16 TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ QUỐC DÂN KHOA LUẬT BÀI TẬP LỚN MÔN HỌC TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH ĐỀ BÀI Anh, chị hãy tìm hiểu và phân tích quan điểm của Hồ Chí Minh về cơ cấu thành phần kinh tế trong thời kỳ quá[.]
Trang 1BÀI TẬP LỚN MÔN HỌC: TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH
ĐỀ BÀI: Anh, chị hãy tìm hiểu và phân tích quan điểm của Hồ Chí Minh về cơ cấu thành phần kinh tế trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam Sự vận dụng quan điểm nêu trên của Đảng Cộng sản Việt Nam trong việc phát triển cơ cấu thành phần kinh tế ở nước ta hiện nay.
Họ và tên sinh viên: Trịnh Đình Nguyên Anh
MSV: 11200412
Lớp tín chỉ: Tư tưởng Hồ Chí Minh 09
Giảng viên: TS Nguyễn Chí Thiện
Trang 3MỞ ĐẦU 1
PHẦN 1 QUAN ĐIỂM CỦA HỒ CHÍ MINH VỀ CƠ CẤU KINH TẾ TRONG THỜI KÌ QUÁ ĐỘ ĐI LÊN CHỦ NGHĨA XÃ HỘI Ở VIỆT NAM 2
1.1 Về thời kì quá độ đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam 2
1.1.1 Sơ lược về tính tất yếu đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam 2
1.1.2 Vì sao Việt Nam đi theo con đường quá độ gián tiếp 3
1.2 Về cơ cấu kinh tế trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam 3
1.2.1 Tính tất yếu khách quan của sự tồn tại nền kinh tế nhiều thành phần ở nước ta
3 1.2.2 Quan điểm Hồ Chí Minh về cơ cầu kinh tế nhiều thành phần trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội 4
1.2.3 Xác định cơ cấu các thành phần kinh tế 4
1.2.4 Nguyên tắc, mục tiêu cần hướng tới của nền kinh tế nhiều thành phần 9
PHẦN II: SỰ VẬN DỤNG QUAN ĐIỂM HỒ CHÍ MINH CỦA ĐẢNG VÀ NHÀ NƯỚC TRONG VIỆC PHÁT TRIỂN NỀN KINH TẾ NƯỚC TA HIỆN NAY 10
2.1 Phương hướng vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh 10
2.2 Quan điểm về vận dụng sáng tạo tư tưởng Hồ Chí Minh trong phát triển kinh tế nhiều thành phần của Đảng ta 11
2.3 Giải pháp của Đảng ta để thực hiện phát triển kinh tế nhiều thành phần theo tư tưởng Hồ Chí Minh 13
KẾT LUẬN 15
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 16
Trang 4MỞ ĐẦU
Chủ tịch Hồ Chí Minh được mệnh danh là người thầy vĩ đại của Cách mạng Việt Nam, đồng thời là một nhà hoạt động lỗi lạc của phong trào cộng sản quốc tế
và phong trào giải phóng dân tộc Với sự vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin vào điều kiện cụ thể của đất nước mình, Người đã đề ra những đường lối đúng đắn, đưa Cách mạng Việt Nam đi từ thắng lợi này đến thắng lợi khác
Trong các bài viết của mình, Bác nhấn mạnh: “Nước độc lập mà dân không được hạnh phúc, tự do, thì độc lập tự do cũng chẳng có nghĩa lý gì!” Trên đường đi tìm đường cứu nước, giải phóng dân tộc, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn nghĩ đến một xã hội mới, ở đó con người có cuộc sống ấm no, tự do, hạnh phúc; mà muốn có cuộc sống mới thì phải giành độc lập cho dân tộc, theo đó phải xây dựng đất nước vững mạnh về cả chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội
Đi lên chủ nghĩa xã hội là một tất yếu khách quan theo đúng quy luật tiến hóa của lịch sử Tuy nhiên, xây dựng chủ nghĩa xã hội ở một nước kinh tế kém phát triển như nước ta là quá trình phấn đấu đầy khó khăn và gian khổ, chưa có tiền lệ trong lịch
sử, song Đảng cộng sản Việt Nam, nhân dân Việt Nam vẫn kiên định con đường đi lên chủ nghĩa xã hội trong suốt hơn 85 năm qua Sự thành công trong công cuộc đổi mới xây dựng đất nước ngày nay chính là nhờ ngọn đèn dẫn lối sang suốt, mà ở đây chính là tư tưởng Hồ Chí Minh Chính vì vậy, tìm hiểu tư trưởng Hồ Chí Minh về xây dựng kinh tế trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội có ý nghĩa to lớn và thiết thực
Từ đó chúng ta thấy rằng cần phải tập trung nhiều hơn nữa trí lực và sức lực để nghiên cứu một cách toàn diện hơn, sâu sắc hơn tư tưởng kinh tế của Hồ Chí Minh để hiểu rõ hơn và vận dụng đúng đắn tư tưởng của Người vào công cuộc đổi mới xây dựng đất nước
Chính sách kinh tế nhiều thành phần đã được thực tế chứng minh là đúng đắn, phù hợp với quy luật phát triển của đất nước Cho đến nay vẫn tư tưởng ấy vẫn luôn còn nguyên giá trị, mang tính thời sự trong công cuộc phát triển đất nước Đó cũng là
lý do em chọn đề tài “Tìm hiểu và phân tích quan điểm của Hồ Chí Minh về cơ cấu kinh tế trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam? Sự vận dụng quan điểm nêu trên của Đảng và Nhà nước ta trong việc phát triển nền kinh tế nước ta hiện nay.”
Trang 5PHẦN 1 QUAN ĐIỂM CỦA HỒ CHÍ MINH VỀ CƠ CẤU KINH TẾ TRONG THỜI KÌ QUÁ ĐỘ ĐI LÊN CHỦ NGHĨA XÃ HỘI Ở VIỆT NAM
1.1 Về thời kì quá độ đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam
1.1.1 Sơ lược về tính tất yếu đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam
Thời kì quá độ được hiểu là giai đoạn cải biến cách mạng sâu sắc từ xã hội
cũ lên xã hội chủ nghĩa Vì vậy, nếu giai cấp công nhân và Đảng của nó muốn tạo nên một chế độ ưu việt và hoàn chỉnh thì phải trải qua giai đoạn này
Qua đây, có thể thấy có hai hình thức tiêu biểu của thời kì quá độ là: quá độ trực tiếp từ xã hội tư bản chủ nghĩa lên xã hội chủ nghĩa và quá độ gián tiếp từ một nước nông nghiệp lạc hậu tiến dần lên chủ nghĩa xã hội mà không đi qua giai đoạn tư bản chủ nghĩa
Theo như khoa học, thời kì quá độ phải đi từ quá độ trực tiếp, tức là quá độ
từ chủ nghĩa tư bản lên chủ nghĩa xã hội Tuy nhiên, đó là sự phát triển tột bậc mà chưa nước nào trên thế giới có thể trải qua Bởi cần lên được chế độ này, các tư liệu sản xuất phải đạt đến trình độ phát triển tột bậc, tạo nên sư phát triển bền vững Bên cạnh đó, cần phải có nhiều điều kiện khác như chế độ tư hữu bị thủ tiêu, chế độ sở hữu xã hội về tư liêu sản xuất, từ đó tạo nên bình đẳng xã hội, nhu cầu của mọi thành viên trong xã hội được thỏa mãn Vì vậy, có thể thấy việc quá độ gián tiếp lên
xã hội chủ nghĩa là một trong những hình thức phù hợp nhất
Thời kỳ quá độ gián tiếp đã diễn ra ở nhều nước trong đó có Việt Nam, Liên
Xô, Trung Quốc, các nước Đông Âu Mỗi nước có một trình độ phát triển văn hóa, xã hội, kĩ thuật khác nhau, vậy nên các nước sẽ phát triển với trình độ khác nhau
Có thể thấy, thời kì quá độ này có nhiều khó khăn hơn thời kì quá độ trực tiếp lên xã hội chủ nghĩa từ chủ nghĩa tư bản nhưng đã phần nào rút ngắn quá trình phát triển ban đầu Tuy nhiên, lịch sử đã cho thấy, đây là quá trình tốn rất nhiều thời gian, công sức, không thể một sớm một chiều Vì vậy việc đồng nhất quá trình quá độ khi chưa đủ cơ sở và tư liệu sản xuất, gây nên việc xác lập quan hệ sản xuất chủ nghĩa
xã hội một cách vội vã, gây nên những biến dạng, biến chất
Liên Xô cũ trước đây là một minh chứng cụ thể khi thời kì quá độ của đất nước này chỉ tập trung vào thay đổi về mặt chính trị mà không thay đổi kinh tế để phù hợp với đất nước, gây nên tình trạng tha hóa Việc tổ chức nền kinh tế theo hướng sở hữu tập thể khi trình độ xã hội chưa phát triển tạo nên các hình thái trá hình của tư hữu, điều khiến cho chế độ này nhanh chóng sụp đổ, kéo theo đó là sự sụp đỗ của chủ nghĩa xã hội ở các nước Đông Âu Vì vậy, để công cuộc đổi mới xây dựng đất nước
có thể thành công, cần phát triển đúng đắn nền kinh tế
Trang 61.1.2 Vì sao Việt Nam đi theo con đường quá độ gián tiếp.
Đây là điều tất yếu và phù hợp với hoàn cảnh đất nước Những luận điểm cho thấy con đường quá độ gián tiếp là phủ hợp với Việt Nam:
Thứ nhất, để đi lên xã hội chủ nghĩa xã hội từ xã hội tư bản là điều rất khó để
thực hiện và đến thời điểm bây giờ vẫn chưa có nước nào trên thế giới có thể thật
sự hoàn thành giai đoạn quá độ trực tiếp này
Thứ hai, theo như quan điểm Chủ nghĩa Mác – Lênin, các nước có kinh tế
chậm phát triển vẫn có thể tiến thẳng lên chủ nghĩa xã hội mà không cần đi qua chế
độ tư bản chủ nghĩa
Thứ ba, chủ nghĩa tư bản là chủ nghĩa sớm hay muộn gì cũng sẽ phải tiến lên
chủ nghĩa xã hội, ngoài ra bản chất của chủ nghĩa tư bản có nhiều điểm mâu thuẫn với các quan hệ sản suất, không phủ hợp với xu thế phát triển của xã hội loại người
Thứ tư, theo như tư tưởng Hồ Chí Minh về độc lập dân tộc, độc lập dân tộc
phải được biểu hiện ở tất cả mọi mặt của dân tộc Một dân tộc độc lập là dân tộc có quyền tự quyết trên mọi mặt như chính trị, lãnh thổ, kinh tế, quân sự, ngoại giao
Điều quan trọng đối với Việt Nam trong thời kì quá độ theo như Chủ tịch Hồ Chí Minh là nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa phải được xây dựng ngày càng trong sạch, vững mạnh Thời kì quá độ ở nước ta bắt đầu từ 1954 ở miền Bắc và từ
1975 ở miền Nam Việt Nam với xuất phát điểm là nước nông nghiệp lạc hậu, việc phát triển nền kinh tế nhiều thành phần sẽ khiến các năng lực sản xuất phát huy tốt hơn, từ đó khơi dậy sức sản xuất, tạo nên tiềm năng phát triển kinh tế đất nước
1.2 Về cơ cấu kinh tế trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam
1.2.1 Tính tất yếu khách quan của sự tồn tại nền kinh tế nhiều thành phần ở nước ta
Thành phần kinh tế là một kiểu quan hệ kinh tế được hình thành trên một hình thức sở hữu nhất định về tư liệu sản xuất Các thành phần kinh tế không tồn tại tiêng biệt mà có liên hệ chặt chẽ, tác động đan xen lẫn nhau tạo thành cơ cấu kinh tế thống nhất bao gồm nhiều thành phần kinh tế
Cơ cấu kinh tế nhiều thành phần trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội là
cơ cấu kinh tế trong đó các thành phần kinh tế cùng tồn tại và phát triển như một tổng thể, giữa chúng có mối quan hệ tác động vừa hợp tác, vừa cạnh tranh với nhau Sự tồn tại cơ cấu kinh tế nhiều thành phần là đặc trưng trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa
xã hội và là tất yếu thách quan bởi:
Một là, do đặc điểm của thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội là thời kỳ lịch
sử có sự đan xen giữa các yếu tố của xã hội cũ và xã hội mới, nền kinh tế có nhiều loại hình sở hữu về tư liệu sản xuất Các thành phản kinh tế cũ và các thành phần kinh
tế mới tồn tại khách quan, có quan hệ tác động qua lại, đan xen, bổ sung cho nhau, tạo
Trang 7nên sự đa dạng, các hình thức kinh tế và sản xuất kinh doanh Vì vậy trong thời kỳ quá độ có nhiều thành phần kinh tế
Hai là, nguyên nhân cơ bản của sự tồn tại cơ cầu kinh tế nhiều thành phần
trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội là do yêu cầu của quy luật quan hệ sản xuất phải phù hợp với tính chất và trình độ phát triển của lực lượng sản xuất Vì vậy, trong thời kỳ quá độ, quá trình xây dựng quan hệ sản xuất xã hội chủ nghĩa phải trên cơ
sở phát triển lực lượng sản xuất Trong thời kỳ quá độ ở nước ta, do trình độ lực lượng sản xuất còn hạn chế và phân bố không đều nên tất yếu còn tồn tại nhiều hình thức sở hữu tư liệu sản xuất, nhiều thành phần kinh tế
1.2.2 Quan điểm Hồ Chí Minh về cơ cầu kinh tế nhiều thành phần trong thời kỳ quá độ
lên chủ nghĩa xã hội
Tiếp thu và vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác- Lê nin vào tình hình cụ thể ở Việt Nam, Người khẳng định: “Con đường cách mạng Việt Nam là tiến hành giải phóng dân tộc, hoàn thành cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân, tiến dần lên chủ nghĩa xã hội”
Về thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội, Người chỉ rõ: “Việt Nam quá độ từ một nước nông nghiệp lạc hậu, thuộc địa và phong kiến lên chủ nghĩa xã hội thông qua phát triển tư bản chủ nghĩa Tính chất của nó là cuộc đấu tranh một mất, một còn giữa chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa tư bản Đặc điểm này sẽ chi phối, quy định nội dung con đường, hình thức, bước đi và cách làm của chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam”
1.2.3 Xác định cơ cấu các thành phần kinh tế
Tư tưởng Hồ Chí Minh về cơ cầu kinh tế nhiều thành phần theo được thể trong
“Hồ Chí Minh toàn tập”, nhưng rõ nhất trong hai tác phẩm là “Thường thức chính trị” (năm 1953) và “Báo cáo Dự thảo Hiến pháp năm 1959” Theo đó, về cơ cấu các thành phần kinh tế trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam, Bác cho rằng: “Có nước thì đi lên chủ nghĩa xã hội (cộng sản) như Liên Xô, có nước phải kinh qua chế độ dân chủ mới rồi tiền lên chủ nghĩa xã hội” như các nước Đông Âu, Trung Quốc, Việt Nam
Người lý giải, nước ta phải trải qua một giai đoạn đân chủ mới vì “Đặc điểm to lớn của thời lỳ quá độ là một nước nông nghiệp lạc hậu tiến thẳng lên chủ nghĩa xã hội không phải lãnh qua giai đoạn phát triển tự bản chủ nghĩa”
Từ đó, Bác xác định, cơ cấu các thành phần kinh tế trong thời kỳ quá độ ở nước ta và chỉ ra các loại hình kinh tế, các hình thức sở hữu khác biệt, nhưng được cố kết lại thành một chỉnh thể kinh tế - xã hội quá độ trong quá trình vận động Đặc biệt, khi sự tồn tại của các thành phẩn kinh tế khác nhau vẫn còn là một tất yếu khách quan
và có vai trò nhất định đối với sự phát triển của nên kinh tế, thì cần phải tiếp tục sử
Trang 8dụng, phát triển chúng theo định hướng xã hội chủ nghĩa.
Trong tác phẩm “Thường thức chính trị”, Người cho rằng, trong chế độ dân chủ mới, có 5 loại kinh tế khác nhau :
a Kinh tế quốc doanh
Còn được hiểu là kinh tế nhà nước, là thành phần kinh tế được dựa trên chế độ
sở hữu toàn dân về tư liệu sản xuất Bao gồm các yếu tố thuộc sở hữu nhà nước và các yếu tố thuộc sở hữu toàn dân mà Nhà nước được giao quyền đại diện chủ sở hữu và thống nhất quản lý, trong đó có doanh nghiệp Nhà nước
Kinh tế quốc doanh bao gồm các thành phần: Doanh nghiệp nhà nước, ngân sách nhà nước, ngân hàng nhà nước, các quỹ dự trữ quốc gia, các quỹ bảo hiểm nhà nước và các tài nguyên quốc gia, các tài sản khác thuộc sở hữu nhà nước có thể đựa vào vòng chủ chuyển kinh tế Theo Bác: “Kinh tế quốc doanh là nền tảng và sức lãnh đạo của dân chủ mới Cho nên chúng ta phải ra sức phát triển nó và nhân dân ta phải ủng hộ nó” Có thể hiểu lí do Người nhấn mạnh vai trò kinh tế quốc doanh như thế bởi vì:
Thứ nhất, trong thời kì quá độ, kinh tế quốc doanh giữ vững vai trò then chốt
trong việc đi đầu trong các ngành và lĩnh vực quan trọng của đất nước, đồng thời vai trò chủ đạo của kinh tế nhà nước được thể hiện ở việc ứng dụng khoa học, công nghệ nhằm cải thiện và nâng cao năng suất, sản lượng lao động
Thứ hai, kinh tế nhà nước có vai trò lớn, độc quyển trong các lĩnh vực có liên
quan đến an ninh quốc gia và các lĩnh vực quan trọng nhất như hàng hải, ngân hàng, Tuy nhiên nếu tỷ lệ thành phần này quá cao sẽ làm giảm tính cạnh tranh trên thị trường
Thứ ba, ngoài ra, kinh tế nhà nước là thành phần giúp điều tiết kinh tế vĩ mô
bằng các công cụ của mình như ngân hàng nhà nước hay ngân sách nhà nước Có thể thấy đây là vai trò quan trọng của kinh tế quốc doanh, đảm bảo cân bằng lượng tiền cung ứng trong xã hội, hạn chế tình trạng lam phát, đóng vai trò hàng đầu trong khắc phục, hạn chế những khuyết điểm của cơ chế thị trường
Với vai trò quan trọng của mình, kinh tế quốc doanh cần được hoàn thiện hơn về cơ chế, chính sách để từ đấy thúc đây tính cạnh tranh lành mạnh giữa các doanh nghiệp nhà nước, góp phần nâng cao hiệu quả của các thành phần kinh tế khansc trong nền kinh tế Đồng thời, cỗ phần hóa cũng là một phương pháp đang được thực hiện để đổi mới, nâng cao hiệu quả quản lý, năng lực sản xuất Ngoài ra, việc sát nhập, giải thể các doanh nghiệp Nhà nước không hoạt động không thật sự hiệu quả cũng là phương pháp giúp làm giảm thiệt hại, giảm những khoản chi ngân sách không đáng có tờ đấy hạn chế được tình trạng thâm hụt ngân sách
b Hợp tác xã
Trang 9Hồ Chí Minh từng viết: “Việt Nam là một nước sống về nông nghiệp Nền kinh tế của nước ta lấy canh nông làm gốc Trong công cuộc xây dựng nước nhà, Chính phủ trông mong vào nhân dân, trông mong vào nông nghiệp một phần lớn Nông dân giàu thì nước ta giàu Nông nghiệp nước ta thịnh thì nước ta thịnh Nông dân muốn giàu, nông nghiệp muốn thịnh, thì phải cần có hợp tác xã” Quan điểm của Người được thể hiện qua những đặc điểm nổi bật của hợp tác xã:
Một là, là tổ chức của tập thể, hợp tác xã mang tính tập thể rõ rệt Tổ chức
được lập nên từ mong muốn hợp tác trên tỉnh thần tự nguyện với mục đích tương trợ, giúp đỡ lẫn nhau
Hai là, các thành viên có thể lao động, sản xuất, đóng góp theo tinh thần tự
nguyện và có thể hưởng lợi từ những đóng góp của mình Cho thấy hợp tác xã là sự thể hiện của hình thái kinh tế mang tính cộng đồng, làm giảm số lượng cá nhân nhỏ lẻ không đủ điều kiện để sản xuất tạo nên của cải
Hợp tác xã có tư cách pháp nhân và chịu trách nhiệm trong pham vi vốn của mình Điều này có nghĩa các tài sản của hợp tác xã được quản lý theo các điều lệ đã thông qua từ trước và hoàn toàn độc lập với tài sản của các thành viên trong hợp tác
xã, tạo được niềm tin cho các cá nhẫn bởi sự an toàn khi quyết định đầu tư góp vốn
Ba là, ngoài việc tham gia sản xuất, góp vốn sản xuất cùng nhau, các thành
viên trong hợp tác xã cũng phân phối và cam kết sử dụng các hàng hóa, dịch vụ do chính hợp tác xã cung cấp Điều này tăng thêm sức mạnh liên kết trong hợp tác xã, tuy nhiên lại mang hạn chế, tạo nên gánh nặng cho các thành viên trong hợp tác xã khi không sử dụng dịch vụ, sản phẩm của hợp tác xã trong một thời gian
Về tổ chức hợp tác xã, Hồ Chí Minh nhấn mạnh nguyên tắc dần dần, từ thấp tới cao, tự nguyện, cùng có lợi, chống chủ quan, gò ép, hình thức Các quyền và nghĩa
vụ trong hợp tác xã hay còn gọi là kinh tế tập thể là bình đẳng, tự chủ, tự chịu trách nhiệm
Từ những đặc điểm nêu trên, có thể thấy tính xã hội được thể hiện rõ ở hợp tác
xã khi các cá nhân riêng lẻ có cơ hội để sản xuất, kinh doanh, từ đấy thúc đây phát triển kinh tế Ngoài ra, một hợp tác xã có đầy đủ các tư cách pháp nhân, được quản lý, được dựa trên cơ sở dân chủ bình đẳng nên không phân biệt việc các thành viên góp nhiều hay ít vốn mà vẫn có quyền trong việc biểu quyết, quyết định các vấn đề Trách nhiệm hữu hạn nằm trong phạm vi vốn góp của hợp tác xã tạo nên niềm tin cho những người góp vốn, tránh được tâm lý lo lắng khi kinh doanh
Tuy nhiên, việc bình đẳng trong quyền biểu quyết, quyết định có thể khiến cho các cá nhân không muốn góp vốn nhiều hoặc không tham gia vì họ có thể không nhận lại được lợi ích lớn như khoản vốn mà mình đóng góp vào dẫn đến việc khả năng huy động vốn của hợp tác xã là không cao Bên cạnh đó, vì số lượng thành viên
có thể rất đông nên sẽ khó quản lý và có nhiều vấn đề khó khăn
Trang 10c Kinh tế cá nhân, nông dân, thủ công nghệ
Có thể coi là kinh tế cá thể, là thành phần kinh tế dựa trên quy mô và tư liệu sản xuất nhỏ Trong thành phần kinh tế này, lợi nhuận chủ yếu dựa trên năng suất của người lao động Ở hình thái phát triển hơn, kinh tế cá nhân trở thành kinh tế tiểu chủ,
có thuê mướn lao động tuy vậy thu nhập vẫn chủ yếu dựa vào sức lao động cũng như vốn của bản thân, gia đình
Kinh tế cá nhân tồn tại trong nhiều ngành nghề, lĩnh vực và có thể phát triển được cả ở khu vực nông thôn và thành thị Vì vậy, đây là thành phần kinh tế có nhiều tiềm năng phát triển, mang tính lâu dài, góp phần tạo ra nhiều của cải cho xã hội cũng như giải quyết được vấn đề nhu cầu việc làm
Khi nước ta bước vào thời kì quá độ, mở cửa thương mại, cơ cấu kinh tế dần chuyển từ nền kinh tế kế hoạch sang nên kinh tế thị trường Trong nền kinh tế thị trường, kinh tế cá thể là một trong những thành phần quan trọng góp phần tạo ra sản phẩm cho xã hội phù hợp với điều kiện kinh tế có quy mô nhỏ và lao động trình độ thấp Vì vậy, đây là một trong những thành phần kinh tế sẽ ngày càng chiếm tỷ trọng cao và giải phóng được một lượng lao động nhàn rỗi Thành phần kinh tế cá nhân có một số đặc điểm sau:
Thứ nhất, kinh tế cá nhân xuất hiện ở mọi lĩnh vực như ăn uống, du lịch, giao thông, vận tải, thương nghiệp, sản xuất với các nguồn vốn, các công cụ sản xuất thuộc về tư hữu Người tiểu chủ sẽ đóng vai trò là người tự bỏ vốn của mình ra kinh doanh và trả tiền cho việc thuê lao động như chi phí kinh doanh Vì vậy loại hình kinh doanh này mang tính tự chủ cao
Thứ hai, kinh tế cá thể giúp thúc đẩy sự tìm tòi, sáng tạo để tìm ra các các cách thức mới để tạo ra sản phẩm thay vì phụ thuộc vào kinh tế kế hoạch
Thứ ba, ở loại hình kinh tế này có nhiều tiềm năng về khai thác cả giá trị truyền thống, vận dụng để có thể tạo ra được lợi nhuận rnà không cần bỏ nhiều vốn, đặc biệt là trong tình hình thiếu vốn như nền kinh tế nước ta hiện nay
Thứ tư, tuy nhiên, khi sản xuất theo hình thức cá thể, một số hạn chế vốn có vẫn luôn tồn tại như tình tự phát, nhỏ lẻ, kĩ thuật không được đảm bảo, dẫn tới việc không phát triển theo định hướng thị trường
Qua những đặc điểm trên, có thể thấy kinh tế cá nhân là thành phần kinh tế
có vai trò quan trọng và tiềm lực phát triển tuy nhiên cần được đầu tư và định hướng
rõ ràng hơn cho sự phát triển lâu dài, bền vững
d Kinh tế tư nhân
Là thành phần kinh tế mà trong đó, các tư liệu sản xuất thuộc về sở hữu của tư nhân Tư nhân quản lý doanh nghiệp và hưởng lợi nhuận từ hoạt động kinh doanh của mình Thành phần cấu thành kinh tế tư nhân bao gốm kinh tế cá thể tiểu