NHÓM 8 ĐỀ TÀI MỐI QUAN HỆ GIỮA CHÍNH SÁCH PHÁP LUẬT CẠNH TRANH VÀ CHÍNH SÁCH PHÁP LUẬT BẢO VỆ QUYỀN LỢI NGƯỜI TIÊU DÙNG I Chính sách pháp luật 1 Yêu cầu điều tiết của Nhà Nước đối với cạnh tranh Cạnh[.]
Trang 1NHÓM 8
ĐỀ TÀI : MỐI QUAN HỆ GIỮA CHÍNH SÁCH PHÁP LUẬT CẠNH TRANH VÀ CHÍNH SÁCH PHÁP LUẬT BẢO VỆ QUYỀN LỢI NGƯỜI
TIÊU DÙNG
Trang 2I Chính sách pháp luật
1 Yêu cầu điều tiết của Nhà Nước đối với cạnh tranh
- Cạnh tranh có sự điều tiết của Nhà nước là hình thức cạnh tranh mà ở đó Nhà nước bằng các chính sách và công cụ pháp luật can thiệp vào đời sống thị trường
để điều tiết, hướng các quan hệ cạnh tranh vận động và phát triển trong một trật tự, đảm bảo sự phát triển công bằng và lành mạnh
- Yêu cầu về sự điều tiết của Nhà nước đối với cạnh tranh xuất phát từ nhận thức của con người về mặt trái của cạnh tranh tự do và sự bất lực của bàn tay vô hình trong việc điều tiết đời sống kinh tế Với lợi nhuận và khả năng sáng tạo những thủ pháp cạnh tranh trong kinh doanh, các doanh nghiệp khi tham gia thương trường
đã không ngừng tiến hành cải tiến và nâng cao trình độ công nghệ, trình độ quản lí lao động, quản lí sản xuất kinh doanh để đáp ứng ngày càng tốt hơn nhu cầu của khách hàng Bên cạnh những tính toán để nâng cao khả năng kinh doanh một cách chính đáng, còn phát sinh nhiều toan tính không lành mạnh nhằm tiêu diệt đối thủ
để chiếm lĩnh vị trí thống trị thị trường, giảm bớt sức ép của cạnh tranh, nhiều thủ đoạn chiếm đoạt thị phần của người khác một cách bất chính, lừa dối khách hàng
để trục lợi…
=> Sự can thiệp của Nhà nước để điều tiết môi trường cạnh tranh nhằm vừa bảo vệ trật tự cạnh tranh vừa tôn trọng quyền tự do và tự chủ của các doanh nghiệp trên thương trường
2 Khái niệm chính sách cạnh tranh
- Chính sách cạnh tranh bao gồm tất cả các biện pháp của Nhà nước nhằm duy trì cạnh tranh, một mặt chủ động tạo ra các tiền đề cho cạnh tranh, mở cửa thị trường, loại bỏ các cản trở xâm nhập thị trường, mặt khác thực thi các biện pháp chống lại các chiến lược hạn chế cạnh tranh của các doanh nghiệp
- Có một cách hiểu chính sách cạnh tranh theo nghĩa hẹp, theo đó nó bao gồm các qui tắc và qui định nhằm thúc đẩy cạnh tranh trong một nền kinh tế quốc dân, một phần thông qua việc phân bổ có hiệu quả hơn nguồn tài nguyên
=> Với cách hiểu này, pháp luật cạnh tranh là nội dung cơ bản của chính sách cạnh tranh Nó bao gồm các qui định chống các hành vi cạnh tranh không lành mạnh và những biện pháp chống các hành vi hạn chế cạnh tranh
- Chính sách cạnh tranh được hiểu theo nghĩa rộng, bao gồm tổng hợp các biện pháp xây dựng môi trường cạnh tranh trong đời sống kinh tế, các biện pháp duy trì
Trang 3trật tự cạnh tranh lành mạnh, bảo vệ lợi ích chính đáng của doanh nghiệp và người tiêu dùng Trong đó, nội dung quan trọng của pháp luật cạnh tranh với hai bộ phận cấu thành cơ bản là pháp luật chống các hành vi cạnh tranh không lành mạnh và pháp luật chống các hành vi hạn chế cạnh tranh aI Chính sách pháp luật
3 Nội dung của chính sách cạnh tranh
- Theo quy định tại Điều 6 Luật Cạnh tranh 2018 (Có hiệu lực thi hành từ ngày 01/07/2019) thì chính sách của Nhà nước về cạnh tranh được quy định
cụ thể như sau:
+Tạo lập, duy trì môi trường cạnh tranh lành mạnh, công bằng, bình đẳng, minh bạch
+Thúc đẩy cạnh tranh, bảo đảm quyền tự do cạnh tranh trong kinh doanh của doanh nghiệp theo quy định của pháp luật
+Tăng cường khả năng tiếp cận thị trường, nâng cao hiệu quả kinh tế, phúc lợi xã hội và bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng
+Tạo điều kiện để xã hội, người tiêu dùng tham gia quá trình giám sát việc thực hiện pháp luật về cạnh tranh
+Luật Cạnh tranh 2018 điều chỉnh chung về các quan hệ cạnh tranh Việc điều tra, xử lý vụ việc cạnh tranh, miễn trừ đối với thỏa thuận hạn chế cạnh tranh bị cấm và thông báo tập trung kinh tế phải áp dụng quy định của Luật Cạnh tranh 2018
+Trường hợp luật khác có quy định về hành vi hạn chế cạnh tranh, hình thức tập trung kinh tế, hành vi cạnh tranh không lành mạnh và việc xử lý hành vi cạnh tranh không lành mạnh khác với quy định của Luật Cạnh tranh 2018 thì
áp dụng quy định của luật đó
4 Chính sách cạnh tranh và vấn đề tự do hóa thương mại
a Chính sách cạnh tranh
- Chính sách cạnh tranh (tiếng Anh: Competition policy) bao gồm cả pháp luật, cơ chế bảo đảm thực hiện, cũng như những biện pháp kinh tế kích thích cạnh tranh trên thị trường
- Chính sách cạnh tranh bao gồm tất cả các biện pháp của Nhà nước nhằm duy trì cạnh tranh, một mặt chủ động tạo ra các tiền đề cho cạnh tranh, mở cửa thị trường, loại bỏ các barrier cản trở xâm nhập thị trường, mặt khác
Trang 4thực thi các biện pháp chống lại các chiến lược hạn chế cạnh tranh của các doanh nghiệp
- Khái niệm chính sách cạnh tranh theo cách hiểu này bao gồm cả pháp luật,
cơ chế bảo đảm thực hiện, cũng như những biện pháp kinh tế kích thích cạnh tranh trên thị trường
- Có một cách hiểu chính sách cạnh tranh theo nghĩa hẹp, theo đó nó bao gồm các qui tắc và qui định nhằm thúc đẩy cạnh tranh trong một nền kinh tế quốc dân, một phần thông qua việc phân bổ có hiệu quả hơn nguồn tài nguyên
- Với cách hiểu này, pháp luật cạnh tranh là nội dung cơ bản của chính sách cạnh tranh Nó bao gồm các qui định chống các hành vi cạnh tranh không lành mạnh và những biện pháp chống các hành vi hạn chế cạnh tranh
- Chính sách cạnh tranh được hiểu theo nghĩa rộng, bao gồm tổng hợp các biện pháp xây dựng môi trường cạnh tranh trong đời sống kinh tế, các biện pháp duy trì trật tự cạnh tranh lành mạnh, bảo vệ lợi ích chính đáng của doanh nghiệp và người tiêu dùng
- Trong đó, nội dung quan trọng của pháp luật cạnh tranh với hai bộ phận cấu thành cơ bản là pháp luật chống các hành vi cạnh tranh không lành mạnh và pháp luật chống các hành vi hạn chế cạnh tranh
- Vai trò chính sách
+Về vai trò của chính sách cạnh tranh, tùy thuộc vào điều kiện kinh tế xã hội, mỗi quốc gia khác nhau sẽ trao cho chính sách cạnh tranh những nhiệm
vụ khác nhau
+Với sự ổn định về đầu tư, về trình độ công nghệ và nhịp độ tăng trưởng kinh tế, chính sách cạnh tranh của Hoa Kỳ tập trung vào các nhiệm vụ tăng phúc lợi cho người tiêu dùng và bảo vệ quá trình cạnh tranh, tăng hiệu quả kinh tế
+Đối với Việt Nam, công cuộc đổi mới diễn ra xấp xỉ hai mươi năm, tuổi đời thị trường còn quá non trẻ, các thiết chế của thị trường chưa hình thành đầy đủ và chưa đồng bộ Do đó, chính sách cạnh tranh còn tập trung vào việc xây dựng một thị trường cạnh tranh thực sự và hướng tới việc hình thành dần các thiết chế cần thiết để duy trì và bảo vệ môi trường cạnh tranh lành mạnh
+Các nhiệm vụ nổi bật trong quá trình đó là thu hút đầu tư để hình thành thị trường cạnh tranh; phân bổ các yếu tố sản xuất một cách tối ưu, chuyển
Trang 5nguồn lực xã hội từ nơi kém hiệu quả sang nơi hiệu quả hơn; xây dựng môi trường kinh doanh và cạnh tranh bình đẳng; điều chỉnh hành vi cạnh tranh của các doanh nghiệp; bảo vệ người tiêu dùng
b Tự do hóa thương mại
- Tự do hóa thương mại, một mặt, với nội dung giảm thiểu, từng bước xóa
bỏ hàng rào thuế quan và phi thuế quan cản trở giao lưu hàng hóa và dịch
vụ, phù hợp với xu thế quốc tế hóa đời sống kinh tế, toàn cầu hóa và khu vực hóa kinh tế, trên cơ sở lý thuyết “lợi thế so sánh” và quan điểm kinh tế mở Dưới góc độ đó, đối với các quốc gia, tự do hóa thương mại là một tất yếu khách quan, một mục tiêu cần đạt Mặt khác, tự do hóa thương mại mà hệ quả là “mở cửa” thị trường nội địa cho hàng hóa, dịch vụ nước ngoài xâm nhập, thường có lợi cho các nước phát triển, có tiềm lực về kinh tế, khoa học
và công nghệ, hàng hóa và dịch vụ có sức cạnh tranh cao và về cơ bản không
có lợi cho các nước đang phát triển, nhất là những quốc gia mà hàng hóa và dịch vụ chưa đủ sức cạnh tranh với hàng hóa và dịch vụ của nước ngoài, ngay ở thị trường trong nước
- Tự do hóa thương mại là một quá trình, theo đó, bất kỳ quốc gia nào, dù lớn hay nhỏ, dù phát triển hay đang phát triển, đều phải xuất phát từ lợi ích của bản thân và phải căn cứ vào điều kiện cụ thể của mình để xử lý vấn đề, trên cơ sở kết hợp 2 mặt đối lập: Tự do và bảo hộ trong chính sách thương mại với mức độ khác nhau, tùy thuộc vào điều kiện từng nước, từng giai đoạn phát triển
- Nghiên cứu cách thức các quốc gia tiến hành tự do hóa thương mại, xét về những yếu tố chung, có thể tóm tắt như sau:
+Giảm những hạn chế về hạn ngạch
● Việc giảm hạn ngạch là một trong những nội dung quan trọng của cải cách thương mại theo hướng tự do hóa Thay chế độ cấp hạn ngạch bằng chế độ thuế là việc làm phổ biến của các nước tiến hành cải cách theo hướng tự do hóa thương mại Tuy nhiên trong một số trường hợp, chế độ hạn ngạch có ý nghĩa là biện pháp phân bổ nguồn dự trữ ngoại
tệ khan hiếm Với các nhu cầu quan trọng (cả ở chiều xuất khẩu lẫn ở chiều nhập khẩu), nhà nước có thể khống chế việc cân đối cung - cầu, nhất là đối với những nước quan hệ cung - cầu còn căng thẳng Xu
Trang 6hướng chung là giảm mạnh, chỉ giữ một số lượng khống chế bằng hạn ngạch tối thiểu, hoặc xóa hạn ngạch hoàn toàn
+ Tiến đến một tỷ giá hối đoái thực tế
● Sự thay đổi giá cả tương ứng với sự thay đổi giá đồng bản tệ sẽ thúc đẩy việc sản xuất và kinh doanh hàng xuất khẩu phát triển Giai đoạn tiếp theo là cố gắng ổn định tỷ giá hối đoái thực tế, tránh sự lên -xuống đột biến của nó Ngoài những biện pháp nghiệp vụ kỹ thuật của ngân hàng, còn phải thực hiện đồng bộ các chính sách tài chính và các biện pháp chống lạm phát hữu hiệu
+ Các chính sách kinh tế vĩ mô đúng đắn
● Thứ nhất, thực hiện chiến lược mở cửa và hội nhập, hợp tác và phối hợp chính sách quốc tế Xác định mở cửa kinh tế là động lực quan trọng để đẩy mạnh xuất khẩu trong bối cảnh toàn cầu hóa Tự do hóa thương mại và đầu tư đóng vai trò quan trọng trong các chương trình cải cách, là một trong những cách thức, công cụ và biện pháp chủ yếu
để phát triển, mở rộng thị trường xuất, nhập khẩu hàng hóa của quốc gia Thứ hai, nỗ lực gia tăng việc thực hiện cải cách thể chế ngoại thương Thứ ba, áp dụng nhiều công cụ, biện pháp khuyến khích, hỗ trợ xuất khẩu, như miễn, giảm thuế xuất khẩu, hoàn thuế giá trị gia tăng hàng xuất khẩu, miễn thuế đầu vào nhập khẩu cho chế biến xuất khẩu, tài trợ và xúc tiến xuất khẩu Tuy nhiên, không nên khuyến khích xuất khẩu bằng mọi giá mà cần chú trọng xây dựng và thực thi các biện pháp, chính sách hạn chế, cấm xuất khẩu phù hợp với cam kết quốc tế để thực hiện các mục tiêu phát triển bền vững về xã hội và môi trường
+ Xây dựng lộ trình cải cách hợp lý
● Những chương trình cải cách thường thất bại nếu bắt tay ngay vào xử
lý việc tự do hóa thị trường vốn, trước khi tiến hành tự do hóa thương mại Vì vậy, chú trọng xây dựng năng lực thể chế và chuyên môn
Trang 7song song với việc đào tạo cán bộ có trình độ về kinh tế thị trường, pháp luật kinh doanh quốc tế, với cải cách thủ tục hành chính, đặc biệt là việc xử lý mối quan hệ giữa nhà nước và thị trường là những tiền đề quan trọng; chấn chỉnh và sửa đổi các định chế tài chính của nhà nước, cơ chế điều hành, quản lý các ngân hàng thương mại cũng như xử lý mối quan hệ giữa ngân hàng và doanh nghiệp; thúc đẩy quốc tế hóa các doanh nghiệp trong nước, khuyến khích các doanh nghiệp đầu tư ra nước ngoài, thâm nhập sâu rộng vào thị trường thế giới và triển khai một chiến lược phát triển thị trường xuất khẩu toàn diện, hiệu quả, lâu dài trên quy mô toàn cầu; tăng cường năng lực xây dựng và thực thi các biện pháp kỹ thuật đối với thương mại (TBT), các biện pháp vệ sinh và kiểm dịch động, thực vật (SPS), để bảo hộ sản xuất và bảo vệ thị trường trong nước; đàm phán, yêu cầu mở rộng hơn các điều kiện tiếp cận thị trường và kết hợp xuất, nhập khẩu với các đối tác thương mại chủ yếu nhằm cân bằng cán cân thương mại; phân tích, đánh giá sâu sắc tác động của các hiệp định thương mại tự
do (FTA) đối với phát triển kinh tế, thương mại của quốc gia trước khi quyết định có nên tham gia FTA hay không
- Kinh nghiệm đối với Việt Nam
+Trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa, tự do hóa thương mại là một xu thế khách quan, không thể đảo ngược, cần được thúc đẩy mạnh mẽ, song phải có bước đi phù hợp với đặc điểm, điều kiện nước ta và yêu cầu hội nhập với bên ngoài, bảo đảm lợi ích quốc gia
+Hiện nay, bức tranh tăng trưởng của Việt Nam vẫn tiềm ẩn rủi ro Việt Nam mới đơn thuần tận dụng được lợi ích tĩnh - chuyên môn hóa và gia tăng xuất khẩu các mặt hàng có lợi thế so sánh hiện có, mà chưa tận dụng được các lợi ích động mang tính dài hạn, đặc biệt là việc tạo động lực cho đổi mới
và sáng tạo, phát huy tối đa nội lực nhằm tiến tới các vị trí có giá trị gia tăng cao hơn trong chuỗi sản xuất toàn cầu Trong khi đó, thương mại đa phương với những nguyên tắc cơ bản đã được định hình cùng với quan điểm chính sách tự do, mở cửa đang phải đối mặt với thách thức nảy sinh từ quan điểm dân tộc và chủ nghĩa bảo hộ của một số quốc gia
Trang 8� Đây sẽ là thách thức không nhỏ đối với Việt Nam, một quốc gia có quy
mô thương mại (xuất, nhập khẩu) lớn gần gấp 2 lần tổng sản phẩm trong nước (GDP) Trong việc xác định bước đi của quá trình tự do hóa thương mại, cần phải tính toán, cân nhắc nhiều yếu tố (có mặt mâu thuẫn nhau), như bảo hộ hợp lý sản xuất trong nước; bảo đảm cán cân ngoại thương hợp lý; bảo đảm xuất, nhập khẩu cân bằng trong một thời gian xác định; yêu cầu hội nhập với khu vực và thế giới;
+Trong lĩnh vực kinh tế đối ngoại, quá trình tự do hóa được thực hiện từng bước với việc giảm chỉ tiêu pháp lệnh từ bên trên, mở rộng quyền tự chủ cho địa phương và cơ sở trong xuất, nhập khẩu; trong định giá và gần đây là hạn chế đến mức tối thiểu danh mục mặt hàng khống chế hạn ngạch
+ Tổ chức sắp xếp, xác định vị trí các thành phần kinh tế tham gia lưu thông hàng hóa cho phù hợp với quá trình xã hội hóa sản xuất, kinh doanh, thực hiện kiểm soát của Nhà nước đối với các hoạt động thương mại, đổi mới cơ chế, chính sách quản lý cho phù hợp với mô hình thương mại nhiều thành phần là vấn đề mang tính lý luận và thực tiễn cấp bách, sâu sắc
+Kiểm soát và hạn chế nhập khẩu có ý nghĩa quan trọng Tuy nhiên, nếu thực thi một cách quyết liệt sẽ tác động rất lớn đến quá trình mở cửa và hội nhập kinh tế quốc tế Việc hoàn thiện và đổi mới chính sách nhập khẩu để khuyến khích nhập khẩu cạnh tranh nhằm đổi mới công nghệ, phát triển công nghiệp phụ trợ, nâng cao khả năng cạnh tranh của hàng xuất khẩu và hàng sản xuất thay thế nhập khẩu có thể xem là hướng đi - định hướng hợp quy luật trong bối cảnh hiện nay Theo đó cần tiếp tục:
1- Mở rộng và đa dạng hóa thị trường nhập khẩu, hạn chế sự phụ thuộc quá mức vào một số thị trường Hết sức chú trọng các thị trường Liên minh châu Âu (EU), Mỹ, Nhật Bản - những thị trường có công nghệ cao, công nghệ nguồn;
2- Có chính sách cởi mở để khuyến khích, thu hút đầu tư phát triển các ngành công nghiệp hỗ trợ nhằm từng bước giảm thấp việc nhập khẩu; 3- Xây dựng và hoàn thiện hệ thống tiêu chuẩn kỹ thuật Mở rộng hợp tác khu vực để hài hòa hóa tiêu chuẩn Tăng cường kiểm tra tiêu chuẩn kỹ
Trang 9thuật đối với hàng nhập khẩu nhằm hạn chế và tiến tới loại bỏ việc nhập khẩu công nghệ cũ, công nghệ lạc hậu
+Vấn đề nâng cao năng lực cạnh tranh cho doanh nghiệp, cần bắt đầu từ việc tạo một môi trường kinh doanh thuận lợi mà ở đó, doanh nghiệp có thể hoạt động theo các quy luật của thị trường Thực tế cho thấy, môi trường kinh doanh vẫn chưa thực sự thông thoáng và do đó, tự do hóa với bên ngoài chưa thực sự đi kèm với tự do hóa các nguồn lực bên trong
� Có thể nói, chưa bao giờ nền kinh tế thế giới chứng kiến những biến động nhanh, phức tạp và khó đoán định như hiện nay Mặc dù các thị trường xuất khẩu được mở rộng thông qua các FTA nhưng chúng ta cũng gặp phải những khó khăn rất lớn trước sự gia tăng của chủ nghĩa bảo hộ, các hàng rào kỹ thuật và các biện pháp phòng vệ thương mại của nhiều thị trường nhập khẩu lớn Cuộc chiến thương mại Mỹ - Trung Quốc và diễn biến kinh tế - chính trị phức tạp ở nhiều quốc gia và khu vực trên thế giới
đã tạo ra nhiều thách thức lớn cho hoạt động xuất, nhập khẩu nói riêng và nền kinh tế Việt Nam nói chung
II Chính sách pháp luật bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng
1 Sự cần thiết phải xây dựng chính sách pháp luật bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng
Bảo vệ người tiêu dùng là một trong những vấn đề thu hút sự quan tâm của toàn
xã hội Không chỉ tại Việt Nam, mà ở hầu hết các nước trên thế giới đều rất coi trọng công tác bảo vệ người tiêu dùng chính là bảo vệ sự phát triển bền vững của
xã hội Do đó, nhiều quốc gia đã sớm ban hành các đạo luật với mục đích bảo vệ các quyền và lợi ích hợp pháp của người tiêu dùng
Việt Nam đang trong quá trình hội nhập sâu rộng vào nền kinh tế thế giới, từng bước trưởng thành và khẳng định được vị thế của mình trên trường quốc tế Trong gần 30 năm qua, Việt Nam đã có những bước tiến to lớn về kinh tế và xã hội Để tiếp tục duy trì và phát huy những thành tích ấy, buộc Nhà nước phải đưa
ra được những chính sách phát triển mang tính bền vững, trong đó chính sách bảo vệ người tiêu dùng là một trong những chính sách quan trọng nhất Có thể nói, chính sách bảo vệ người tiêu dùng hiệu quả sẽ làm cho cuộc sống của người
Trang 10dân trở nên tốt hơn, xã hội phát triển vững chắc hơn Mặt khác, khi các quyền lợi của người tiêu dùng được bảo đảm sẽ trở thành động lực mạnh mẽ giúp phát triển nền kinh tế Vì vậy, bảo vệ người tiêu dùng mà bộ phận quan trọng nhất là pháp luật bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng đang là một chính sách được hầu hết các nước trên thế giới quan tâm xây dựng và thực thi
Tại Việt Nam, để bảo đảm quyền lợi của người tiêu dùng được tôn trọng và bảo
vệ, góp phần quan trọng trong việc tạo môi trường kinh doanh lành mạnh và sự phát triển của đất nước, ngày 7-11-2010, tại kỳ họp thứ 8 Quốc hội khóa XII nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam đã thông qua Luật bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng và có hiệu lực thi hành từ ngày 1-7-2011
2 Quy định PL chính sách bảo vệ người tiêu dùng
Một nền pháp chế văn minh phải ưu tiên bảo vệ kẻ yếu Có lẽ vì thế, pháp luật
về quyền của người tiêu dùng luôn là một bộ phận không thể thiếu trong hệ thống pháp luật thương mại của các quốc gia phát triển và đã trở thành vấn đề pháp lý quốc tế
Tại Việt Nam, với quan niệm người tiêu dùng là chủ thể trong các giao dịch thương mại – dân sự, pháp luật luôn hướng đến việc bảo vệ sự công bằng và duy trì tính minh bạch của các hợp đồng là đối tượng điều chỉnh của Bộ luật Dân
sự, Luật Thương mại … Bảo vệ người tiêu dùng đã thực sự trở thành một lĩnh vực pháp luật độc lập và có vị trí đáng kể trong hệ thống pháp luật thương mại kể từ khi Pháp lệnh về Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng (Pháp lệnh) được ban hành năm 1999 và tiếp nối thừa kế phát huy thêm một số quyền và lợi ích là luật bảo vệ người tiêu dùng 2010
- Theo quy định tại Điều 5 Luật bảo vệ người tiêu dùng 2010 thì chính sách của Nhà nước về bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng được xác định như sau:
● Tạo điều kiện thuận lợi để tổ chức, cá nhân chủ động tham gia vào việc bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng
● Khuyến khích tổ chức, cá nhân ứng dụng, phát triển công nghệ tiên tiến
để sản xuất hàng hóa, cung ứng dịch vụ an toàn, bảo đảm chất lượng
● Triển khai thường xuyên, đồng bộ các biện pháp quản lý, giám sát việc tuân thủ pháp luật của tổ chức, cá nhân kinh doanh hàng hóa, dịch vụ