KHOA LUẬT ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TIỂU LUẬN HỌC PHẦN QUẢN TRỊ CÔNG TY Đề tài PHÂN TÍCH VÀ BÌNH LUẬN MỐI QUAN HỆ GIỮA TRÁCH NHIỆM XÃ HỘI VÀ CÁC NGHĨA VỤ PHÁP LÝ TƯƠNG ỨNG TRONG PHÁP LUẬT VỀ QUẢN TRỊ CÔ[.]
Trang 1KHOA LUẬT ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TIỂU LUẬN HỌC PHẦN QUẢN TRỊ CÔNG TY
Đề tài:
PHÂN TÍCH VÀ BÌNH LUẬN MỐI QUAN HỆ GIỮA TRÁCH NHIỆM XÃ HỘI VÀ CÁC NGHĨA VỤ PHÁP LÝ TƯƠNG ỨNG TRONG PHÁP LUẬT VỀ QUẢN TRỊ CÔNG TY
Giảng viên: TS.GVC.Phan Thị Thanh Thủy
Trang 2Hà Nội – 2022
MỤC LỤC
Chương I Khái quát chung về trách nhiệm xã hội 2
Chương II Mối quan hệ giữa trách nhiệm xã hội và các nghĩa vụ pháp lý tương
2.1 Mối quan hệ giữa trách nhiệm xã hội và các nghĩa vụ pháp lý tương ứng
Trang 3MỞ ĐẦU
Doanh nghiệp là một tổ chức được thành lập để thực hiện hoạt động kinh doanh nhằm mục đích kiếm lợi, mục tiêu kinh tế này cũng đặc điểm để phân biệt doanh nghiệp với các tổ chức xã hội khác Tuy nhiên, ngoài tìm kiếm lợi ích kinh doanh thì doanh nghiệp cũng cần phải có trách nhiệm với mọi thứ xung quanh như môi trường, đóng góp của người lao động, cổ đông, người tiêu dùng vì doanh nghiệp không thể tồn tại độc lập, không thể phát triển nếu không có các nhân tố trên hỗ trợ.1 Chính vì thế doanh nghiệp cần phải tôn trọng
và có trách nhiệm với các nhân tố này, hay chính là doanh nghiệp phải có trách nhiệm xã hội
Ở Việt Nam khái niệm trách nhiệm xã hội không còn là vấn đề mới hiện nay, nhưng trên thực tế vẫn còn khá nhiều doanh nghiệp chưa thực sự hiểu rõ về vấn đề này Họ thường hiểu thực hiện trách nhiệm xã hội là việc làm từ thiện và tham gia các hoạt động nhân đạo Tuy nhiên trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp không chỉ có vậy, trách nhiệm xã hội còn được thể hiện ở các nội dung như: trách nhiệm với cổ đông và người lao động; trách nhiệm với người tiêu dùng; trách nhiệm với môi trường; và trách nhiệm với cộng đồng Trách nhiệm
xã hội có vai trò vô cùng quan trọng, nó sẽ trở thành một công cụ quản trị tốt giúp doanh nghiệp phát triển bền vững nếu doanh nghiệp biết áp dụng nó một cách hiệu quả Để tìm hiểu kỹ hơn về trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp cũng như các quy định của pháp luật Việt Nam về vấn đề này, em xin chọn đề
tài: “Phân tích và bình luận mối quan hệ giữa trách nhiệm xã hội và các nghĩa vụ pháp lý tương ứng trong pháp luật về quản trị công ty” để thực hiện
bài tiểu luận kết thúc học phần của mình
1
Đặng Thị Hoa, Giáp Thị Huyền Trang (2016), Vấn đề trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp: Trường hợp nghiên cứu
điểm tại công ty TNHH Long Hà - Bắc Giang, Tạp chí Khoa học và Công nghệ Lâm nghiệp số 1-2016
1
Trang 4Chương I Khái quát chung về trách nhiệm xã hội
1.1 Khái niệm trách nhiệm xã hội
Thuật ngữ “trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp” chính thức xuất hiện lần đầu tiên vào năm 1953 khi mà H.R.Bowen công bố cuốn sách của mình có tên
“Trách nhiệm xã hội của doanh nhân” (Social Responsibilities of the Businessmen) nhằm mục đích tuyên truyền và kêu gọi các doanh nhân không được làm tổn hại đến các quyền và lợi ích của người khác, kêu gọi lòng từ thiện nhằm bù đắp những thiệt hại do các doanh nghiệp đã làm tổn hại tới xã hội Hiện nay có rất nhiều định nghĩa khác nhau về trách nhiệm xã hội:
Theo Archie.B Carroll, Trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp (Corporate Social Responsibility - CSR) là tất cả các vấn đề kinh tế, pháp lý, đạo đức và những lĩnh vực khác mà xã hội mong đợi ở doanh nghiệp tại một thời điểm nhất định Ông đưa ra mô hình được gọi là mô hình kim tự tháp Carroll và cho rằng CSR được thể hiện ở 4 khía cạnh (trách nhiệm kinh tế, trách nhiệm pháp lý, trách nhiệm đạo đức và trách nhiệm nhân văn, từ thiện) và được biểu trưng như một kim tự tháp với trật tự từ đáy là trách nhiệm kinh tế đến đỉnh là trách nhiệm từ thiện
Trong tiêu chuẩn ISO 2600 quy định trách nhiệm xã hội là: Trách nhiệm của tổ chức đối với những tác động của các quyết định và hoạt động của tổ chức đến
xã hội và môi trường thông qua sự minh bạch và hành vi đạo đức nhằm: đóng góp cho sự phát triển bền vững, bao gồm cả sự lành mạnh và thịnh vượng của
xã hội; tính đến những mong muốn của các bên liên quan; phù hợp với luật pháp và nhất quán với chuẩn mực ứng xử quốc tế; và tích hợp trong toàn bộ tổ chức và thực thi trong các mối quan hệ của tổ chức
Hội đồng kinh doanh thế giới về phát triển bền vững (WBCSD) đưa ra định nghĩa rằng: “Trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp là sự cam kết của doanh
2
Trang 5nghiệp đóng góp vào việc phát triển kinh tế bền vững, thông qua những hoạt động nhằm nâng cao chất lượng đời sống của người lao động và các thành viên gia đình họ, cho cộng đồng và toàn xã hội, theo cách có lợi cho cả doanh nghiệp cũng như phát triển chung của xã hội” Đây cũng là định nghĩa về trách nhiệm
xã hội được sử dụng phổ biến hiện nay
Nhìn chung, các định nghĩa về trách nhiệm xã hội (TNXH) của doanh nghiệp đều có chung quan điểm là: Doanh nghiệp hướng tới phát triển kinh tế lâu dài và bền vững đồng thời tự nguyện đóng góp vào các mục tiêu xã hội thay
vì chỉ tập chung vào mục tiêu tối đa hóa lợi nhuận
1.2 Vai trò, ý nghĩa của trách nhiệm xã hội
Việc các doanh nghiệp thực hiện tốt trách nhiệm xã hội không chỉ giúp bản thân doanh nghiệp phát triển bền vững, mà còn góp phần vào sự phát triển bền vững của xã hội.2
● Thứ nhất, doanh nghiệp có chế độ lương, thưởng, bảo hiểm hợp lý, môi trường lao động sạch sẽ và an toàn, sẽ góp phần giảm tỷ lệ nhân viên nghỉ, bỏ việc, do đó giảm chi phí tuyển dụng và đào tạo nhân viên mới Với hệ thống quản lý nhân sự hiệu quả như vậy cũng giúp doanh nghiệp cắt giảm chi phí và tăng năng suất lao động đáng kể
● Thứ hai, thực hiện tốt trách nhiệm xã hội góp phần nâng cao giá trị thương hiệu và uy tín của doanh nghiệp, từ đó giúp doanh nghiệp tăng doanh thu, hấp dẫn các đối tác, nhà đầu tư và người lao động
● Thứ ba, phát triển bền vững giúp doanh nghiệp nâng cao tính cạnh tranh, củng cố vị trí, mở rộng thị phần của doanh nghiệp.3
2
Phạm Văn Đức (2010), Trách nhiệm xã hội của các doanh nghiệp ở Việt Nam: Một số vấn đề lý luận và thực tiễn cấp
bách, Tạp chí Triết học, số 2 (213), tháng 2/2009.
3
Phạm Nguyễn Vinh (2018), Hiểu đầy đủ về trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp,
https://tinnhanhchungkhoan.vn/hieu-day-du-ve-trach-nhiem-xa-hoi-cua-doanh-nghiep-post179375.html , truy cập ngày 20/1/2022
3
Trang 6● Bên cạnh những lợi ích to lớn mà TNXH đem lại cho chính bản thân doanh nghiệp thì việc doanh nghiệp thực hiện TNXH cũng đem lại ảnh hưởng không nhỏ cho cộng đồng, người lao động, người tiêu dùng, môi trường theo hướng tích cực hơn
Như vậy có thể thấy, một khi có thể áp dụng TNXH để làm hài hòa lợi ích các bên thì khi đó TNXH sẽ trở thành công cụ quản trị tốt có thể cân bằng lợi ích của doanh nghiệp với các chủ thể khác trong xã hội, từ đó đem lại lợi ích lâu dài cho doanh nghiệp.4
Chương II Mối quan hệ giữa trách nhiệm xã hội và các nghĩa vụ pháp lý tương ứng trong pháp luật về quản trị công ty
2.1 Mối quan hệ giữa trách nhiệm xã hội và các nghĩa vụ pháp lý tương ứng trong pháp luật về quản trị công ty
Trách nhiệm xã hội có mối quan hệ mật thiết, luôn gắn liền với các nghĩa
vụ pháp lý của doanh nghiệp trong pháp luật về quản trị công ty Doanh nghiệp thực hiện TNXH được thể hiện qua các phương diện như:
● TNXH đối với các thành viên góp vốn: Thực hiện hoạt động sản xuất kinh doanh có lãi
● TNXH đối với người lao động: Đảm bảo các quyền và lợi ích hợp pháp cho người lao động
● TNXH đối với người tiêu dùng: Bảo đảm chất lượng của hàng hóa và dịch vụ
● TNXH đối với môi trường: Thực hiện tốt vấn đề bảo vệ môi trường và tài nguyên thiên nhiên
● TNXH đối với nhà nước: Thực hiện đóng thuế đầy đủ
4
Trần Thị Hiền, Nguyễn Hồng Quân (2021), Trách nhiệm xã hội các doanh nghiệp và sự gắn kết của nhân viên:
Nghiên cứu tại các doanh nghiệp nhỏ và vừa Việt Nam, Tạp chí Quản lý và Kinh tế quốc tế, số 140 (09/2021).
4
Trang 7● TNXH đối với cộng đồng: Tham gia các hoạt động từ thiện, nhân đạo trợ giúp xã hội
(*) TNXH đối với các thành viên góp vốn:
Doanh nghiệp sử dụng vốn góp của các thành viên thực hiện hoạt động sản xuất kinh doanh theo quy định của pháp luận từ đó tạo ra lợi nhuận, thì phải có trách nhiệm sử dụng những đồng vốn có hiệu quả, đầu tư phát triển kinh doanh, phát triển công ty bền vững đem lại lợi ích cho các thành viên góp vốn thông qua việc trả cổ tức Điều này được quy định trong Luật Doanh nghiệp năm 2020 dưới quy định về quyền nhận cổ tức của các cổ đông và quy định về trả cổ tức.5
(*) TNXH đối với người lao động
TNXH đối với người lao động của doanh nghiệp gắn liền với nghĩa vụ của doanh nghiệp khi người lao động là nguồn nhân lực chính tham gia vào hoạt động sản xuất của doanh nghiệp, nghĩa vụ này được pháp luật Việt Nam quy định tại khoản 4 Điều 8 Luật doanh nghiệp năm 2020, cụ thể doanh nghiệp có trách nhiệm: Bảo đảm quyền, lợi ích hợp pháp, chính đáng của người lao động theo quy định của pháp luật; không phân biệt đối xử, xúc phạm danh dự, nhân phẩm của người lao động trong doanh nghiệp; không ngược đãi lao động, cưỡng bức lao động hoặc sử dụng lao động chưa thành niên trái pháp luật; hỗ trợ và tạo điều kiện thuận lợi cho người lao động tham gia đào tạo nâng cao trình độ, kỹ năng nghề; thực hiện các chính sách, chế độ bảo hiểm xã hội, bảo hiểm thất nghiệp, bảo hiểm y tế và bảo hiểm khác cho người lao động theo quy định của pháp luật
(*) TNXH đối với người tiêu dùng:
TNXH của doanh nghiệp đối với người tiêu dùng gắn liền với nghĩa vụ của các doanh nghiệp kinh doanh hàng hóa, dịch vụ khi chính các doanh nghiệp này
5
Điều 135 Luật Doanh nghiệp năm 2020.
5
Trang 8là chủ thể cung cấp các sản phẩm ra thị trường cho người tiêu dùng mua và sử dụng Quy định này được thể hiện rõ nhất tại Luật bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng, theo đó doanh nghiệp có trách nhiệm tôn trọng, cung cấp thông tin về hàng hóa, dịch vụ, bảo hành hàng hóa, bảo đảm về chất lượng hàng hóa cho người tiêu dùng Người tiêu dùng là người bỏ tiền ra mua sản phẩm và sử dụng, đem lại nguồn lợi cho doanh nghiệp thì quyền và lợi ích của họ cũng phải được đảm bảo bởi các doanh nghiệp
(*) TNXH đối với môi trường:
Theo quy định tại Điều 4 Luật Bảo vệ môi trường năm 2020: “Bảo vệ môi trường là quyền, nghĩa vụ và trách nhiệm của mọi cơ quan, tổ chức, cộng đồng dân cư, hộ gia đình và cá nhân.” Các doanh nghiệp thực hiện hoạt động sản xuất kinh doanh thì cũng có trách nhiệm bảo vệ môi trường, bởi mọi hoạt động sản xuất kinh doanh đều ảnh hưởng đến môi trường, môi trường là yếu tố nền tảng, quan trọng đặc biệt là các nguồn tài nguyên - nguyên liệu phục vụ hoạt động sản xuất Môi trường là một trong những điều kiện để doanh nghiệp phát triển hoạt động sản xuất kinh doanh, chất lượng môi trường phù hợp sẽ bảo đảm cho hoạt động kinh doanh được thực hiện ổn định và bền vững thông qua sự ổn định về chất lượng sức lao động, chất lượng nguồn nguyên, nhiên, vật liệu.6
Chính vì vậy, bảo vệ môi trường là một trong những trách nhiệm hàng đầu của các doanh nghiệp
(*) TNXH đối với nhà nước:
TNXH đối với nhà nước của doanh nghiệp gắn liền với nghĩa vụ nộp thuế, Khoản 4 Điều 8 Luật doanh nghiệp năm 2020 quy định: Doanh nghiệp có nghĩa
vụ tổ chức công tác kế toán, nộp thuế và thực hiện các nghĩa vụ tài chính khác theo quy định của pháp luật Việc doanh nghiệp thực hiện nghĩa vụ thuế đầy đủ
6
Nguyễn Thanh Hải (2012), Doanh nghiệp với vấn đề bảo vệ môi trường, https://vnexpress.net/doanh-nghiep-voi-van-de-bao-ve-moi-truong-2394688.html , truy cập ngày 20/1/2022
6
Trang 9sẽ đóng góp một khoản lớn vào ngân sách nhà nước, từ đó giúp nhà nước có ngân sách thực hiện các chức năng và nhiệm vụ của nhà nước
(*) TNXH đối với cộng đồng:
TNXH với cộng đồng của doanh nghiệp thông qua việc tham gia các hoạt động từ thiện, công ích xã hội không gắn với nghĩa vụ pháp lý của doanh nghiệp mà được thực hiện trên tinh thần tự nguyện, thiện chí của mỗi doanh nghiệp, các doanh nghiệp không nên chỉ quan tâm đến lợi ích của doanh nghiệp
mà cũng nên quan tâm đến cuộc sống, xã hội và cộng đồng
2.2 Thực tiễn áp dụng
Trong thời gian qua ở Việt Nam, vẫn còn nhiều doanh nghiệp chưa thực hiện một cách nghiêm túc trách nhiệm xã hội của mình Điều đó thể hiện ở các hành vi như:
- Gian lận trong kinh doanh, báo cáo tài chính: gian lận trong công bố thông tin trên Báo cáo tài chính tại Việt Nam diễn ra ngày càng nhiều với mức
độ sai phạm ngày càng tăng, có thể kể đến những vụ việc điển hình là vụ của công ty Bibica, Bông Bạch Tuyết, Gỗ Trường Thành7,… các doanh nghiệp này đều thực hiện các gian lận như: khai tăng doanh thu, giảm chi phí, đánh giá sai giá trị tài sản, không công bố đầy đủ thông tin trên báo cáo tài chính nhằm “làm đẹp” báo cáo tài chính từ đó thu hút đầu tư vào doanh nghiệp
- Có những doanh nghiệp vẫn vi phạm các quy định pháp luật về lương bổng, chế độ bảo hiểm, vấn đề an toàn lao động cho người lao, như vụ người lao động bị mất chân do tai nạn lao động tại CTCP Đầu tư và Sản xuất Thành Phát8, hay vụ nữ công nhân mất mạng do tai nạn lao động tại Công ty TNHH
7
Phạm Minh Vương - Nguyễn Thị Hà Vy (2020), Dự báo gian lận báo cáo tài chính bằng các tỷ số tài chính cho các
doanh nghiệp niêm yết tại Việt Nam, Tạp chí công thương số 20, tháng 8 năm 2020
8
Quang Đại - Phạm Thông (2021), Người dân bị mất chân tại doanh nghiệp: Không đảm bảo an toàn lao động, https:// laodong.vn/ban-doc/nguoi-dan-bi-mat-chan-tai-doanh-nghiep-khong-dam-bao-an-toan-lao-dong-969367.ldo , truy cập ngày 20/1/2022.
7
Trang 10N.T (huyện Trảng Bom, tỉnh Đồng Nai)9 cho thấy tình trạng không đảm bảo an toàn lao động tại các doanh nghiệp Việt Nam vẫn xảy ra rất nhiều để lại nhiều tai nạn thương tâm
- Nhiều doanh nghiệp sản xuất, kinh doanh hàng kém chất lượng, sau đó bán ra thị trường nhất là các kênh mua sắm online hiện nay, người tiêu dùng khi mua sắm qua các kênh này khó mà phát hiện chất lượng hàng hóa mà họ đang giao dịch có đúng hàng hóa đảm bảo chất lượng hay không
- Nhiều doanh nghiệp vẫn cố ý gây ô nhiễm môi trường, các vụ điển hình như công ty Formosa Hà Tĩnh, Nhà máy Mía đường Hòa Bình hay công ty Sonadezi Long Thành cố ý xả thải gây ô nhiễm môi trường cho thấy tình trạng ô nhiễm môi trường ở Việt Nam đang ở mức báo động
Nguyên nhân dẫn đến các sự việc này là do nhân thức của các doanh nghiệp về TNXH còn chưa đầy đủ Bên cạnh đó tính pháp lý của việc đánh giá thực hiện TNXH ở nước ta hiện nay còn nhiều hạn chế, bất cập, từ các phân tích trên có thể thấy các nội dung của TNXH đều gắn với các nghĩa vụ pháp lý của các doanh nghiệp được quy định rải rác trong các quy định pháp luật nhưng giá trị cũng như trách nhiệm cụ thể của việc thực hiện TNXH chưa được đề cập đến Bên cạnh đó, hệ thống luật pháp của Việt Nam về vấn đề này còn nhiều hạn chế, khi mà ngay cả các quy định pháp luật về từng nội dung của TNXH đã có
đủ, nhưng các hành vi vi phạm vẫn diễn ra nhiều
=> Chính vì thể để nâng cao hiệu quả của việc thực hiện TNXH của các doanh nghiệp hiện nay, thứ nhất Nhà nước cần tăng cường tuyên truyền với các doanh nghiệp cũng như người dân về nghĩa vụ và lợi ích của việc thực hiện TNXH Việc tuyên truyền có thể được thực hiện thông qua nhiều hình thức, như qua các phương tiện thông tin đại chúng, các đợt tập huấn bắt buộc cho lãnh đạo các
9
Mai Chi (2020), Trả giá vì coi thường an toàn lao động, https://nld.com.vn/cong-doan/tra-gia-vi-coi-thuong-an-toan-lao-dong-20200207201703268.htm truy cập ngày 20/1/2022.
8