ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI KHOA LUẬT TIỂU LUẬN KẾT THÚC HỌC PHẦN QUẢN TRỊ CÔNG TY Đề tài Phân tích và bình luận về trách nhiệm và nghĩa vụ của người đại diện trong quản trị công ty theo pháp luật Việt Na[.]
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT
TIỂU LUẬN KẾT THÚC HỌC PHẦN
QUẢN TRỊ CÔNG TY
Đề tài: Phân tích và bình luận về trách nhiệm và nghĩa vụ của người đại diện trong quản trị công ty theo pháp luật Việt Nam
Giảng viên: TS.GVC.Phan Thị Thanh Thủy
Hà Nội, 01/2022
Trang 2MỤC LỤC
A ĐẶT VẤN ĐỀ 2
B GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ 2
Chương 1 Một số khái niệm 3
Chương 2 Trách nhiệm và nghĩa vụ của người đại diện trong quản trị công ty 3
2.1 Đối với người đại diện theo pháp luật 3
2.2 Đối với người đại diện theo ủy quyền 6
Chương 3 Một số bất cập và đề xuất hoàn thiện chế định đại diện trong doanh nghiệp 8
3.1 Một số bất cập 8
3.2 Đề xuất hoàn thiện pháp luật 8
C KẾT LUẬN 9
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 9
Trang 3A ĐẶT VẤN ĐỀ
Sự ra đời của Luật Doanh nghiệp năm 2020 (LDN 2020) đã thay thế Luật Doanh nghiệp năm 2014 đã cập nhật và sửa đổi một số quy định để phù hợp hơn với các nguyên tắc quản trị doanh nghiệp đang được cả thế giới áp dụng, giúp pháp luật Việt Nam đồng
bộ với pháp luật thế giới Một trong những chế định quan trọng là về người đại diện cho doanh nghiệp, tuy đã được pháp luật quy định rõ ràng nhưng trên thực tế việc áp dụng vẫn gặp nhiều khó khăn, nảy sinh tranh chấp
Với mục đích tiếp cận chế định về đại diện trong quản trị công ty trên cơ sở pháp luật Việt Nam, đi sâu phân tích vào các vấn đề: vai trò người đại diện, nghĩa vụ và trách nhiệm của người đại diện theo pháp luật và theo ủy quyền, từ đó nêu ra một số hạn chế và
định hướng hoàn thiện pháp luật Vì vậy, lựa chọn đề tài “Phân tích và bình luận về trách nhiệm và nghĩa vụ của đại diện trong quản trị công ty theo pháp luật Việt Nam”
làm tiểu luận kết thúc học phần là có tính cấp thiết
Trang 4B GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ
Chương 1 Một số khái niệm
Chế định đại diện được ghi nhận trong Luật Doanh nghiệp bao gồm hai hình thức đại diện là đại diện theo pháp luật và đại diện theo ủy quyền
Người đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp là cá nhân đại diện cho doanh nghiệp thực hiện các quyền và nghĩa vụ phát sinh từ giao dịch của doanh nghiệp, đại diện cho doanh nghiệp với tư cách người yêu cầu giải quyết việc dân sự, nguyên đơn, bị đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trước Trọng tài, Tòa án và các quyền, nghĩa vụ khác theo quy định của pháp luật (khoản 1 Điều 12 LDN 2020)
Người đại diện theo ủy quyền của doanh nghiệp là là cá nhân được ủy quyền bằng văn bản nhân danh chủ sở hữu, thành viên, cổ đông đó thực hiện quyền và nghĩa vụ theo quy định của pháp luật doanh nghiệp (khoản 1 Điều 14 LDN 2020)
Chương 2 Trách nhiệm và nghĩa vụ của người đại diện trong quản trị công ty
2.1 Đối với người đại diện theo pháp luật
a Về thẩm quyền của người đại diện theo pháp luật
Ngay từ khái niệm đại diện theo pháp luật quy định trong LDN 2020 đã thấy được chức năng và thẩm quyền của họ: Là cá nhân có vai trò nhân danh, đại diện doanh nghiệp thực hiện quyền và nghĩa vụ phát sinh từ giao dịch của doanh nghiệp và là người đại diện cho doanh nghiệp trong tố tụng tại Tòa án hoặc Trọng tài
Tuy nhiên quy định này của LDN 2020 đã không đồng nhất với quy định về đại diện cho pháp nhân trong Bộ luật Dân sự năm 2015 (BLDS 2015) Pháp luật dân sự quy định người đại diện cho pháp nhân có thể nhân danh pháp nhân xác lập giao dịch với bên thứ
ba Tuy nhiên LDN 2020 lại không cụ thể hóa quy định này mà lại mở rộng quyền hạn của người đại diện theo hướng quy định “thực hiện nghĩa vụ khác theo quy định của pháp luật”
Trang 5Mặc dù vậy, trên thực tế, người đại diện theo pháp luật vẫn có thể nhân danh công ty xác lập giao dịch với bên thứ ba chỉ cần quyền hạn này được quy định trong điều lệ công ty
b Về quy định nhiều người đại diện theo pháp luật
Quy định này đặt ra nhằm giúp các doanh nghiệp quy mô lớn có thể dễ dàng xác lập giao dịch một cách thuận tiện và nhanh chóng hơn Bởi trong thực tế, một doanh nghiệp lớn hoạt động kinh doanh đa lĩnh vực hoặc có chi nhánh ở nhiều nơi trên thế giới thì việc chỉ có một người đại diện nhân danh công ty là hoàn toàn bất hợp lý, có thể gây nhiều khó khăn và bất tiện trong hoạt động kinh doanh
Chính vì vậy, pháp luật đã nới lỏng quy định một công ty có thể có nhiều người đại diện theo pháp luật đối với công ty cổ phần (CTCP), công ty trách nhiệm hữu hạn (TNHH)
Khoản 2 Điều 12 LDN 2020 quy định công ty TNHH và CTCP có thể có nhiều đại diện theo pháp luật Điều lệ công ty phải quy định rõ ràng số lượng, chức danh quản lý, quyền hạn và nghĩa vụ của từng đại diện Trong trường hợp điều lệ công ty không quy định rõ ràng quyền hạn của từng đại diện thì mỗi người đại diện sẽ có đầy đủ thẩm quyền để giao dịch hay đàm phán với bên thứ ba Ngoài ra, tất cả người đại diện theo pháp luật của một công ty đều phải chịu trách nhiệm liên đới đối với những thiệt hại mà
họ gây ra cho doanh nghiệp theo quy định của pháp luật dân sự và pháp luật khác có liên quan
Việc phân chia thẩm quyền của người đại diện trong doanh nghiệp có thể chia theo lĩnh vực quản lý, khu vực hoạt động hay theo quy mô, giá trị của hợp đồng… Thực tế cho thấy, việc phân định rõ quyền hạn và nghĩa vụ của từng người đại diện là rất quan trọng Nếu từng người đại diện có chức năng và quyền hạn riêng thì nền quản trị doanh nghiệp
sẽ được vận hành tốt hơn Trong các hoạt động kinh doanh thương mại của doanh nghiệp
sẽ tránh được tình trạng “râu ông nọ cắm cằm bà kia”, giao kết hợp đồng sai thẩm quyền Những người đại diện sẽ tập trung năng lực vào lĩnh vực riêng hoặc khu vực riêng của mình, giúp nắm bắt và tận dụng được cơ hội, gia tăng hiệu quả làm việc và tránh việc lạm dụng thẩm quyền hoặc ký kết, giao dịch không đúng thẩm quyền
Trang 6Ngoài ra, tùy từng loại hình công ty mà còn có những quy định riêng liên quan đến người đại diện công ty
Đối với công ty cổ phần, nếu chỉ có một người đại diện theo pháp luật thì người này bắt buộc phải là Chủ tịch HĐQT hoặc Giám đốc hoặc TGĐ của công ty Vấn đề này thuộc về nội bộ của các doanh nghiệp, quy định trong điều lệ công ty Trường hợp điều lệ công ty chưa có quy định thì Chủ tịch HĐQT là đại diện hợp pháp theo pháp luật Nếu công ty cho phép có từ 2 đại diện theo pháp luật trở lên thì Chủ tịch HĐQT và Giám đốc/ TGĐ của công ty đương nhiên là người đại diện theo pháp luật
Đối với công ty TNHH, nếu công ty có nhiều đại diện theo pháp luật thì phải có ít nhất một đại diện giữ chức danh Chủ tịch HĐTV hoặc Giám đốc hoặc TGĐ của công ty hoặc Chủ tịch công ty (đối với công ty TNHH 1 thành viên) Điều lệ công ty sẽ quy định
về vấn đề này, tuy nhiên trong trường hợp điều lệ công ty không có quy định thì Chủ tịch HĐTV hoặc Chủ tịch công ty (đối với công ty TNHH 1 thành viên) sẽ là đại diện theo pháp luật của công ty
Đối với công ty hợp danh, pháp luật quy định rằng mỗi thành viên hợp danh là một người đại diện của công ty, có quyền tổ chức điều hành mọi hoạt động kinh doanh hằng ngày của công ty
c Tính thường trực của người đại diện theo pháp luật
Khoản 3 Điều 12 LDN 2020 quy định: (i) Trong trường hợp công ty có nhiều người đại diện, phải đảm bảo luôn có ít nhất một người đại diện theo pháp luật cư trú tại Việt Nam (ii) Nếu doanh nghiệp chỉ có một người đại diện cư trú tại Việt Nam khi xuất cảnh khỏi Việt Nam thì phải ủy quyền bằng văn bản cho cá nhân khác cư trú tại Việt Nam thực hiện quyền và nghĩa vụ của người đại diện theo pháp luật
Quy định này tương đương với việc ngầm thừa nhận rằng nếu công ty có nhiều đại diện theo pháp luật mà một đại diện phải xuất cảnh ra nước ngoài thì những đại diện theo pháp luật còn lại đương nhiên sẽ tiếp nhận và thực hiện nghĩa vụ, công việc của người đã xuất cảnh
Trang 7Trong trường hợp (ii) được quy định ở trên, nếu đã hết thời hạn ủy quyền mà người đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp chưa trở lại Việt Nam và không có ủy quyền khác thì thực hiện theo quy định tại khoản 4 Điều 12 LDN 2020
Khoản 5 Điều 12 cũng quy định về việc HĐQT có quyền cử người khác làm đại diện theo pháp luật của công ty nếu trước đó doanh nghiệp chỉ còn một người đại diện theo pháp luật và người này vắng mặt tại Việt Nam quá 30 ngày mà không ủy quyền cho người khác hoặc chết, mất tích, đang bị truy cứu trách nhiệm hình sự, bị tạm giam, đang chấp hành hình phạt tù…
Khoản 6 Điều 12 đối với công ty TNHH 2 thành viên trở lên, nếu có một người là đại diện theo pháp luật của công ty chết, mất tích, đang bị truy cứu trách nhiệm hình sự, bị tạm giam, đang chấp hành hình phạt tù… thì người còn lại đương nhiên trở thành người đại diện theo pháp luật của công ty cho đến khi có quyết định mới của HĐTV về người đại diện theo pháp luật của công ty
d Trách nhiệm của đại diện theo pháp luật và hậu quả của việc vi phạm bổn phận chung
Quy định cụ thể tại Điều 13 LDN 2020 Bao gồm một số trách nhiệm như trung thành với lợi ích công ty; thực hiện nghĩa vụ được giao một cách trung thực và cẩn trọng; không lạm dụng chức vụ; không tiết lộ bí mật, thông tin kinh doanh của công ty; thông báo trung thực và đầy đủ về doanh nghiệp mà mình, người có liên quan của mình làm chủ hoặc có cổ phần, phần vốn góp theo quy định của luật doanh nghiệp
Đây là những trách nhiệm rất cơ bản không chỉ đối với người đại diện mà còn đối với toàn thể những người quản lý, thành viên trong nội bộ công ty Mặc dù đóng một vai trò rất quan trọng trong quản trị công ty nhưng những quy định về trách nhiệm người đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp vẫn còn chung chung và chưa đủ tính răn đe Chính
vì vậy, việc quy định những hậu quả cho việc người đại diện vượt quá bổn phận là rất cần thiết và phải thật nghiêm khắc
Điều 87 BLDS 2015 quy định về việc pháp nhân phải chịu trách nhiệm dân sự về việc thực hiện quyền, nghĩa vụ dân sự do người đại diện xác lập, thực hiện nhân danh pháp nhân, pháp nhân phải chịu trách nhiệm bằng tài sản của mình
Trang 8Người đại diện theo pháp luật phải chịu trách nhiệm cá nhân đối với những thiệt hại cho doanh nghiệp do vi phạm nghĩa vụ của mình và liên đới chịu trách nhiệm đối với thiệt hại gây ra cho doanh nghiệp Khoản 1 Điều 72 LDN 2020 cũng quy định rằng thành viên của công ty TNHH có thể tự mình hoặc nhân danh công ty khởi kiện người đại diện theo pháp luật nếu vi phạm một điều được quy định tại khoản này Có thể thấy, việc truy cứu trách nhiệm của người đại diện theo pháp luật xuất phát từ nguyên tắc quyền hạn đi đôi với trách nhiệm Quyền hạn càng nhiều thì trách nhiệm càng lớn, không chỉ được quy định trong pháp luật, vấn đề về trách nhiệm và hậu quả pháp lý của đại diện theo pháp luật còn được ghi nhận trong điều lệ riêng của từng công ty
2.2 Đối với người đại diện theo ủy quyền
a Về thẩm quyền của người đại diện theo ủy quyền.
Căn cứ vào LDN 2020, người đại diện theo ủy quyền có thể được ủy quyền bởi người đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp hoặc được ủy quyền bởi chủ sở hữu, thành viên, cổ đông công ty là tổ chức
Khi người đại diện theo pháp luật vắng mặt hoặc không thể kịp thời giải quyết những vấn đề của doanh nghiệp1 thì có thể cử một người đại diện theo ủy quyền thực hiện nghĩa
vụ và công việc của mình bằng một văn bản ủy quyền thông báo cho công ty
Như vậy khác với trường hợp đại diện theo pháp luật, người đại diện theo ủy quyền phải được thông qua bằng một văn bản ủy quyền xác nhận việc thực hiện nghĩa vụ và quyền hạn nhất định trong phạm vi được đại diện Phạm vi đại diện của người đại diện theo ủy quyền sẽ hẹp hơn phạm vi đại diện của đại diện theo pháp luật và chỉ được thay mặt công ty trong khuôn khổ công việc đã được ủy quyền
b Về quy định nhiều người đại diện theo ủy quyền
Pháp luật quy định trong trường hợp điều lệ công ty không quy định về số lượng người đại diện theo ủy quyền thì tùy từng loại hình công ty mà có số lượng đại diện theo
ủy quyền khác nhau
Việt Nam thì phải ủy quyền bằng văn bản cho người khác thực hiện nghĩa vụ của mình với công ty.
Trang 9Đối với các tổ chức là thành viên công ty TNHH 2 thành viên trở lên sở hữu ít nhất 35% vốn điều lệ và tổ chức là cổ đông của CTCP sở hữu ít nhất 10% cổ phần phổ thông thì có thể ủy quyền tối đa 3 người đại diện
Trong trường hợp công ty có nhiều đại diện theo ủy quyền thì bắt buộc phải xác định
cụ thể phần vốn góp và số cổ phần cho mỗi người đại diện theo ủy quyền Nếu không xác định rõ ràng thì phần vốn góp, số cổ phần sẽ được chia đều cho tất cả người đại diện theo
ủy quyền
c Tiêu chuẩn của người đại diện theo ủy quyền
Người đại diện theo ủy quyền của một doanh nghiệp phải đáp ứng đủ các điều kiện sau:
Có năng lực hành vi dân sự đầy đủ
Không thuộc đối tượng bị cấm thành lập và quản lý doanh nghiệp được quy định tại khoản 2 Điều 17 LDN 2020
Đối thành viên hoặc cổ đông của một DNNN nắm giữ trên 50% vốn điều lệ hoặc tổng số cổ phần sẽ không được cử người có quan hệ gia đình của người quản lý công ty và của người có thẩm quyền bổ nhiệm người quản lý công ty làm người đại diện tại công ty khác
Những tiêu chuẩn này là hoàn toàn cơ bản và cần thiết đối với một người đại diện theo ủy quyền Bởi dù là người đại diện theo pháp luật hay đại diện theo ủy quyền thì họ đều có một vai trò to lớn là nhân danh công ty trong đàm phán, thương lượng hay giải quyết vụ việc với bên thứ ba Họ phải vì lợi ích của cả công ty để làm việc và phục vụ Những quy định về tiêu chuẩn người đại diện theo ủy quyền nhằm đảm bảo cho sự công bằng, liêm chính, không vì mục đích riêng của cả người được ủy quyền và người yêu cầu
ủy quyền
Pháp luật cũng mở rộng quy định này cho doanh nghiệp để họ lựa chọn người đại diện theo ủy quyền phù hợp với yêu cầu, tiêu chuẩn của từng công ty bởi mỗi công ty lại
có văn hóa làm việc, quy tắc nghề nghiệp khác nhau tùy từng lĩnh vực Vì vậy ngoài những điều kiện luật định thì doanh nghiệp vẫn có thể xây dựng điều kiện khác cho người đại diện theo pháp luật trong điều lệ công ty
Trang 10d Trách nhiệm của người đại diện theo ủy quyền
Đại diện theo ủy quyền là đại diện hợp pháp của doanh nghiệp, nhân danh doanh nghiệp thực hiện các quyền và nghĩa vụ nhằm đảm bảo quyền lợi lớn nhất của doanh nghiệp Vì vậy, họ phải có trách nhiệm chung như thực hiện nhiệm vụ được giao một cách trung thực và cẩn trọng, trung thành với lợi ích doanh nghiệp, bảo vệ lợi ích hợp pháp của chủ sở hữu, thành viên, cổ đông cử đại diện
Người đại diện theo ủy quyền sẽ phải chịu trách nhiệm trước chủ sở hữu, thành viên,
cổ đông cử đại diện nếu vi phạm trách nhiệm, vượt quá thẩm quyền Ngoài ra, chủ sở hữu, thành viên, cổ đông cử đại diện phải chịu trách nhiệm trước bên thứ ba đối với những sự kiện phát sinh liên quan đến quyền và nghĩa vụ được thực hiện bởi đại diện theo ủy quyền
Trang 11Chương 3 Một số bất cập và đề xuất hoàn thiện chế định đại diện trong doanh nghiệp.
3.1 Một số bất cập
Trên thực tế tồn tại trường hợp công ty có nhiều người đại diện nhưng không phân định rõ quyền hạn của từng người dẫn đến việc không thống nhất, dễ nảy sinh tùy tiện Hơn thế nữa trong trường hợp thông tin về phân công trách nhiệm và quyền hạn của người đại diện chỉ giới hạn trong nội bộ công ty mà không công bố ra bên ngoài thì sẽ rất khó trong việc bảo vệ quyền lợi của những đối tác có giao dịch với công ty, bên đối tác không thể biết được người đại diện đàm phán với mình có thẩm quyền quyết định trong lĩnh vực mà hai bên đang đàm phán hay không
Cơ chế giám sát lẫn nhau của các đại diện trong doanh nghiệp chưa được quy định rõ ràng, đặc biệt trong các trường hợp cần phải có sự đồng thuận của tất cả các đại diện của doanh nghiệp để xác lập giao dịch Thực tế do không có chế tài khắt khe nên nhiều đại diện công ty vi phạm bổn phận nhưng lại “cao chạy xa bay” khiến công ty lao đao… Một số những hạn chế còn đến từ chính các văn bản pháp luật hiện hành quy định về
cơ chế đại diện doanh nghiệp như nhiều quy định quá hàn lâm, chưa phản ánh được thực
tế dẫn đến khó áp dụng; hệ thống văn bản pháp luật còn thiếu nhiều quy định điều chỉnh các phát sinh trong doanh nghiệp
3.2 Đề xuất hoàn thiện pháp luật
Pháp luật cần có quy định rõ ràng, cụ thể và đồng bộ hơn về đại diện theo pháp luật của công ty Những quy định của BLDS 2015 về đại diện cho pháp nhân chưa đầy đủ dẫn đến việc quy định về đại diện cho doanh nghiệp cũng gặp nhiều khó khăn Một số quy định của BLDS 2015 và LDN 2020 chưa thực sự đồng bộ, điển hình là quy định về thẩm quyền xác lập giao dịch của người đại diện được quy định trong BLDS 2015 nhưng không được đề cập đến ở LDN 2020
Về tiêu chuẩn và điều kiện để trở thành đại diện cho doanh nghiệp cũng cần được pháp luật quy định khắt khe hơn, đặc biệt trong vấn đề về trình độ học vấn của người đại diện Một đại diện cho doanh nghiệp, nhân danh doanh nghiệp trong quan hệ với chủ thể