TRƯỜNG ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI KHOA LUẬT BÀI TIỂU LUẬN Bộ môn luật hình sự 2 Đề tài Bảo vệ các quyền cơ bản của con người qua chế định “Các tội xâm phạm tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm của con[.]
Trang 1-TRƯỜNG ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ
NỘI KHOA
LUẬT-BÀI TIỂU LUẬN
Bộ môn luật hình sự 2
Đề tài: Bảo vệ các quyền cơ bản của con người qua chế định “Các tội xâm phạm tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm của con người” trong Bộ luật Hình sự năm 2015
Giảng viên: TS Nguyễn Khắc Hải
Trang 2MỤC LỤC
I KHÁI QUÁT CHUNG VỀ QUYỀN CON NGƯỜI
1 Nội dung về quyền con người 3
2 Sự ghi nhận quyền con người trong pháp luật hình sự quốc tế…… 4
3 Sự ghi nhận quyền con người trong pháp luật hình sự Việt Nam…….… 6
II BẢO VỆ QUYỀN CƠ BẢN CỦA CON NGƯỜI TRONG BỘ LUẬT HÌNH
SỰ 2015
1.Chế định “Các tội xâm phạm tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm của con người”……….……… 8
2 Ý nghĩa thực tiễn của chế định và nhiệm vụ bảo vệ quyền cơ bản của con người
….……… ……….…… 10
III.BÌNH LUẬN VỀ MỘT SỐ ĐIỂM MỚI CỦA CHẾ ĐỊNH ….
……… ………… 11
Trang 3I QUYỀN CON NGƯỜI.
1 Nội dung về quyền con người.
a.Khái niệm:
-Quyền con người là các đặc quyền tự nhiên, bắt nguồn từ phẩm giá vốn có của
tất cả mọi người, được cộng đồng quốc tế và quốc gia thừa nhận, tôn trọng, bảo
vệ và bảo đảm bằng hệ thống pháp luật quốc gia và quốc tế
-Theo định nghĩa của Văn phòng Cao ủy Liên Hiệp Quốc: “Nhân quyền là những bảo đảm pháp lý toàn cầu có tác dụng bảo vệ các cá nhân và các nhóm chống lại những hành động hoặc sự bỏ mặc mà làm tổn hại đến nhân phẩm, những tự do cơ bản của con người”.
-Trong bản Tuyên ngôn Độc lập Hoa Kỳ, Thomas Jefferson đã đưa ra một
nguyên tắc cơ bản làm cơ sở cho sự thành lập chính phủ dân chủ:” Các chính phủ trong thể chế dân chủ không ban phát các quyền tự do cơ bản mà Jefferson
đã nêu, mà chính các chính phủ đó để bảo vệ các quyền tự do đó – các quyền mà mọi cá nhân "hiển nhiên có" do sự tồn tại của mình”.
b.Các đặc trưng của quyền con người:
-Tính phổ biến (universal) và tính phụ thuộc vào bối cảnh lịch sử, văn hóa, dân tộc, tôn giáo thể hiện ở chỗ quyền con người thuộc về tất cả mọi người, không
phân biệt đối xử về chủng tộc, màu da, giới tính, ngôn ngữ, địa vị xã hội, tôn giáo, hoàn cảnh kinh tế, khu vực địa lý Tính phổ biến là bản chất của quyền con người
-Quyền con người có tính không thể chuyển nhượng (inalienable) vì nó thuộc sở
hữu vốn có của con người; không phải là sự ban phát hay tùy tiện tước đoạt
Trang 4Mọi giới hạn, hạn chế hay tước bỏ quyền của một cá nhân đều phải do pháp luật quy định và chỉ nhằm để bảo vệ lợi ích chính đáng, tương xứng của cộng đồng hay của cá nhân khác
-Tính không thể phân chia (indivisible) được thể hiện ở chỗ các quyền con
người đều có tầm quan trọng như nhau, không có quyền nào được coi là đặc quyền, có giá trị cao hơn quyền khác Việc tước bỏ hay hạn chế bất kỳ quyền nào đều tác động tiêu cực đến nhân phẩm, giá trị và sự phát triển của con người
-Tính liên hệ và phụ thuộc lẫn nhau (interrelated, interdependent) được thể
hiện ở chỗ các quyền con người, mặc dù trong phạm vi rộng, nhiều lĩnh vực song đều nằm trong một chỉnh thể thống nhất và chúng luôn phụ thuộc vào nhau Việc bảo đảm các quyền con người, toàn bộ hoặc một phần, nằm trong mối liên hệ phụ thuộc và tác động lẫn nhau Sự vi phạm một quyền sẽ trực tiếp hoặc gián tiếp gây ảnh hưởng tiêu cực đến việc bảo đảm các quyền khác, và ngược lại, tiến bộ trong việc bảo đảm một quyền sẽ trực tiếp hoặc gián tiếp tác động tích cực đến việc bảo đảm các quyền khác
2 Sự ghi nhận quyền con người trong pháp luật hình sự quốc tế
-Lịch sử phát triển quyền con người cho thấy xu hướng bảo vệ các bị cáo đối mặt với hình phạt Do đó, nhiều quyền cơ bản đã sớm được pháp luật ghi nhận để đạt được sự bảo vệ đó Tuy nhiên, ý tưởng trao quyền cho tội phạm quốc tế đã gặp nhiều ý kiến phản đối bởi tính chất và hậu quả của tội phạm này Điều này cho thấy khó khăn trong việc đảm bảo xét xử công bằng cho các bị cáo trong các phiên tòa hình sự quốc tế
-Hiến chương của Toà án quân sự quốc tế (IMT) ghi nhận quyền của các bị cáo được đảm bảo quyền xét xử công bằng Sau đó, các quyền cơ bản của một cá
Trang 5nhân trong TTHS đã được quy định trong UDHR, Công ước quốc tế về các quyền dân sự và chính trị (ICCPR) và các văn kiện nhân quyền khu vực
-Theo luật quốc tế về quyền con người, nếu quốc gia không thực thi quyền con người ở cả cấp độ trong nước và quốc tế (bao gồm không thực thi nghĩa vụ truy
tố, xét xử tội phạm) thì quốc gia phải chịu trách nhiệm trước các cơ quan nhân quyền quốc tế Điều này có nghĩa là người thực hiện hành vi vi phạm quyền con người và bị coi là tội phạm quốc tế có thể không bị trừng phạt Về phương diện này, Luật Hình sự quốc tế bổ sung, tăng cường bảo vệ quyền con người bằng quy định về trách nhiệm hình sự cá nhân và thiết lập Tòa án Hình sự quốc tế để đảm bảo công lý được thực hiện cho nạn nhân
-Bên cạnh đó, một số quyền con người là tuyệt đối, không thể bị tước bỏ trong mọi hoàn cảnh Vì vậy, các quyền cơ bản của cá nhân bị truy tố trước Tòa án Hình sự quốc tế cần được bảo vệ Tuy nhiên, phân tích ở trên cho thấy, không thể khẳng định, Tòa án Hình sự quốc tế có đủ khả năng bảo vệ các quyền con người cho bị cáo Bởi lẽ, các tòa này được tự do lựa chọn những điều khoản nào trong luật nhân quyền mà họ phải áp dụng Hơn nữa, do định kiến với tội ác quốc tế hoặc do sự thiếu hợp tác của các quốc gia, bị cáo có khả năng bị vi phạm quyền được suy đoán vô tội hoặc bị giam giữ không có cơ sở, kéo dài thời gian tạm giam, không có cơ hội được trình bày bằng chứng để có thể được miễn hoặc giảm trách nhiệm
-Để khắc phục hạn chế này và đảm bảo không xảy ra vi phạm quyền con người trong tố tụng hình sự tại các phiên tòa thì cần tăng cường trách nhiệm tôn trọng các quyền của bị cáo Chúng tôi cho rằng, nếu hình sự hóa trực tiếp các vi phạm quyền con người theo luật hình sự quốc tế là mức độ bảo vệ cao nhất đối với quyền con người, thì chỉ khi tôn trọng quyền con người của các bị cáo trong các phiên tòa hình sự quốc tế mới có thể đạt được khát vọng công lý đúng đắn
Trang 63 Sự ghi nhận quyền con người trong pháp luật hình sự Việt Nam
-BLHS 2015 đã thể hiện rõ nét chính sách nhân đạo của chính sách hình sự nước ta khi bổ sung các trường hợp loại trừ trách nhiệm hình sự, bổ sung chế định tha tù trước thời hạn và sửa đổi cơ bản chế định xóa án tích trên cơ sở nguyên tắc bảo vệ quyền con người, bảo đảm bình đẳng và công bằng xã hội Đồng thời sửa đổi, bổ sung các quy định trong phần các tội phạm theo hướng tăng cường bảo vệ quyền con người, quyền công dân, bảo vệ quyền của nhóm yếu thế, dễ tổn thương
-BLHS 2015 đã có những sửa đổi, bổ sung kịp thời để thể chế hóa toàn diện các quy định của Hiến pháp 2013 về quyền con người, đáp ứng yêu cầu cải cách tư pháp đồng thời biểu hiện tinh thần tận tâm thực hiện các cam kết quốc tế, bắt nhịp cùng các xu hướng về chính sách hình phạt trên thế giới Theo đó, BLHS 2015 hạn chế áp dụng hình phạt tử hình, giảm hình phạt tù, mở rộng phạm vi áp dụng hình phạt tiền và hình phạt cải tạo không giam giữ, thay đổi các mức hình phạt trong khung hình phạt
-Đối với người chưa thành niên, các quy định của BLHS 2015 được sửa đổi, bổ sung theo hướng tăng cường bảo vệ người chưa thành niên, đề cao hiệu quả phòng ngừa và tính hướng thiện trong việc xử lý người phạm tội Đồng thời quy định rõ mục đích xử lý người dưới 18 tuổi phạm tội đó là giáo dục, giúp đỡ người chưa thành niên sửa chữa sai lầm, phát triển lành mạnh, trở thành công dân có ích cho
xã hội
-Đặc biệt, ta thấy được thái độ quyết liệt và dứt khoát của chính quyền trong chế
định “các tội xâm phạm tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm của con người”
(Chương XIV) theo hướng bảo vệ một cách chặt chẽ và tiếp tục tăng cường bảo
vệ các quyền con người, quyền công dân trên tinh thần Hiến pháp năm 2013 với
những chế tài nghiêm khắc; bổ sung một số quy định mới để xử lý hình sự đối với
Trang 7hành vi xâm phạm quyền biểu quyết khi Nhà nước trưng cầu ý dân, quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí, tiếp cận thông tin, quyền biểu tình của công dân, đồng thời, có chính sách xử lý nghiêm khắc hơn đối với các tội xâm phạm quyền tự do của con người, quyền tự do dân chủ của công dân
Trang 8II BẢO VỆ QUYỀN CƠ BẢN CỦA CON NGƯỜI TRONG BỘ LUẬT HÌNH SỰ
2015
1.Chế định “Các tội xâm phạm tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm của con người
a.Định nghĩa:
- Các tội phạm xâm phạm, sức khỏe, nhân phẩm, danh dự của con người là các tội quy định đối với những người (có năng lực trách nhiệm dân sự và từ đủ 16 tuổi trở lên) thực hiện những hành vi một cách cố ý hoặc vô ý xâm phạm tới quyền được Hiến pháp và pháp luật hình sự ghi nhận và bảo vệ
- Lỗi vô ý \là trường hợp người phạm tội tuy thấy trước được hành vi của mình có khả năng gây ra hậu quả nguy hại cho xã hội nhưng cho rằng hậu qảu đó sẽ không xảy ra hoặc có thể ngăn ngừa được; hoặc trường hợp người phạm tội không thấy trước được hành vi của mình có thể gây ra hậu quả nguy hại cho xã hội, mặc dù phải thấy trước và có thể thấy trước hậu quả đó Ngược lại với lỗi vô
ý là lỗi cố ý
b.Các nhóm tội phạm:
-Các tội này được quy định từ Điều 123 đến Điều 156 chương XIV Bộ luật Hình
sự 2015; có thể được chia thành ba nhóm:
+Nhóm các tội xâm phạm tính mạng (có 13 tội thuộc nhóm này): được quy định tại các Điều 123, 124, 125, 126, 127, 128, 129, 130, 131, 132, 133, 148, 149 BLHS; trong đó có 2 tội với lỗi vô ý (Điều 128, Điều 129 BLHS); còn lại là các tội với lỗi cố ý
+Nhóm các tội xâm phạm sức khỏe (có 7 tội thuộc nhóm này):được quy định tại các Điều 134, 135, 136, 137, 138, 139, 140, 141, 142, 143, 144, 145, 146, 147,
Trang 9150, 151, 152, 153, 154, 155, 156 BLHS; trong đó có 2 tội với lỗi vô ý (Điều
138, Điều 139 BLHS); còn lại là các tội với lỗi cố ý
+Nhóm các tội trực tiếp xâm phạm thân thể: được quy định tại các Điều 141,
142, 143, 144, 145, 146, 147
+Nhóm các tội không liên quan đến ý thức chủ quan của người bị xâm hại: bao gồm các tội quy định tại Điều 150, 151, 152, 153, 154 BLHS
+Nhóm các tội liên quan đến danh dự: được quy định tại các Điều 155, 156 BLHS
c Cấu thành tội phạm:
-Khách thể:
Khách thể của các tội xâm phạm tính mạng, sức khỏe, nhân phẩm, danh dự của con người được thể hiện ngay trong tên gọi của Chương Đó là, các tội phạm này xâm phạm đến quyền sống, quyền được bảo hộ về sức khỏe, nhân phẩm, danh dự của con người Đối tượng tác động của các tội phạm này là con người
cụ thể Theo đó, con người phải là một cơ thể còn sống và có thời điểm tính từ khi sinh ra cho đến khi chết Điều này để nhằm phân biệt các tội xâm phạm tính mạng, sức khỏe, nhân phẩm, danh dự của con người với một số tội phạm cũng
có những hành vi phạm tội tương tự nhưng tác động tới đối tượng không phải là con người (người đã chết…) Điều này cho thấy, không thể coi một con người đang còn sống khi chưa lọt lòng mẹ (còn ở trong bào thai) hoặc khi người đó đã chết
-Mặt khách quan:
Mặt khách quan của các tội xâm phạm tính mạng, sức khỏe, nhân phẩm, danh
dự của con người thể hiện ở những hành vi nguy hiểm cho xã hội (hành động hoặc không hành động) xâm phạm trực tiếp tới tính mạng, sức khỏe, nhân phẩm, danh dự của con người Trong Chương XIV của Bộ luật hình sự, đa số các hành
vi nguy hiểm cho xã hội được thực hiện bằng hành động phạm tội như: sử dụng
Trang 10các công cụ, phương tiện khác nhau để gây nên sự tác động tới con người cụ thể, gây ra những thiệt hại hoặc đe dọa gây ra những thiệt hại cho con người đó Đối với hành vi xâm phạm nhân phẩm, danh dự của con người thường được thể hiện bằng lời nói, cử chỉ, hành vi phát tán… xâm phạm tới uy tín, danh dự, nhân phẩm của người khác Cá biệt cũng có những tội phạm, hành vi nguy hiểm cho xã hội được thể hiện dưới dạng không hành động phạm tội như: Tội không cứu giúp người đang ở trong tình trạng nguy hiểm đến tính mạng – Điều
132
-Chủ thể:
-Chủ thể của tội phạm là người có năng lực trách nhiệm hình sự hoặc pháp nhân thương mại thực hiện Tuy nhiên do phần Chung của Bộ luật hình sự quy định pháp nhân thương mại chỉ có thể là chủ thể của một số tội phạm nhất định, trong
đó không có các tội phạm xâm phạm tính mạng, sức khỏe, nhân phẩm, danh dự nên các tội phạm này chủ thể chỉ có thể là cá nhân có năng lực trách nhiệm hình
sự và đạt một độ tuổi nhất định Tuy nhiên, đối với một số tội phạm, thì ngoài dấu hiệu chung, chủ thể của tội phạm còn cần có các dấu hiệu đặc biệt như: người đang thi hành công vụ trong Điều 137; người có chức vụ, quyền hạn hoặc có quan hệ nhất định đối với người bị lệ thuộc (Điều 130, Điều 140)
-Mặt chủ quan:
+Phần lớn các tội phạm được thực hiện với lỗi cố ý trực tiếp (như tội giết người, tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác, v.v ) Tuy vậy, cũng có tội phạm được thực hiện với lỗi vô ý (như tội vô ý làm chết người (Điều 128); vô ý gây thương tích hoặc tổn hại sức khỏe cho người khác (Điều 138), v.v Ngoài ra, một số tội phạm ở Chương này còn được thực hiện với lỗi cố ý gián tiếp, như tội bức tử (Điều 130), tội gây thương tích hoặc gây tổn hại sức khỏe cho người khác trong khi thi hành công vụ (Điều 137), v.v
Trang 11+Đối với một số tội, mục đích và động cơ phạm tội là dấu hiệu bắt buộc trong cấu thành tội phạm như tội giết người do vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng (Điều 126); tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác do vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng (Điều 136)
+Ngoài ra, Bộ luật hình sự còn quy định động cơ hoặc mục đích phạm tội là dấu hiệu bắt buộc trong cấu thành tăng nặng ở một số cấu thành tăng nặng như động
cơ đê hèn (điểm q khoản 1 Điều 123 tội giết người; điểm c khoản 2 các điều
151, 152, 153 – các tội mua bán, đánh tráo hoặc chiếm đoạt trẻ em); để thực hiện hoặc che giấu tội phạm khác, để lấy bộ phận cơ thể của nạn nhân (điểm g, h khoản 1 Điều 123 – tội giết người);
2 Ý nghĩa thực tiễn của chế định và nhiệm vụ bảo vệ quyền cơ bản của con người
-Theo hướng tiếp tục tăng cường bảo vệ các quyền con người, quyền công dân trên tinh thần Hiến pháp năm 2013, theo đó, chương XIV đã cụ thể hóa hành vi phạm tội; bổ sung thêm nhiều tình tiết tăng nặng đối với các tội danh thuộc nhóm này -BLHS đã bổ sung 02 tội danh mới thuộc nhóm này là tội sử dụng người dưới 16 tuổi vào mục đích khiêu dâm (Điều 147) và tội mua bán, chiếm đoạt mô hoặc bộ phận cơ thể người (điều 154)
-BLHS năm 2015 (các Điều 150, 151) cũng đã sửa đổi, bổ sung cơ bản quy định
về tội mua bán người và tội mua bán trẻ em nhằm đáp ứng yêu cầu của thực tiễn đấu tranh phòng, chống tội phạm mua bán người và phù hợp với Nghị định thư về phòng ngừa, trấn áp và trừng trị tội buôn bán người, đặc biệt là phụ nữ và trẻ em
- Như vậy, ta thấy rằng trong chương XIV, đã có một sự cải tiến lớn trong vấn đề
bảo vệ các quyền cơ bản của con người thông qua một số điều luật thể hiện qua một số ý nghĩa thực tiễn và một số nhiệm vụ:
+ Bảo vệ quyền lợi và sự an toàn của những người yếu thế trong xã hội và những người chưa đủ 18t qua điều 135,142, 147, 150, 151
Trang 12+ Ngoài các quyền được bảo vệ về tính mạng thân thể, sức khỏe thì chế định cũng xoáy sâu vào việc bảo vệ nhân phẩm, danh dự của cá nhân thông qua điều 155,
156,
+ Điều luật trong chương XIV cũng thể hiện sự nhân đạo và tôn trọng quyền con người trong những trường hợp như, vô ý phạm tội, phạm tội trong trường hợp tinh thần bị kích động mạnh thông qua điều 125,128
+ Đồng thời, các điều luật cũng thể hiện sự nghiêm khắc đối với những sai sót của
bộ máy công quyền trong khi thi hành công vụ làm ảnh hưởng đến quyền con người, quyền lợi của cá nhân qua điều 139, 137 thể hiện sự công bằng và nghiêm túc trong vấn đề giữ vững pháp luật và bảo vệ quyền con người