Nam đã có một số công trình như: Chuyên khảo Ứng xử ngôn ngữ trong giao tiếp gia đình người Việt [44] do Nguyễn Văn Khang chủ biên (1996); Luận án Đặc điểm ngôn ngữ giới trong giao tiếp tiếng Việt qua hành vi khen và cách tiếp nhận lời khen
[29] của Phạm Thị Hà (2013)
Trong bài viết Nghi thức lời nói trong giao tiếp gia đình người Việt [44; tr 136],
Nguyễn Văn Khang đã khẳng định rằng, các thành viên trong gia đình trong các mốiquan hệ như vợ - chồng, con cái – cha mẹ, anh/chị - em khi chào, cảm ơn, xinlỗi ngoài yếu tố huyết thống còn chịu ảnh hưởng mạnh mẽ của các nhân tố xã hộiđặc biệt là giới tính và tuổi tác Đi sâu vào sự ảnh hưởng của nhân tố giới tính tronggiao tiếp, trong bài viết “ Sự bộc lộ giới tính trong giao tiếp ngôn ngữ gia đình người
Việt”, tác giả cũng chỉ ra rằng: “So với giao tiếp ngôn ngữ ngoài xã hội thì vấn đề giới tính được bộc lộ trong giao tiếp gia đình khá rõ” [44; tr 184] và có ngôn ngữ chỉ dùng
cho giới này mà không dùng cho giới kia và ngược lại Và ngôn ngữ được mỗi giới sửdụng có những cách diễn đạt khác nhau cho dù nói về cùng một vấn đề
Luận án Đặc điểm ngôn ngữ giới trong giao tiếp tiếng Việt qua hành vi khen và cách tiếp nhận lời khen của Phạm Thị Hà (2013) [29], tác giả đã xác định nhân tố giới
là một trong những nhân tố xã hội mạnh tác động vào hành vi khen trong giao tiếp ởcác nội dung như: mục đích khen, chủ đề khen, cách khen, việc giải thích hành vi khencũng như việc tiếp nhận lời khen Từ đó tác giả chỉ ra được sự giống và khác nhau ởhai giới khi sử dụng hành vi khen và hồi đáp khen trong thực tế giao tiếp Như vậy, cóthể thấy rằng, nghiên cứu hành động ngôn ngữ từ góc độ phân tầng xã hội là mộthướng nghiên cứu rộng mở hứa hẹn nhiều khám phá thú vị
Trang 23Với hành động hỏi và hồi đáp hỏi, ở Việt Nam hiện nay có rất ít công trìnhnghiên cứu đề cập đến vấn đề sự phân tầng xã hội trong trong việc sử dụng hành độnghỏi và hồi đáp hỏi Điểm xuyết trong một số luận án, luận văn có bàn đến vấn đề phântầng xã hội trong việc sử dụng hành động hỏi và hồi đáp hỏi trong giao tiếp ở một vàigóc độ như: giới, quyền lực, văn hóa Có thể kể đến các luận án, luận văn như: Luận
án Phát ngôn chứa hành động hỏi trong giao tiếp mua bán bằng tiếng Việt, Mai Thị Kiều Phượng (2007) [68]; luận án Các phương tiện ngôn ngữ biểu thị quyền lực trong ngôn ngữ hành chính tiếng Việt của Lương Thị Hiền (2014) [37]; luận văn Yếu tố giới trong phát ngôn hỏi và hồi đáp hỏi qua một số tác phẩm của Vũ Trọng Phụng của
Hoàng Việt Anh (2015) [1]
Trong luận án Phát ngôn chứa hành động hỏi trong giao tiếp mua bán bằng tiếng Việt, Mai Thị Kiều Phượng đã giải quyết vấn đề từ xưng hô và cách xưng hô của
phát ngôn chứa hành động hỏi trong giao tiếp mua bán Tác giả nhấn mạnh từ xưng hô
và cách xưng hô có quan hệ chặt chẽ tới cấu trúc lựa chọn của phát ngôn chứa hànhđộng hỏi trong mua bán Cụ thể ở các nhân tố: Việc lựa chọn vai giao tiếp trong quan
hệ cá nhân và quan hệ xã hội; việc lựa chọn vai giao tiếp sao cho phù hợp với mốiquan hệ với người đối thoại; việc lựa chọn vai giao tiếp sao cho phù hợp với ngữ cảnh
và việc lựa chọn vai giao tiếp sao cho phù hợp với hàng loạt các yếu tố gắn với ngữcảnh như: thứ bậc, tuổi tác, địa vị, động cơ, nghề nghiệp, tính chất, chức năng…, lựachọn theo tôn ti, gia tộc; lựa chọn theo theo quyền uy hay vị thế; lựa chọn vai và xácđịnh theo liên kết Như vậy có thể khẳng định yếu tố phân tầng xã hội có tác động rấtlớn tới việc lựa chọn từ xưng hô cũng như cách xưng hô trong một phát ngôn chứahành động hỏi
Trong luận án Các phương tiện ngôn ngữ biểu thị quyền lực trong ngôn ngữ hành chính tiếng Việt Lương Thị Hiền, tác giả cũng đã tìm hiểu yếu tố quyền lực qua
hành động ngôn từ hỏi và yêu cầu của hội đồng xét xử (Trong xét hỏi của Tòa án) Từ
đó chỉ ra một số điểm chung thể hiện qua hai loại hành động ngôn từ này là sự thể hiệnquyền lực của Hội đồng xét xử Hội đồng xét xử thường lựa chọn cấu trúc phát ngôn
và các thành phần trong cấu trúc phát ngôn để thực hiện hành động hỏi và yêu cầumột cách chủ động buộc người được hỏi hoặc yêu cầu phải thực hiện theo Điều đócho thấy rõ nét sự bất bình đẳng giữa hội hồi xét xử và người bị xét xử Các hành độngđược Hội đồng xét xử sử dụng thể hiện quyền điều khiển, dẫn dắt và áp đặt hành vi với
Trang 24đối tượng bị xét xử Trong đó, nhân tố quyền lực qua hành động ngôn từ hỏi và yêucầu biểu hiện ở tính trực tiếp và tính đơn chiều trong các phát ngôn của Hội đồng xét
xử với nhiều mức độ khác nhau Tác giả chỉ ra rằng , trong phần xét hỏi, Hội đồng xét
xử sử dụng tần suất cao hành động hỏi và yêu cầu đã cho thấy đặc điểm riêng của hoạtđộng tố tụng hình sự ở Việt Nam Tòa án nắm giữ quyền lực lớn, có chức năng điềukhiển và giữ trật tự tại phiên tòa và phần nào Tòa đã tham dự vào chức năng buộc tội -vốn là chức năng của cơ quan điều tra và công tố
Trong luận văn Yếu tố giới trong phát ngôn hỏi và hồi đáp hỏi qua một số tác phẩm của Vũ Trọng Phụng của Hoàng Việt Anh (2015), tác giả đã nghiên cứu yếu tố
giới trong các phát ngôn hỏi trực tiếp, gián tiếp và hồi đáp qua một số tác phẩm của
Vũ Trọng Phụng Nghiên cứu nhận định: Khi sử dụng phát ngôn hỏi trong giao tiếpvới mỗi giới khác nhau là không giống nhau Nam hỏi nhiều hơn nữ, tỉ lệ hỏi trực tiếptrong phát ngôn hỏi của nam nhiều hơn tỉ lệ hỏi trực tiếp của nữ trong phát ngôn hỏicủa nữ Tức là khi hỏi, nam chọn cách hỏi trực tiếp, hỏi thẳng, không vòng vo nhiềunhư nữ Điều này phù hợp với bản tính thẳng thắn, có sao nói vậy của nam giới.Ngược lại, so với nam giới, nữ lại chọn cách hỏi gián tiếp nhiều hơn Điều này cũngrất đúng với tính cách của người phụ nữ, vốn ưa cách nói tế nhị, kín đáo nói chung
Nhìn chung, công trình nghiên cứu của nhiều nhà nghiên cứu trong và ngoàinước trong một thời gian dài về hành động hỏi và hồi đáp hỏi ở các góc độ của líthuyết hội thoại, của ngôn ngữ học xã hội đã đạt được những thành tựu đáng kể Trongluận án này, chúng tôi xem những thành tựu đó như những tiền đề quan trọng, làm cơ
sở để khảo sát đặc điểm của hành động hỏi và hồi đáp hỏi từ góc độ phân tầng xã hội
1.2 Cơ sở lí luận của luận án
Luận án chọn các lí thuyết sau làm cơ sở lí luận cho luận án: Hành động ngônngữ, hành động hỏi; Hội thoại và tương tác hỏi - đáp; Phương ngữ xã hội và vấn đềphân tầng xã hội trong sử dụng ngôn ngữ Ở mỗi lí thuyết luận án chỉ giới thiệu nhữngvấn đề cơ bản có liên quan đến đối tượng của luận án
1.2.1 Hành động ngôn ngữ, hành động hỏi
1.2.1.1 Hành động ngôn ngữ
a Khái niệm hành động ngôn ngữ
Về thuật ngữ hành động ngôn ngữ: Thuật ngữ “Speech act ” được dịch là: hành
vi ngôn ngữ, hành động ngôn từ, hành động ngôn ngữ, hành động nói Đó là hành
Trang 25động được thực hiện bằng phương tiện ngôn ngữ Luận án không đi sâu phân tích nộihàm của từng thuật ngữ mà chỉ chọn thuật ngữ “hành động ngôn ngữ”.
Trong Dụng học Việt ngữ, khi bàn tới sự ra đời của lí thuyết hành động ngôn từ,
Nguyễn Thiện Giáp đã dẫn các quan điểm của Hegel và J.Austin (1962) và J.Searle(1969) về hành động ngôn từ Theo Nguyễn Thiện Giáp, các nhà ngôn ngữ học trên
cho rằng: “Ngôn ngữ không chỉ được dùng để thông báo hoặc miêu tả cái gì đó mà nó thường được dùng để làm cái gì đó, để thể hiện các hành động Các hành động được thực hiện bằng lời nói gọi là hành động ngôn từ Hành động ngôn từ chính là những ý định về mặt chức năng của một phát ngôn” [24; tr.38]
Theo Nguyễn Đức Dân, lí thuyết hành vi ngôn ngữ (hành động lời nói) nghiên
cứu mối quan hệ giữa kí hiệu ngôn ngữ và mục đích giao tiếp Tác giả cho rằng: “Có rất nhiều câu về hình thức giống với các câu trần thuật (constative), nhưng lại không thể quy cho chúng giá trị chân lí đúng hay sai Làm sao có thể xác định được một lời chào là có giá trị logic đúng hay sai? Điều quan trọng là nó được hình thành như thế nào? Dùng để làm gì? Có tác động gì?” [17; tr.15] Cũng theo Nguyễn Đức Dân: “có xem xét các hiện tượng hoạt động lời nói theo quan điểm của lí thuyết các hành vi ngôn ngữ mới phát hiện được bản chất của nhiều hiện tượng ngữ nghĩa và cú pháp.”
[17; tr.16] Như vậy có thể thấy các hiện tượng trong hoạt động lời nói của con ngườichỉ có thể hiểu một cách đầy đủ khi biết được hoạt động lời nói đó (hành động ngônngữ) được thực hiện với mục đích gì và thông qua những kí hiệu ngôn ngữ nào Mụcđích giao tiếp được thực hiện thông qua các kí hiệu ngôn ngữ dưới một phát ngôn nào
đó là một hành động ngôn ngữ
Cũng xuất phát từ quan điểm của các nhà ngôn ngữ học J Austin và J Searle,
trong sách Đại cương ngôn ngữ học tập 2, Đỗ Hữu Châu đưa ra khái niệm về hành động ngôn ngữ Theo Đỗ Hữu Châu: “Hành động ngôn ngữ là hành động thực hiện khi tạo ra một phát ngôn (diễn ngôn) trong một cuộc giao tiếp Hành động ngôn ngữ đòi hỏi phải có điều kiện, thao tác, cách thức tổ chức thao tác và quan trọng nhất là đích như mọi hành động khác của con người có ý thức” [12; tr.55]
Như vậy, hành động ngôn ngữ là hành động thực hiện khi tạo ra một phát ngôn(diễn ngôn) trong một cuộc giao tiếp Hành động ngôn ngữ đòi hỏi phải có điều kiện,thao tác, cách thức tổ chức thao tác và đích như mọi hành động khác của con người.Hành động ngôn ngữ gắn liền với hoạt động nói năng của con người và nó cũng là một
Trang 26hành động mang tính chất xã hội.
b Các hành động ngôn ngữ:
Trong một cuộc giao tiếp, một phát ngôn (diễn ngôn) thường được tạo ra do baloại hành động Ba loại hành động ngôn ngữ này, trong các sách ngữ dụng học đượcNguyễn Thiện Giáp [24] gọi là: hành động tại lời, hành động ngoài lời, hành động saulời Nguyễn Đức Dân [17] gọi là: hành vi tạo lời, hành vi tại lời, hành vi mượn lời ĐỗHữu Châu [12] gọi là: hành vi tạo lời, hành vi mượn lời, hành vi ở lời
Trong luận án này, để thống nhất với thuật ngữ “hành động ngôn ngữ” đã xác
định ở trên kết hợp với cách dịch của Đỗ Hữu Châu trong Đại cương ngôn ngữ học tập
2, trong nội dung này, chúng tôi gọi tên các hành động ngôn ngữ là: hành động tạo lời,hành động mượn lời, hành động ở lời
- Hành động tạo lời (locutionary act): là hành động sử dụng các yếu tố ngôn
ngữ như: ngữ âm, từ, các kiểu kết hợp từ thành câu để tạo ra phát ngôn về hình thức vànội dung Nhờ hành vi tạo lời, chúng ta hình thành nên các biểu thức có nghĩa
- Hành động mượn lời (perlocutionary act): là những hành động “mượn”
phương tiện ngôn ngữ, nói cho đúng là mượn các phát ngôn để gây ra một hiệu quảngôn ngữ nào đó ở người nghe, người nhận hoặc ở chính người nói Hành độngmượn lời thực hiện một phát ngôn là hành động nhằm gây ra những biến đổi trongnhận thức, trong tâm lí, trong hành động vật lí có thể quan sát được, gây ra một tácđộng nào đấy đối với ngữ cảnh
- Hành động ở lời (illocutionary act): là những hành động người nói thực hiện
ngay khi nói năng Hiệu quả của chúng là những hiệu quả thuộc ngôn ngữ, có nghĩa làchúng gây ra một phản ứng bằng ngôn ngữ đáp lại tương ứng Nói cách khác, đây làhành động mà đích của nó nằm ngay trong việc tạo nên phát ngôn được nói ra (hayviết ra) Chính cái đích này phân biệt các hành động ở lời với nhau Đích của hànhđộng ở lời được gọi là đích ở lời và nếu đích đó được thỏa mãn thì ta có hiệu quả ở lời.Dấu hiệu của hiệu quả ở lời là lời hồi đáp của người tiếp nhận hành động ở lời (tứcngười nghe, người đọc)
c Điều kiện sử dụng hành động ở lời:
Đỗ Hữu Châu [12] đã chỉ ra các điều kiện sử dụng hành động ở lời theo Searle
Cụ thể, để sử dụng hành động ở lời cần phải đảm bảo các điều kiện sau:
- Điều kiện nội dung mệnh đề: Điều kiện chỉ ra nội dung của hành động ở lời
Trang 27- Điều kiện chuẩn bị: Những hiểu biết của người nói về người nghe (về năng lực, lợiích, ý định, trách nhiệm… của người nghe) và về quan hệ giữa người nói với người nghe.
- Điều kiện tâm lí (điều kiện chân thành): Trạng thái tâm lí tương ứng của ngườinói, thích hợp với hành động ở lời mà mình đưa ra
- Điều kiện căn bản: Kiểu trách nhiệm mà người nói hoặc người nghe bị ràngbuộc khi hành động ở lời đó được phát ra
d Các phương tiện biểu thị hành động ở lời:
Trong Đại cương ngôn ngữ học tập 2, Đỗ Hữu Châu đã chủ trương phân biệt
phát ngôn ngữ vi và biểu thức ngữ vi Theo ông, phát ngôn ngữ vi là sản phẩm củahành động ở lời và phát ngôn ngữ vi có một kết cầu lõi đặc trưng cho hành động ở lờitạo ra nó Kết cấu lõi đó được gọi là biểu thức ngữ vi Hành động ở lời được phân chiatheo quan hệ cấp loại thành các phạm trù hành vi ở lời, mỗi phạm trù (loại lớn) lạiđược chia thành các tiểu loại Do đó có những biểu thức ngữ vi đặc trưng cho phạmtrù, có những biểu thức ngữ vi đặc trưng cho tiểu loại hoặc cho từng hành động ngônngữ cụ thể
Mỗi biểu thức ngữ vi được đánh dấu bằng các dấu hiệu chỉ dẫn mà Searle goi là
các phương tiện chỉ dẫn hiệu lực ở lời (illocutionary force indicating devices – IFIDs.
Như vậy mỗi biểu thức ngữ vi, theo Đỗ Hữu Châu sẽ được nhận diện bằng các phươngtiện sau:
- Các kiểu kết cấu: Kết cấu chính là các kiểu câu theo ngữ pháp truyền thống.
Kết cấu ở đây không chỉ là những kiểu câu có mục đích nói hết sức sơ lược và kháiquát như trần thuyết, hỏi, cầu khiến….với những dấu hiệu hình thức rất chung mà cònbao gồm cả những kết cấu cụ thể ứng với từng hành động ở lời Ví dụ, ta có thể dùng
kết cấu cầu khiến quen thuộc để thực hiện hành động khẳng định như: Chính nó đã làm vỡ cái cốc Mà còn có thể dùng kết cấu hỏi để thực hiện hành động khẳng định, chẳng hạn như: Không nó thì còn ai làm vỡ cái cốc?
- Những từ ngữ chuyên dùng trong các biểu thức ngữ vi: Đó là những từ ngữ
dùng để tổ chức các kết cấu và là các dấu hiệu nhờ chúng chúng ta biết được hànhđộng nào đang thực hiện Đó là các từ chuyên dùng trong các biểu thức ngữ vi củanhững hành động ở lời cụ thể Ví dụ, ta có các từ ngữ chuyên dùng của biểu thức ngữ
vi hỏi như: có…không? Ai, gì, nào, bao giờ, mấy….?; các từ ngữ chuyên dùng của biểu thức ngữ vi cầu khiến như: hãy, đừng, chớ, nên, làm ơn, xin…
Trang 28- Ngữ điệu: Cùng một tổ chức từ vựng, ngữ pháp cụ thể nếu được phát âm với
những ngữ điệu khác nhau sẽ cho các biểu thức ngữ vi khác nhau Chính sự thay đổingữ điệu có thể tạo thành những hành động ở lời khác nhau Ví dụ, kết cấu trần thuật:
“Con đang làm bài tập.” khi nói sử dụng ngữ điệu lên cao ở cuối câu sẽ tạo thành một phát ngôn hỏi: “Con đang làm bài tập?”
- Quan hệ giữa các thành tố trong cấu trúc vị từ - tham thể: Quan hệ giữa các
thành tố trong cấu trúc vị từ tham thể tạo nên nội dung mệnh đề được nêu trong biểuthức ngữ vi với các nhân tố của ngữ cảnh Các đặc tính ngữ nghĩa như tự nguyện haycưỡng bức, tích cực hay tiêu cực…của hành động đối với người tạo ra hành động vàvới người nhận hành động cũng có giá trị như các IFIDs để nhận diện hành động ở lời
Ví dụ: so sánh hai biểu thức sau:
- Con có ăn cơm không?
- Con có ăn cơm không thì bảo?
Ở biểu thức thứ nhất là hành động hỏi của Sp1 với mong muốn Sp2 cung cấpthông tin cho Sp1 một cách tự nguyện Ở biểu thức thứ hai Sp1 thực hiện hành vi dọabắt buộc Sp2 phải thực hiện hành động “ăn cơm” nếu không sẽ có thể phải chịu mộthình phạt nào đó
- Động từ ngữ vi: Trong các động từ nói năng, có những động từ có thể thực
hiện chức năng ở lời (chức năng ngữ vi) Đó chính là những động từ ngữ vi
(perormative verbs – động từ ngôn hành) “Động từ ngữ vi là những động từ mà khi phát âm chúng ra cùng với biểu thức ngữ vi (có khi không cần có biểu thức ngữ vi đi kèm) là người nói thực hiện luôn cacsi hành vi ở lời do chúng biểu thị.” [12; tr.97]
Tuy nhiên, theo J Austin, động từ ngữ vi chỉ được dừng trong chức năng ngữ vi khiphát ngôn dùng ở ngôi thứ nhất, thời hiện tại, thể chủ động và thức thực thi Ví dụ khi
nói “Cảm ơn” là người nói đã thực hiện ngay hành động cảm ơn mà không cần có biểu
thức ngữ vi đi kèm
Xét theo khả năng dùng theo hiệu lực ngữ vi, các động từ nói năng trong tiếngViệt có thể được phân thành ba loại: 1/Động từ miêu tả hành động ở lời (khoe, chếgiễu); 2/Đông từ ngữ vi chỉ dùng trong chức năng ngữ vi (phỉ thui, đa tạ); 3/Động từvừa dùng trong chức năng ngữ vi vừa dùng trong chức năng miêu tả (hứa, hỏi)
e Phân loại hành động ở lời:
Nội dung phân loại hành động ở lời được trình bày dưới đây, luận án dẫn theo
Trang 29sách Đại cương ngôn ngữ học, tập 2 của Đỗ Hữu châu.
Căn cứ vào bốn tiêu chí phân loại hành động ở lời là: đích ở lời, hướng khớpghép, trạng thái tâm lí được biểu hiện, nội dung mệnh đề, Searle đã phân loại hànhđộng ở lời thành 5 phạm trù lớn gồm:
Tái hiện (xác tín – Searle): Gồm các hành vi khẳng định, tường thuật, miêu tả,thông tin, giải thích,
Điều khiển: Gồm các hành vi ra lệnh, yêu cầu, hỏi, cho phép, thách thức,…Cam kết: Gồm các hành vi cam đoan, thề, hứa hẹn, tặng, biếu,…
Biểu cảm: Gồm các hành vi khen ngợi, chúc mừng, cảm ơn, bộc lộ mong muốn,ruồng rẫy, than phiền,…
Tuyên bố: Gồm các hành vi tuyên bố, buộc tội, từ chức, khai trừ, …
f Hành động ở lời trực tiếp và hành động ở lời gián tiếp:
- Hành động ở lời trực tiếp :
Theo Đỗ Hữu Châu: “Các hành vi ngôn ngữ (hành vi ở lời) chân thực nghĩa là những hành vi ngôn ngữ được sử dụng đúng với mục đích, đúng với điều kiện sử dụng của chúng” [12, tr.145]
Ví dụ:
Hắn vừa đi vừa chửi Bao giờ cũng thế, cứ rượu xong là hắn chửi.
(Nam Cao)
Hai câu trong ví dụ trên là câu trần thuật Nó có đích ở lời là kể lại sự việc Do
đó, hai câu trong ví dụ trên thực hiện hành vi ở lời trực tiếp
Như vậy hành động ở lời trực tiếp là hành động được dùng đúng với đích ở lời,đúng với điều kiện sử dụng chúng
- Hành động ở lời gián tiếp:
Trong thực tế giao tiếp, một phát ngôn thường không phải chỉ có một đích ở lời
mà theo Labov và Fanshel “đại bộ phận các phát ngôn được xem như là thực hiện đồng thời một số hành vi.” [12; tr.146]
Hiện tượng người nói sử dụng trên bề mặt hành động ở lời này nhưng lại nhằmđạt hiệu quả của một hành động ở lời khác được gọi là hiện tượng sử dụng hành độngngôn ngữ theo lối gián tiếp
Hành động ở lời gián tiếp được Austin khởi xướng nghiên cứu và được Searle
kế thừa và phát huy Theo Searle, “…một hành vi ở lời được thực hiện gián tiếp thông
Trang 30qua sự thực hiện một hành vi ở lời khác sẽ được gọi là một hành vi gián tiếp” G Yule
cũng đưa ra định nghĩa về hành vi ngôn ngữ trực tiếp và hành vi ngôn ngữ gián tiếp:
“Khi nào có một quan hệ trực tiếp giữa một cấu trúc với một chức năng thì chúng ta
có một hành vi ngôn ngữ trực tiếp Khi nào có một quan hệ gián tiếp giữa một cấu trúc và một chức năng thì chúng ta có một hành vi ngôn ngữ gián tiếp” [35;tr.110]
Như vậy, một hành động được sử dụng gián tiếp là hành động trong đó ngườinói thực hiện một hành động ở lời này nhưng lại nhằm làm cho người nghe dựa vàonhững hiểu biết ngôn ngữ và ngoài ngôn ngữ chung cho cả hai người, suy ra hiệu lực ởlời của một hành động khác
Ví dụ, hành động trực tiếp hỏi có thể dùng cho các hành động ở lời gián tiếp như:Nhờ vả:
- Cậu có thể mang xách hộ tớ cái túi được không?
Đe dọa:
- Mày có muốn ăn đòn không?
Tất cả các lí thuyết về hành động ngôn ngữ như: khái niệm, các loại hành độngngôn ngữ, điều kiện sử dụng hành động ở lời, các phương tiện biểu thị hành động ởlời, phân loại hành động ở lời, hành động ở lời trực tiếp – gián tiếp là cơ sở giúp luận
án đi sâu tìm hiểu về hành động hỏi
1.2.1.2 Hành động hỏi
Hành động hỏi là một trong những hành động ngôn ngữ thuộc nhóm điều khiển
Về hành động hỏi, luận án giới thiệu các nội dung sau: Điều kiện sử dụng hành độnghỏi; các phương tiện biểu thị hành động hỏi; phân loại hành động hỏi
a Điều kiện sử dụng hành động hỏi:
Theo lí thuyết hành động ngôn ngữ (speech acts), hỏi được coi là hành
động-một hành động có lực ngôn trung là yêu cầu cung cấp thông tin Mỗi động-một hành độngngôn ngữ khi thực hiện phải tuân thủ những quy tắc điều khiển hành động ngôn ngữ
mà Searle gọi là những điều kiện “thỏa mãn” như trên đã trình bày (mục 1.1.2.1; c)
Trên cơ sở phân tích các hành động ở lời, Searle đã đưa ra một hệ các điều kiện sửdụng hành động ở lời Searle đã miêu tả một số hành động ở lời và những điều kiện thỏa
mãn của chúng, trong đó có hành động hỏi Trong Đại cương ngôn ngữ học, tập 2, Đỗ
Hữu Châu đã trình bày các điều kiện sử dụng hành động hỏi theo Searle như sau:
Hỏi (question)
Trang 31a) NDMĐ: Tất cả mệnh đề hay hàm mệnh đề.
b) CB:
1) S không biết lời giải đáp
2) Cả đối với S, cả đối với H không chắc rằng bất kể thế nào H cũng cung cấp thông tin ngay lúc trò chuyện nếu S không hỏi
c) CT: S mong muốn có được thông tin đó
d) Căn bản: Nhằm cố gắng nhận được thông tin từ H [12; tr.119]
(S: speaker; H: Hearer)
Dựa vào các điều kiện sử dụng hành động hỏi mà Searle đã chỉ ra, có thể diễngiải lại như sau:
- Điều kiện nội dung mệnh đề: Bao gồm tất cả mệnh đề hay hàm mệnh đề
- Điều kiện chuẩn bị: Người hỏi có một điều gì đó mà anh ta chưa có đượcnhững thông tin đầy đủ về nó
- Điều kiện chân thành: Người hỏi tin là mình không biết và mong muốn cóđược thông tin đó
- Điều kiện căn bản: Người hỏi thực hiện hành động hỏi để cố gắng nhận đượcthông tin, lời đáp cần thiết từ người nghe
Xét ví dụ dưới đây:
Một lần, tôi hỏi vợ tôi:
- Lúc mới gặp nhau, em bị anh thu hút bởi cái gì?
Vợ tôi hiền thục nên thật thà thổ lộ:
- Em nghĩ làm vợ anh em sẽ có một gia đình yên ổn.
(Trò đùa của số phận; tr.130)
Căn cứ vào các điều kiện thực hiện hành động hỏi có thể thấy phát ngôn Lúc mới gặp nhau, em bị anh thu hút bởi cái gì? là hành động hỏi trực tiếp vì:
- Dấu hiệu hình thức: phát ngôn trên có sử dụng đại từ nghi vấn “cái gì” hỏi về đặc
điểm, tính chất của con người
+ Nội dung mệnh đề: Đây là hành động hỏi của Sp1 với Sp2
+ Chuẩn bị: Sp1 muốn biết vì sao Sp2 lại bị thu hút bởi mình
+ Chân thành: Sp1 rất muốn biết lí do khiến Sp2 bị thu hút và đồng ý lấy mình.+ Căn bản: Sp1 muốn nhận được câu trả lời từ phía Sp2
b.Các phương tiện biểu thị hành động hỏi:
Dựa trên lí thuyết hành động ngôn từ đã trình bày ở trên, trong khi ứng dụng
Trang 32vào để nghiên cứu hành động hỏi, luận án nhận thấy, cũng tương tự như những hànhđộng ở lời khác, các phương tiện biểu thị hành động hỏi gồm có: các kết cấu hỏi, các
từ ngữ chuyên dùng trong biểu thức ngữ vi hỏi; ngữ điệu; động từ ngữ vi hỏi.
- Các kiểu kết cấu hỏi:
Các kiểu kết cấu hỏi chính là các kiểu cấu trúc của câu hỏi theo ngữ pháp
truyền thống Trong Dụng học Việt ngữ, Nguyễn Thiện Giáp đã chỉ ra các kiểu câu hỏi
(các kết cấu hỏi) cơ bản gồm: 1/ Câu hỏi tổng quát, tức hỏi bao trùm toàn bộ câu;2/Câu hỏi bộ phận (câu hỏi chuyên biệt), tức nhằm hỏi về một chi tiết trong sự việc; 3/Câu hỏi lựa chọn, tức câu hỏi nêu ra hai hoặc một số khả năng để hỏi xem khả năngnào là đúng [24; tr 52-53]
Bên cạnh các kết cấu cơ bản trên, hành động hỏi còn có thành phần mở rộng vàmột số yếu tố tình thái như: hô ngữ, thán ngữ, phụ chú ngữ, tình thái ngữ và là các từngữ chuyên dùng Các từ ngữ chuyên dùng trong biểu thức hỏi sẽ được chúng tôi trìnhbày dưới đây
- Các từ ngữ chuyên dùng trong biểu thức ngữ vi hỏi:
Các từ ngữ chuyên dùng trong biểu thức ngữ vi hỏi gồm: các đại từ nghi vấn,các phụ từ nghi vấn, quan hệ từ hay và các tiểu từ tình thái
Các đại từ nghi vấn: Các đại từ nghi vấn thường gặp như: ai (hỏi về người); gì
(hỏi về vật, hiện tượng và tính chất của con người, con vật, sự vật); nào (hỏi về tínhchất, có hàm ý lựa chọn); sao (hỏi về cách thức, nguyên nhân); bao nhiêu (hỏi về sốlượng nhiều ít); mấy (hỏi về số lượng ít); bao lâu (hỏi về thời gian); đâu (hỏi về địađiểm)…Ví dụ: Ai nói với anh điều đó? hay Sao anh chị lại chia tay? Trong sử dụng,nhiều khi phát ngôn hỏi chỉ chứa đại từ nghi vấn thường có sắc thái gay gắt Để giảmsắc thái tiêu cực, trong khi nói, người ta có thể thêm vào những tiểu từ tình thái thíchhợp hoặc những từ ngữ có tác dụng giảm nhẹ sắc thái tiêu cực.Ví dụ: Tại sao anhkhông tin tôi? (gay gắt, khó chịu) hay Tại sao anh lại không tin tôi nhỉ? (thân mật)
Quan hệ từ “hay”: Quan hệ từ “hay” được dùng để hỏi về sự lựa chọn.Ví dụ:
Chị thích anh Hùng hơn hay thích anh Sơn hơn?
Phụ từ nghi vấn: Phụ từ nghi vấn thường đi với nhau thành từng cặp hoặc đi
kèm với quan hệ từ “hay” (quan hệ từ “hay” có mặt hoặc bị tỉnh lược) làm thànhnhững khuôn nghi vấn như: có không (hoặc có không); có phải không (hoặc cóphải không) – hỏi về tính khẳng định hoặc tính phủ định; đã chưa (hỏi về tính xảy
Trang 33ra / không xảy ra); xong chưa; (hỏi về tính hoàn thành / không hoàn thành).Ví dụ:
Anh là người Hà Nội có phải không ạ?
Các tiểu từ tình thái: Thể hiện hành vi hỏi bằng các tiểu từ tình thái (à, ư, nhỉ,
nhé, à…) là một đặc điểm riêng của tiếng Việt, loại tiếng có nhiều thanh điệu Với cácngôn ngữ ít thanh điệu, có thể dùng ngữ điệu để biểu thị hành vi hỏi bằng cách lên caogiọng ở cuối câu Nhưng với tiếng Việt, vì có nhiều thanh điệu nên nếu lên cao ở cuối câu
sẽ dễ bị người nghe nhận nhầm thành âm tiết khác Do đó, thay bằng ngữ điệu, tiếng Việt
sử dụng các tiểu từ tình thái hỏi ở âm cuối Ngoài ra, các tiểu từ tình thái còn có chứcnăng biểu thị thái độ của người nói với người nghe và chúng thường đứng ở cuối câu,
chẳng hạn: Chị ăn cơm rồi à? (Trung tính) hay Chị ăn cơm rồi ạ? (Kính trọng).
- Ngữ điệu:
Trường hợp các biểu thức ngữ vi không có các phương tiện đánh dấu như trên
đã trình bày, thì ngữ điệu là dấu hiệu giúp nhận diện hành động hỏi Ngữ điệu đặc thùcho hành động hỏi là một ngữ điệu cao và sắc dành cho trọng điểm hỏi, dù trọng điểm
đó đứng ở vị trí nào trong phát ngôn, và cuối phát ngôn không có hiện tượng hạ thấpgiọng một cách rõ rệt
- Động từ ngữ vi hỏi: Đối với hành động hỏi còn có động từ ngữ vi – động từ chỉ dẫn hành động được biểu thị trong hành hỏi, đó là động từ “hỏi” (có thể có hoặc không)
Tất cả các phương tiện biểu thị hành động hỏi được trình bày trên đây sẽ giúpchúng tôi xác định được các biểu thức hỏi thường được sử dụng trong thực tế giao tiếp
c Phân loại hành động hỏi:
Căn cứ vào chức năng của hành động ở lời có thể chia hành động ngôn ngữthành hành động ngôn ngữ trực tiếp và hành động ngôn ngữ gián tiếp Cũng tương tự
như vậy, dựa vào mục đích nói có thể chia hành động hỏi làm hai loại là hành động hỏi
dùng để hỏi (hành động hỏi trực tiếp) và hành động hỏi không dùng để hỏi (hành độnghỏi gián tiếp) Ở đây, luận án dựa vào cách phân loại hành động ngôn ngữ trong cácsách ngữ dụng [24], [12] của Nguyễn Thiện Giáp và Đỗ Hữu Châu
- Hành động hỏi trực tiếp:
Trong hành động ở lời trực tiếp, giữa cấu trúc ngôn ngữ và chức năng có mốiquan hệ trực tiếp với nhau Như vậy, hành động hỏi trực tiếp là hành động sử dụng cáccấu trúc hỏi để thực hiện mục đích hỏi Có nghĩa là nó thỏa mãn các điều kiện sử dụng
mà Search đã đưa ra gồm: điều kiện nội dung mệnh đề, điều kiện chuẩn bị, điều kiện
Trang 34chân thành, điều kiện cơ bản Với hành động hỏi trực tiếp thì mục đích hỏi được thựchiện thông qua một cấu trúc hỏi.
Ví dụ:
SP1: Con làm bài tập chưa?
SP2: Con làm rồi ạ!
Phát ngôn của SP1 là một câu nghi vấn, nêu lên điều mà SP1 chưa biết và thực
sự muốn biết do đó phát ngôn của SP1 thực hiện hành động hỏi chân thành với mụcđích mong muốn được SP2 giải đáp Vậy, phát ngôn của SP1 thực hiện hành động ởlời trực tiếp là hành động hỏi
- Hành động hỏi gián tiếp:
Hành động hỏi gián tiếp là việc sử dụng các hành động ngôn ngữ khác để thựchiện mục đích hỏi
Để nhận diện các hành động ngôn ngữ gián tiếp được thực hiện qua hình thứccủa hành động hỏi cần phải căn cứ vào hoàn cảnh giao tiếp, các thao tác suy ý, các ướcđịnh xã hội, sự vi phạm các quy tắc điều khiển hành vi ngôn ngữ, sự vi phạm quy tắcgiao tiếp
Qua khảo sát, chúng tôi không tìm được trường hợp nào thuộc hành động ngônngữ hỏi gián tiếp Chính vì vậy, luận án chỉ đi sâu nghiên cứu hành động hỏi trực tiếp
từ góc độ phân tầng xã hội Cụ thể là các biểu thức hỏi, các yếu tố ngôn ngữ đánh dấuhình thức hỏi và sự chi phối của hành động từ góc độ giới, tuổi và địa vị
1.2.2 Lí thuyết hội thoại và tương tác hỏi - đáp
Luận án nghiên cứu về hành động hỏi và hồi đáp cho hành động hỏi, cụ thể là
sự tương tác giữa hỏi và đáp Vấn đề này có liên quan đến lí thuyết hội thoại Lí thuyếthội thoại đề cấp đến rất nhiều vấn đề, luận án không giới thiệu tất cả các lí thuyết hộithoại mà chỉ chọn những vấn đề cơ bản làm cơ sở lí luận cho vấn đề hồi đáp hỏi
1.2.2.1 Lí thuyết hội thoại
Luận án sẽ giới thiệu một số vấn đề cơ bản sau: Khái niệm hội thoại; các đơn vịhội thoại; phương châm cộng tác hội thoại
a.Khái niệm hội thoại:
Nhiều nhà Việt ngữ học đã bàn về khái niệm hội thoại Có thể kể đến như: ĐỗHữu Châu [12], Nguyễn Thiện Giáp [24], Nguyễn Đức Dân [17] .Về cơ bản các tác
giả đều thống nhất ở một số điểm là hội thoại là sự tương tác bằng lời giữa con người
Trang 35với con người thông qua một phương tiện nhất định, trong đó phương tiện giao tiếpquan trọng nhất là ngôn ngữ Giao tiếp bằng ngôn ngữ có thể diễn ra ở dạng nói hoặcdạng viết Trong giao tiếp dạng nói thì hội thoại là hình thức giao tiếp phổ biến nhất.Trong giao tiếp hội thoại luôn có sự hồi đáp giữa người nói với người nghe Mỗi cuộcthoại đều diễn ra trong một ngữ cảnh nhất định (con người, không gian, thời gian, hoàncảnh giao tiếp nhất đinh) Ngữ cảnh có vai trò quan trọng trong việc tạo lập và lĩnh hộicác phát ngôn trong hội thoại Luận án theo quan điểm của Đỗ Hữu Châu: “Hội thoại
là hình thức giao tiếp thường xuyên, phổ biến của ngôn ngữ, và cũng là hình thức cơ
sở của mọi hoạt động ngôn ngữ khác” [12, tr.201].
Có ba vận động trong một cuộc thoại đó là: Sự trao lời, sự trao đáp và sự tươngtác
- Sự trao lời: Sự trao lời hay còn gọi là lời trao Đây là vận động người nói hướng
lời nói của mình về phía người nhận (người nghe) Ngược lại với người nói, người nhận
có thể có mặt một cách tường minh và cũng có thể có mặt một cách hàm ẩn
- Sự trao đáp: Là quá trình người nghe chuyển thành vai người phát, đáp lại
lượt lời của người đáp
- Sự tương tác: Sự thay đổi luân phiên vai người phát - nhận giữa các thoại
nhân làm nên hoạt động trao đáp trong hội thoại Qua đó các thoại nhân tác động lẫnnhau và làm thay đổi nhau Sự tương tác chính là tác động qua lại lẫn nhau của cácnhân vật tham gia giao tiếp
Như vậy, ba vận động: sự trao lời, sự trao đáp và sự tương tác là ba vận độngđặc trưng cho một cuộc hội thoại Những quy tắc, cấu trúc và chức năng trong hộithoại đều bắt nguồn từ ba vận động trên, đặc biệt là vận động tương tác
Hỏi và hồi đáp hỏi luôn được đặt trong thế tương tác khi giao tiếp Hành độnghỏi yêu cầu người được hỏi cung cấp thông tin mà người hỏi chưa biết, cần biết Do đókhi một hành động hỏi được thực hiện nó luôn yêu cầu một sự hồi đáp Vì vậy lí thuyếthội thoại, đặc biệt là sự tương tác trong một cuộc thoại là cơ sở lí thuyết mà luận ánvận dụng để tìm hiểu về hồi đáp hỏi
b Các đơn vị hội thoại:
Hồi đáp hỏi liên quan đến các đơn vị sau: cuộc thoại, đoạn thoại, cặp thoại,tham thoại và hành động ngôn ngữ
- Cuộc thoại: Cuộc thoại là đơn vị hội thoại lớn nhất Đó là các tương tác bằng
Trang 36lời tính từ khi các thoại nhân bắt đầu gặp nhau, trao đáp và kết thúc quá trình này Để
có một cuộc thoại cần có những nhân tố: Sự thống nhất về thoại nhân; Sự thống nhất
về thoại trường; Sự thống nhất về chủ đề: chủ đề là nội dung toàn bộ cuộc thoại Ngoài
ba nhân tố trên, thông thường trên bề mặt hình thức còn có phần mở thoại, thân thoại,kết thoại Nhưng trong thực tế nghiên cứu, không phải bất cứ cuộc thoại nào diễn racũng có đầy đủ ba phần như thế
- Đoạn thoại: Đoạn thoại là đơn vị nhỏ hơn cuộc thoại Ranh giới giữa cuộc thoại và đoạn thoại không phải bao giờ cũng rõ ràng Có thể hiểu “Đoạn thoại là một mảng diễn ngôn do một số cặp trao - đáp liên kết với nhau chặt chẽ về ý nghĩa và về ngữ dụng Về ý nghĩa: đó là sự liên kết về chủ đề Về mục đích ngữ dụng: tính duy nhất về đích” [12;tr.229].
- Cặp thoại: Trong hệ thống cấu trúc hội thoại, cặp thoại là đơn vị lưỡng thoại
nhỏ nhất nhưng chưa phải là đơn vị cuối cùng Nó nằm ở vị trí trung gian giữa thamthoại, đơn vị bậc dưới và đoạn thoại, đơn vị bậc trên Tác giả Đỗ Hữu Châu cho rằng:
“Cặp thoại là đơn vị lưỡng thoại nhỏ nhất của cuộc thoại do các tham thoại tạo nên”
[12; tr 306] Về nguyên tắc, một cặp thoại ít nhất phải do hai tham thoại tạo nên.Tham thoại thứ nhất ở lượt lời người trao gọi là tham thoại dẫn nhập, tham thoại thứhai ở lượt lời người đáp gọi là tham thoại hồi đáp Không có tham thoại hồi đáp thìkhông thành cặp thoại
- Tham thoại: Tham thoại là đơn vị đơn thoại do một cá nhân phát ra tương đương
với đơn vị câu Tham thoại là đơn vị cơ sở tạo nên cặp thoại nhưng nó không đồng nhấtvới lượt lời Lượt lời là đơn vị chức năng mang tính hình thức trong khi đó tham thoại làđơn vị chức năng chỉ được xác định trong cặp thoại Trong hệ thống cấu trúc hội thoại,nếu cặp thoại là đơn vị song thoại nhỏ nhất thì tham thoại là đơn vị đơn thoại
- Hành động ngôn ngữ: Là đơn vị nhỏ nhất của cấu trúc hội thoại Trong một
phát ngôn có thể có một hành động ngôn ngữ nhưng cũng có thể có một số hành độngngôn ngữ
c Nguyên tắc công tác hội thoại:
Nguyên tắc cộng tác hội thoại được H.P.Grice đề xuất và bổ sung nghiên cứu
vào các năm 1967; 1978; 1981 Nguyên tắc này được hiểu: “Hãy làm cho phần đóng góp của anh (vào cuộc hội thoại) mà nó xuất hiện, phù hợp với đích hay phương châm của cuộc thoại mà anh chấp nhận tham gia vào” [12; tr.288]
Trang 37Bốn phương châm quan trọng trong nguyên tắc cộng tác hội thoại gồm: phươngchâm về lượng, phương châm về chất, phương châm quan yếu, phương châm cáchthức Trong đó:
- Phương châm về lượng: Phương châm về lượng yêu cầu hãy làm cho phầnđóng góp của anh có lượng tin như đòi hỏi, đừng làm cho phần đóng góp của anh cólượng tin lớn hơn đòi hỏi
- Phương châm về chất: Phương châm về chất yêu cầu đừng nói những điều anhtin rằng không đúng và đừng nói những điều mà anh không có bằng chứng xác thực
- Phương châm về quan yếu: Phương châm về quan yếu yêu cầu hãy nói nhữngđiều có liên quan đến cuộc hội thoại
- Phương châm cách thức: Phương châm cách thức yêu cầu tránh lối nói tốinghĩa, tránh lối nói mập mờ, hày nói ngắn gọn, hãy nói có trật tự
Ngoài bốn phương châm trên, trong hội thoại cũng cần quan tâm đến haiphương châm khác đó là: phương châm lịch sự và phương châm khiêm tốn Phươngchâm lịch sự yêu cầu tránh xúc phạm tàn nhẫn đến thể diện của người khác cũng như
cố gắng giữ gìn thể diện cho mình; không tranh cướp lời của người khác, không trả lờithay, nói leo, nói hớt…Phương châm khiêm tốn yêu cầu trong hội thoại nên tôn vinhngười nghe, tự hạ mình
Theo nguyên tắc cộng tác hội thoại để một cuộc thoại đạt hiệu quả cao ngườitham gia hội thoại nên tuân thủ những nguyên tắc trên một cách tuần tự và tích cực.Tuy nhiên, trên thực tế giao tiếp, nguyên tắc cộng tác hội thoại có thể bị vi phạm mộthay tất cả các nguyên tắc bởi người tham gia hội thoại Sự vi phạm này có khi là kháchquan (thói quen, văn hóa, sự không hiểu ý nhau…), có khi sự vi phạm này lại do sự cố
ý của người tham gia hội thoại Khi đó sự vi phạm nguyên tắc cộng tác hội thoại lại làmột chiến thuật giao tiếp để thể hiện một ý nghĩa khác bằng ngôn ngữ (hàm ý)
Như vậy, để đảm bảo nguyên tắc cộng tác hội thoại, khi một hành động hỏiđược thực hiện, người được hỏi cần cung cấp đúng, đủ, rõ ràng liên quan đến nội dungmệnh đề Nhưng trong quá trình khảo sát ngữ liệu, luận án nhận thấy, có rất nhiềutrường hợp, người được hỏi lại cố tình vi phạm nguyên tắc cộng tác hội thoại khi hồiđáp cho hành động hỏi Vì vậy, cơ sở lí thuyết này được luận án vận dụng khi xem xétcác lượt lời hồi đáp cho hành động hỏi
1.2.2.2 Hội thoại và vấn đề hồi đáp hỏi
Trang 38Hồi đáp hỏi nằm trong đơn vị cặp thoại, tham thoại, lượt lời mà chúng tôi đãdẫn ở trên Vận dụng các lí thuyết đó, luận án sẽ phân tích hai vấn đề: đặc điểm củahồi đáp hỏi và phân loại hồi đáp hỏi.
a Đặc điểm của hồi đáp hỏi:
Mặc dù hồi đáp hỏi liên quan đến lí thuyết hội thoại nhưng trong quá trình khảosát tài liệu, luận án nhận thấy chưa có lí thuyết về hồi đáp hỏi nhưng có một số tác giả
có bàn về hồi đáp nói chung và hồi đáp hỏi nói riêng trong lí thuyết hội thoại Có thể
kể đến một số công trình tiêu biểu như: Ngôn ngữ học đại cương, tập 2 của Đỗ Hữu Châu [12], Dụng học Việt ngữ của Nguyễn Thiện Giáp [24].
Theo Đỗ Hữu Châu, tất cả các hành động ngôn ngữ đều đòi hỏi sự hồi đáp.Ngay cả hành động cảm thán – một hành động tự thân, không tác động đến ai thì khithực hiện hành động này, người nói cũng mong muốn người khác hồi đáp lại, ít nhấtcũng là lời động viên, chia sẻ Hành động hỏi thuộc nhóm điều khiển theo phân loạicủa Searle, do đó hành động hỏi thường yêu cầu sự hồi đáp
Tham thoại hồi đáp là lượt lời phản hồi của người nghe SP2 sau khi tiếp nhậnlượt lời dẫn nhập từ SP1 và tham thoại hồi đáp (lượt lời phản hồi) này có một chức
năng trong giao tiếp đó là chức năng ở lời Đỗ Hữu Châu cho rằng:“Chức năng ở lời hồi đáp là chức năng ở lời của các tham thoại hồi đáp lại chức năng ở lời dẫn nhập”.
[12, tr.330]
Từ phân tích trên có thể thấy, trong một cặp thoại thì hành động hỏi là thamthoại thực hiện chức năng ở lời dẫn nhập và hồi đáp hỏi là tham thoại thực hiện chứcnăng ở lời hồi đáp
Trong Dụng học Việt ngữ, Nguyên Thiện Giáp cho rằng trong hội thoại luôn có
sự tương tác giữa người nói và người nghe, giữa lời trao và lời đáp Và “cặp thoại là hai phát ngôn có quan hệ tương thích với nhau Sự trao đáp là sự tương tác lẫn nhau giữa những người tham gia hội thoại Sự trao đáp diễn ra qua các lượt lời” [24, tr.83] Cũng theo ông: “Cặp thoại chỉ hiện tượng mỗi kiểu phát ngôn được tiếp theo bằng một kiểu phát ngôn riêng, chẳng hạn: hỏi – trả lời, chào – chào, trao – nhận, xin lỗi – chấp nhận lời xin lỗi, đề nghị - đáp ứng…Như vậy, cặp thoại là hai phát ngôn có quan hệ trực tiếp với nhau” [24, tr.70].
Ngoài ra, Nguyễn Thiên Giáp cũng cho rằng có những lượt lời hồi đáp nằmngay sau tham thoại hỏi dẫn nhập, nhưng cũng có những lượt lời hồi đáp nằm cách xa
Trang 39tham thoại hỏi dẫn nhập (sau ba hoặc bốn lượt lời) Điều này góp phần làm cho cuộcthoại thêm phong phú, đa dạng, sinh động
Qua sự phân tích về cặp thoại, tham thoại, lượt lời, sự tương tác của lí thuyếthội thoại, trong mối liên hệ với hồi đáp hỏi có thể chỉ ra một số đặc điểm của hồi đáphỏi như sau:
- Hành động hỏi cũng như tất cả các hành động ngôn ngữ khác đều đòi hỏi sựhồi đáp
- Cùng với hành động hỏi, hồi đáp hỏi đã tạo nên cặp thoại trong cấu trúc cơbản của hội thoại: Hỏi – đáp/ hỏi – trả lời
- Tham thoại hồi đáp hỏi là lượt lời phản hồi của người nghe SP2 sau khi tiếpnhận lượt lời hỏi dẫn nhập từ SP1 và tham thoại này có một chức năng trong giao tiếp
đó là chức năng ở lời hồi đáp
- Giữa phát ngôn hỏi và phát ngôn trả lời có mối quan hệ trực tiếp với nhau
- Có những lượt lời hồi đáp nằm ngay sau tham thoại hỏi dẫn nhập, nhưng cũng
có những lượt lời hồi đáp nằm cách xa tham thoại hỏi dẫn nhập (sau ba hoặc bốn lượtlời) Điều này góp phần làm cho cuộc thoại thêm phong phú, đa dạng, sinh động
b Phân loại hồi đáp hỏi:
Căn cứ vào chức năng ở lời hồi đáp nói chung (bao gồm cả việc trả lời và chỉ rõmức độ thỏa mãn mà tham thoại ở lời dẫn nhập đưa ra), Đỗ Hữu Châu chia hồi đápthành hai nhóm:
- Hồi đáp tích cực (khẳng định): là hồi đáp thỏa mãn được đích của tham thoại
dẫn nhập, thỏa mãn và đáp ứng được nhưng nhu cầu của người nói trong tham thoạidẫn nhập Có thể xem tham thoại hỏi dẫn nhập cùng tham thoại hồi đáp tích cực nàytạo thành một cặp thoại được ưa thích
Ví dụ:
Mới gặp nó lần đầu tiên, không có chuyện gì để nói, tôi ậm à ậm
ừ một hồi rồi hỏi:
- Mày tên gì vậy?
Nó đáp lí nhí: Tiểu Li
(Cô gái đến từ hôm qua, tr.330)
- Hồi đáp tiêu cực (phủ định): là hồi đáp đi ngược với đích của tham thoại dẫn
nhập, không thỏa mãn và không đáp ứng được những yêu cầu của người nói trong
Trang 40tham thoại dẫn nhập Nó cùng với tham thoại hỏi dẫn nhập tạo thành một cặp thoạikhông được ưa thích
Ví dụ:
A: Ông đi đâu đấy?
B: Đi đâu hỏi làm gì?
Trong cặp thoại trên, lời hồi đáp là một câu hỏi đi ngược lại với đích của thamthoại dẫn nhập Nếu tham thoại dẫn nhập là một lời chào (bằng hình thức hỏi) thì lời
hồi đáp phù hợp có thể là: Vâng, chào bác hoặc tôi đi…Nhưng ở đây lời hối đáp cho
hành động hỏi lại là một câu hỏi khuyết đi thành phần chủ ngữ cho thấy lời hồi đáptrên không đáp ứng được yêu cầu của người nói trong tham thoại dẫn nhập, tạo nênmột cảm giác không thoải mái cho cuộc thoại
Nguyễn Đức Dân (2008) trong Ngữ dụng học [17] cũng đã đề cập đến hai khái niệm hồi đáp tích cực và hồi đáp tiêu cực với cách sử dụng thuật ngữ lượt lời ưa dùng
và lượt lời ít dùng.
Nguyễn Thiện Giáp (2001) trong Dụng học Việt ngữ [24, tr.120] lại sử dụng khái niệm câu đáp được ưu tiên và câu đáp được đánh dấu để chỉ các khái niệm hồi đáp tích cực và hồi đáp tiêu cực Ông cho rằng: “câu đáp được ưu tiên hay vế được ưu tiên là vế có sự tương thích rõ nhất, nổi nhất với vế thứ nhất như hỏi – trả lời, yêu cầu – chấp nhận, khen – tiếp nhận lời khen, xin phép – cho phép” [24, tr.81].
Ta xét một ví dụ khác:
A: Mấy giờ rồi?
B: Anh có nhìn thấy cái đồng hồ treo ở đây không?
Trong ví dụ này, vế thứ hai trong cặp trao đáp đã đi ngược hướng với đích của
vế thứ nhất là một lời hỏi (hỏi giờ) nên đã tạo thành một cặp thoại không được ưu tiên