Khoa Luật Đại học Quốc gia Hà Nội BÀI TẬP NHÓM 9Tuyên truyền, phổ biến pháp luật cạnh tranh và vai trò của việc tuyên truyền, phổ biến pháp luật cạnh tranh đối với việc thực thi chính sách, pháp luật[.]
Trang 1Khoa Luật Đại học Quốc gia Hà Nội
BÀI TẬP NHÓM 9
I/ TỔNG QUAN VỀ LUẬT CẠNH TRANH.
1 Định nghĩa
Luật Cạnh tranh là một chuyên ngành luật còn khá mới mẻ so với các
ngành luật truyền thống khác như luật dân sự, hình sự Pháp luật cạnh tranh
TUYÊN TRUYỀN, PHỔ BIẾN PHÁP LUẬT CẠNH TRANH VÀ VAI TRÒ CỦA VIỆC TUYÊN TRUYỀN, PHỔ BIẾN PHÁP LUẬT CẠNH TRANH ĐỐI VỚI VIỆC
THỰC THI CHÍNH SÁCH, PHÁP LUẬT CẠNH TRANH
Trang 2bao gồm các quy phạm pháp luật điều chỉnh hành vi cạnh tranh giữa các chủ thể kinh doanh trên thương trường đồng thời bao gồm cả các quy định đảm bảo thực thi luật cạnh tranh trong thực tế Đó là các quy định về: Tổ chức và hoạt động của cơ quan nhà nước thi hành luật cạnh tranh; trình tự thủ tục xử lí vụ việc cạnh tranh; các biện pháp xử lí vi phạm pháp luật về cạnh tranh Luật cạnh tranh được gọi tên khác là luật chống độc quyền tại Hoa Kỳ và Liên minh châu Âu
Ở các nước có nền kinh tế thị trường phát triển và có hệ thống pháp luật phát triển như Anh, Pháp, Mỹ nguồn của pháp luật cạnh tranh còn bao gồm cả thực tiễn xét xử của toà án, của các cơ quan cạnh tranh và các báo cáo, luận chứng trong quá trình xây dựng pháp luật, các lí thuyết trong lĩnh vực cạnh tranh được công nhận rộng rãi
2 Nội dung
Theo điều 1 Bộ luật Cạnh tranh:
“Điều 1 Phạm vi điều chỉnh
Luật này quy định về hành vi hạn chế cạnh tranh, tập trung kinh tế gây tác động hoặc có khả năng gây tác động hạn chế cạnh tranh đến thị trường Việt Nam; hành vi cạnh tranh không lành mạnh; tố tụng cạnh tranh; xử lý vi phạm pháp luật
về cạnh tranh; quản lý nhà nước về cạnh tranh.”
Để trốn tránh áp lực do cạnh tranh đem lại, các doanh nghiệp có thể thực hiện các hành vi làm giảm sức ép cạnh tranh và dẫn đến triệt tiêu cạnh tranh như thoả thuận, câu kết giữa các đối thủ kinh doanh, mua bán sáp nhập giữa các doanh nghiệp để tạo vị thế thống lĩnh thị trường hoặc các doanh nghiệp hiện đã
có vị trí thống lĩnh trên thị trường lạm dụng sức mạnh để duy trì vị trí của mình Các hành vi hạn chế cạnh tranh có thể gây hậu quả làm sai lệch cấu trúc thị trường, làm thiệt hại cho sự phát triển toàn bộ nền kinh tế của một quốc gia Bởi vậy, các hành vi hạn chế cạnh tranh phải bị cơ quan nhà nước có thẩm quyền đề nghị điều tra và bị xử lí bằng chế tài nghiêm khắc Với mục đích kiểm soát những hành vi có thể làm giảm sức ép cạnh tranh, cản trở cạnh tranh và để bảo vệ cơ cấu, tương quan cạnh tranh trên thị trường, pháp luật kiểm soát hành
vi hạn chế cạnh tranh bao gồm các quy định:
Trang 31) Các quy định để nhận diện ra các hành vi hạn chế cạnh tranh như xác định thoả thuận hạn chế cạnh tranh bao gồm những loại thoả thuận nào, thế nào là doanh nghiệp ở vào vị trí thống lĩnh, vị trí độc quyền;
2) Quy định các hành vi hạn chế cạnh tranh bị cấm, những trường hợp được hưởng miễn trừ, thủ tục hưởng miễn trừ
Mỗi quốc gia khác nhau sẽ có những mục tiêu khác nhau khi ban hành luật cạnh tranh nhưng nhìn chung luật cạnh tranh của các nước nói chung và của Việt Nam nói riêng đều nhằm thực hiện những mục tiêu sau:
● Bảo vệ cấu trúc của thị trường, duy trì tính cạnh tranh trên thị trường
● Bảo vệ các doanh nghiệp tham gia cạnh tranh trên thị trường để chúng cạnh tranh lành mạnh, tạo lập và duy trì môi trường kinh doanh bình đẳng
● Bảo vệ lợi ích người tiêu dùng và xã hội
3 Ý nghĩa
Vấn đề độc quyền và lạm dụng vị thế thống lĩnh thị trường trong thực tế cạnh tranh đã chứng minh sự ngộ nhận của chủ nghĩa này Như vậy, chống những hoạt động cạnh tranh không lành mạnh và đảm bảo Cạnh tranh tự do phải là hai nhiệm vụ quan trọng nhất của trật tự Pháp lý trong một nền kinh tế thị trường
Điều kiện tiên quyết để bảo đảm quyền tự do hoạt động kinh tế của mọi người cạnh tranh là phải tuân thủ những qui định tối thiểu trong Cạnh tranh, vì không thể có một cuộc cạnh tranh vô giới hạn cho phép sử dụng bất cứ hình thức và phương tiện cạnh tranh nào Ngoài việc bảo vệ sự lành mạnh của hoạt động cạnh tranh, bản thân Cạnh tranh tự do cũng phải được đảm bảo Luật Cạnh tranh do đó phải bao gồm ít nhất hai bộ luật chính:
Luật chống Cạnh tranh không lành mạnh: bảo vệ quyền tự do hoạt động kinh tế của mọi thành viên hoạt động trên thị trường và bảo vệ hoạt động cạnh tranh lành mạnh Nó điều chỉnh, giải quyết hai cặp quan hệ hoạt động đối lập: lành mạnh – không lành mạnh; được phép – không được phép Công cụ Pháp lý
sử dụng trong Luật chống Cạnh tranh không lành mạnh chủ yếu là Luật tư
Trang 4Luật chống hạn chế Cạnh tranh (còn có tên là Luật chống độc quyền, vv.): bảo vệ Cạnh tranh tự do, bảo đảm khả năng hoạt động bình thường của Cạnh tranh mà đặc biệt là ngăn chặn việc loại trừ Cạnh tranh tự do một cách giả tạo, ngăn chặn loại bỏ quy luật hoạt động khách quan của thị trường do độc quyền hay do lạm dụng vị thế thống lĩnh Công cụ Pháp lý sử dụng trong Luật chống hạn chế Cạnh tranh chủ yếu là Luật công
=> Ý nghĩa của Luật cạnh tranh là:
● Bảo đảm tự do cạnh tranh trong khuôn khổ pháp luật
● Duy trì, củng cố môi trường cạnh tranh bình đẳng, lành mạnh
● Thực hiện chính sách cạnh tranh của Nhà nước
● Bảo hộ quyền cạnh tranh hợp pháp trong kinh doanh
● Ngăn ngừa, trừng phạt những hành vi cạnh tranh không hợp pháp
II/THỰC TIỄN ÁP DỤNG LUẬT CẠNH TRANH Ở VIỆT NAM.
1 Từ góc độ các cơ quan nhà nước
● Cơ quan quản lý cạnh tranh:
o Gồm Cục quản lý cạnh tranh và Hội đồng cạnh tranh
o Đối với việc điều tra và xử lý vụ việc hạn chế cạnh tranh: điển hình là Pháp luật cạnh tranh không cấm doanh nghiệp hình thành vị trí thống lĩnh trên thị trường hoặc vị trí độc quyền mặc dù có các doanh nghiệp có vị trí thống lĩnh thị trường hoặc có vị trí độc quyền thì người tiêu dùng không đượclựa chọn hàng hoá có giá cạnh tranh và
xu hướng lạm dụng sức mạnh thị trường, tạo ra rào cản đối với các đối thủ cạnh tranh là khá phổ biến Việc tạo ra các doanh nghiệp có vị trí thống lĩnh hoặc vị trí độc quyền không quan trọng Điều quan trọng là phải kiểm soát đượchành vi lạm dụng vị trí thống lĩnh thị trường hoặc vị trí độc quyền của các doanh nghiệp để không à tổn thất phúc lợi xã hội, nguồn lực xã hội và bảo vệ hoạt động kinh doanh của các doanh nghiệp khác
▪ Tuy nhiên, việc chống độc quyền ở Việt Nam không phải đơn giản, nguyên nhân phần lớn là do sự non trẻ và yếu kém của cơ quan quản lý cạnh tranh Do chưa đượcđào tạo có hệ thống,
Trang 5chưa có nhiều kinh nghiệm trong xử lý vụ việc cụ thể nên việc phát hiện và xử lý các vụ việc hạn chế cạnh tranh của các chuyên gia còn nhiều hạn chế Bên cạnh đó, với việc không thừa nhận tính chung thẩm của quyết định xử lý của cơ quan quản lý cạnh tranh đã tạo điều kiện cho các doanh nghiệp kéo dài quá trình xử lý vụ việc
▪ Đối với các vụ việc cạnh tranh không lành mạnh: Những tiến bộ
và thành quả mà Cục quản lý cạnh tranh đã góp phần đáng kể trong việc giúp người tiêu dùng cảnh giác hơn với những thông điệp quảng cáo hấp dẫn của các công ty sản xuất, phân phối, nhập khẩu thành phần chức năng Nhiều công ty sản xuất hàng điện tử, điện lạnh cũng trung thực hơn khi quảng cáo công dụng, chất lượng sản phẩm đến khách hàng và người tiêu dùng
và người tiêu dùng bớt đượcphần nào tình trạng mất tiền vì những sản phẩm kém chất lượng
▪ Tuy nhiên, nhiều vụ việc còn chưa được xử lý Chưa kể những
vụ vi phạm diễn ra 1 cách công khai, hàng loạt vụ vi phạm với thủ đoạn tinh vi, lừa đảo như lợi dụng người lao động của đối thủ để xâm phạm bí mật kinh doanh, sử dụng trang mạng xã hội tung tin sải sự thật… mà việc phát hiện, điều tra, xử lý những vụ việc này càng khó hơn gấp nhiều lần Một thực tế khác cũng đáng để suy ngẫm là phản ứng chậm chạp của các
cơ quan có thẩm quyền trc hành vi vi phạm pháp luật Nêú cứ
để hành vi cạnh tranh không lành mạnh diễn ra 1 cách ngang nhiên như hiện nay thì vai trò của pháp luật cạnh tranh cũng như hiệu quả thi hành Luật cạnh tranh sẽ ngày càng mờ nhạt
▪ Đối với kiểm soát hd tập trung kinh tế: so với hàng trăm vụ tập trung kinh tế diễn ra, thì có rất ít vụ được thông báo đến Cục Quản lý cạnh tranh
● Các cơ quan thi hành pháp luật:
Cơ quan đăng kí kinh doanh:
Để tạo ra sự bình đẳng, công bằng giữa các doanh nghiệp, Luật cạnh tranh cấm các cơ quan quản lý nhà nước có hành vi "Phân biệt đối xử giữa các doanh nghiệp." Điều này này có nghĩa tất cả các doanh nghiệp, không phân biệt loại hình, nguồn vốn chủ sở hữu đều phải được đối xử công bằng trc pháp luật Trên thực tế, việc thi hành luật cạnh tranh của cơ quan đăng kí
Trang 6kinh doanh còn nhiều bất cập Đặc biệt là sự phân biệt đối xử giữa nhà đầu
tư trong nước và ngoài nước của các cơ quan đăng kí kinh doanh Thời điểm hiện tại, hầu hết các phòng đăng ký kinh doanh thuộc Sở Kế hoạch và Đầu tư của các tỉnh, rõ đều từ chối thụ lý hồ sơ thành lập tổ chức mới có
sự tham gia góp vốn, mua cổ phần của doanh nghiệp có sở hữu của nhà đầu tư nhà nước không quá 49% vốn điều lệ và hồ sơ của doanh nghiệp đã được cấp ĐKK bán cổ phần, vốn góp cho nhà đầu tư nhà nước Có nhiều doanh nghiệp phải trải qua thời gian đàm phán rất dài ( có khi lên đến vài năm ), tốn rất nhiều thời gian và chi phí mới hoàn thành 1 giao dịch bán cổ phần, vốn góp hoặc liên doanh với nhà đầu tư nhà nước Tuy nhiên, khi hoàn thành giao dịch, doanh nghiệp lại không thể hoàn thành thủ tục về mặt pháp lý tại các cơ quan có thẩm quyền
Cơ quan đầu tư:
Về quan điểm, chính sách, không có sự phân biệt đối xử giữa nhà đầu tư Việt Nam và nhà đầu tư nhà nước, giữa khối doanh nghiệp nhà nước và doanh nghiệp tư nhân Tuy nhiên, trên thực trạng thi hành, các cơ quan đăng ký kinh doanh và đăng ký đầu tư đã vô tình hay cố ý tạo ra sự phân biệt đối xử Về việc tham gia vào thị trường Việt Nam, thủ tục do Sở Kế hoạch và Đầu tư thực hiện đối với các nhà đầu tư nhà nước rất mất thời gian và chi phí
Cơ quan thuế và các cơ quan thi hành pháp luật khác:
Các doanh nghiệp có vốn đầu tư nhà nước phải thực hiện nhiều trách nhiệm pháp lý đối với các doanh nghiệp do nhà đầu tư Việt Nam sở hữu 100% vốn: đóng nhiều thuế hơn, kiểm toán báo cáo hành chính hàng năm, thực hiện chế độ báo cáo định kỳ, nghĩa vụ góp vốn bị hậu kiểm và nếu nhà đầu tư không hoàn thành nghĩa vụ góp vốn, doanh nghiệp sẽ không đượccơ quan có thẩm quyền giải quyết thủ tục hành chính Bên cạnh đó thái độ sách nhiễu, tiêu cực, của những cán bộ thi hành pháp luật đã làm nản lòng nhà đầu tư
2 Từ góc độ cộng đồng doanh nghiệp
Theo báo cáo nghiên cứu, khảo sát mức độ nhận thức của Cộng đồng đối với Luật cạnh tranh của Cục Quản lý cạnh tranh, tỉ lệ các doanh nghiệp biết đến Luật cạnh tranh là 44,8%, các doanh nghiệp chưa biết đến Luật cạnh tranh là 53,4%
Trang 7Gần 1 nửa số doanh nghiệp không biết đến Luật cạnh tranh, cho thấy Luật cạnh tranh chưa trở thành mối quan tâm của các doanh nghiệp , hay nói cách khác, các doanh nghiệp chưa nhận thấy đượcsự cần thiết của Luật cạnh tranh trong hoạt động kinh doanh của mình Trong số doanh nghiệp biết đến Luật cạnh tranh, có tới 96,6% là biết đến thông qua hình thức học tập trên nhà trường Con số này chứng tỏ hiệu quả thi hành Pháp luật cạnh tranh là quá thấp xét trên khía cạnh tuyên truyền và phổ biến GĐ pháp luật
3 Từ góc độ người tiêu dùng
Theo báo cáo nghiên cứu, khảo sát mức độ nhận thức của Cộng đồng đối với Luật cạnh tranh của Cục Quản lý cạnh tranh, về khả năng nhận biết Luật Cạnh tranh, có 26,7 % biết đến Luật Cạnh tranh, tỉ lệ người không biết là 73,3%
Mặc dù đt điều chỉnh chính của Luật Cạnh tranh là doanh nghiệp , không phải người tiêu dùng, tuy nhiên, việc bảo vệ người tiêu dùng là 1 trong những mục tiêu của Luật Cạnh tranh Do vậy, nếu hiểu Luật Cạnh tranh, người tiêu dùng sẽ dễ dàng phát hiện các hành vi vi phạm pháp luật đang trực tiếp ảnh hưởng đến sức quyền lợi của mình và đưa ra những quyết định cẩn trọng hơn Tuy nhiên, thông qua số liệu trên, khả năng nhận thức Luật cạnh tranh trên góc độ người tiêu dùng
và là cực kỳ hạn chế Điều này chứng tỏ, vai trò bảo vệ người tiêu dùng của Luật Cạnh tranh còn mờ nhạt
4 Một số giải pháp nâng cao hiệu quả thi hành, thực tiễn Luật Cạnh tranh
● Nâng cao năng lực, kinh nghiệm cho đội ngũ cán bộ nhân viên của cơ quan
quản lý cạnh tranh:
Về tính chất, các vụ việc vi phạm pháp luật cạnh tranh hết sức phức tạp và liên quan đến nhiều lĩnh vực: kinh tế, tài chính , đầu tư, doanh nghiệp, lao động… đó vậy, đòi hỏi cán bộ phái có trình độ chuyên môn và kinh nghiệm nhiều trong lĩnh vực
Để làm được điều này, cần:
● Ngay khâu tuyển chọn đội ngũ cán bộ nhân viên, cần tuyển chọn kỹ càng để đảm bảo tuyển dụng đượcnhững người có trình độ năng lực
và kinh nghiệm
● Trong quá trình thi hành NV, phải có chiến lược đào tạo đội ngũ cán
bộ nhân viên 1 cách nhanh chóng và hiệu quả Việc đào tạo tập trung vào những kỹ năng về tài chính, kinh tế, luật và nghiệp vụ điều tra
Trang 8● Đẩy mạnh công tác tuyên truyền, phổ biến pháp luật cạnh tranh:
● Tăng cường các khoá đào tạo, các hội thảo, các buổi tập huấn nhằm phổ biến quy định và chính sách của pháp luật cạnh tranh
● Phát hành các ấn phẩm: sách, báo , tạp chí…
● Duy trì, phát triển trang thông tin điện tử của Cục Quản lý cạnh tranh
● Nd, kiến thức của pháp luật cạnh tranh phải trở thành môn học bắt buộc tại các trường đại học chuyên ngành luật, tài chính, kinh tế… hoặc các viện nghiên cứu vì đây chính là nơi đào tạo và cung cấp nguồn nhân lực chủ yếu và chuyên nghiệp cho cơ quan quản lý cạnh tranh và các cơ quan hữu quan sau này
● Đào tạo về kiến thức cạnh tranh cho các thẩm phán:
Quyết định của Tòa án là quyết định chung thẩm liên quan đến việc xử lý hành vi vi phạm pháp luật cạnh tranh, đó vậy, nếu không đượctrang bị kiến thức Luật Cạnh tranh bên cạnh kiến thức chuyên sâu về kinh tế, tài chính thì khả năng xem xét lại các quyết định của cơ quan quản lý cạnh tranh của thẩm phán chỉ mang tính hình thức
● Xoá bỏ sự bảo hộ của nhà nước đối với các doanh nghiệp độc quyền
Chống độc quyền là tư tưởng cốt lõi và tiền đề chính để Luật Cạnh tranh đi vào cuộc sống, trong khi đó, ở Việt Nam , xuất phát từ tàn dư của nền kinh
tế trung, đang bảo hộ độc quyền và coi độc quyền là tư duy phát triển kinh tế
Muốn bảo vệ nền kinh tế, bảo vệ cạnh tranh bảo vệ người tiêu dùng, phải đặt tất cả doanh nghiệp vào vòng quay cạnh tranh trong đó người tiêu dùng được đặt ở vị trí trung tâm Người tiêu dùng là chủ thể có quyền lựa chọn
và quyết định sự sống còn của 1 doanh nghiệp Muốn vậy, cần phá vỡ thế độc quyền, kiên quyết xoá bỏ sự bảo hộ của nhà nước đối với ht doanh nghiệp dân doanh và để cho các doanh nghiệp phải tuân theo quy luật đào thải và thanh lọc - 1 quy luật tất yếu của nền kinh tế thị trường
III/ TUYÊN TRUYỀN PHỔ BIẾN PHÁP LUẬT CẠNH TRANH
Trang 91.Hình thức, cách thức tuyên truyền pháp luật cạnh tranh.
● Tổ chức hội nghị quán triệt, hội thảo, tập huấn phổ biến về nội dung của Luật và văn bản quy định chi tiết thi hành luật
Bộ Công thương chủ trì, phối hợp với các cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc chính phủ và các cơ quan liên quan sẽ tiến hành tổ chức các hội thảo tuyên truyền phổ biến Luật Cạnh tranh đến các đối tượng chịu nhiều sự tác động của luật từ cơ quan quản lý đến cộng đồng doanh nghiệp về việc tuân thủ pháp luật cạnh tranh Hội thảo sẽ giới thiệu về các chuyên đề như tổng quan các quy định về luật cạnh tranh hiện hành, các quy định kiểm soát tập trung kinh tế theo luật cạnh tranh hiện hành, một số vụ việc điển hình liên quan đến cạnh tranh Hội thảo cũng sẽ làm rõ những điểm mới của Luật Cạnh tranh hiện hành so với luật cũ
Cùng với đó, trong hội thảo các đại biểu sẽ tham gia trao đổi, thảo luận với các chuyên gia về những vấn đề liên quan đến Luật Cạnh tranh trong quá trình sản xuất kinh doanh và các giao dịch thương mại Thông qua hội thảo sẽ giúp các cấp, ngành và các doanh nghiệp hiểu rõ hơn về Luật cạnh tranh mới để giúp cho hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp tốt hơn và sự điều hành các cấp, ngành liên quan đi sát với thực tế
● Phổ biến, tuyên truyền pháp luật cạnh tranh trên các phương tiện thông tin đại chúng
Bộ Thông tin và Truyền thông chỉ đạo các cơ quan thông tấn báo chí phối hợp với Bộ Công thương xây dựng chương trình, tài liệu, đưa tin, bài phổ biến, tuyên truyền về pháp luật cạnh tranh trên các phương tiện giao thông đại chúng
Đài Tiếng nói Việt Nam, Đài Truyền hình Việt Nam và các cơ quan chủ quản báo chí Trung ương, địa phương chủ trì, phối hợp với Bộ Công Thương, Ủy ban nhân dân các cấp xây dựng chương trình, chuyên mục, trang phổ biến, tuyên truyền về pháp luật cạnh tranh, có tin, bài phản ánh kịp thời về tình hình triển khai thi hành Luật trên phạm vi cả nước
● Biên soạn các bộ sách, tài liệu thống nhất về pháp luật cạnh tranh phục vụ công tác tuyên truyền cho đối tượng học sinh
Bộ Công thương phối hợp với các bộ và cơ quan có liên quan, các viện nghiên cứu, trường đại học, cơ sở đào tạo trong việc việc xây dựng, biên soạn các
bộ sách, tài liệu thống nhất về pháp luật cạnh tranh phục vụ cho công tác tuyên truyền, phổ biến và giáo dục pháp luật cho đối tượng là học sinh, sinh viên trong các nhà trường, cơ sở đào tạo
Trang 102 Hiệu quả
Việc tuyên truyền, phổ biến Luật Cạnh tranh giúp các tổ chức, cá nhân kinh doanh và các Hiệp hội, ngành nghề hoạt động tại Việt Nam hiểu biết và hoạt động tuân thủ đúng pháp luật của Nhà nước
Phổ biến Luật Cạnh tranh cho tổ chức, cá nhân kinh doanh và các Hiệp hội, ngành nghề hoạt động tại Việt Nam tuân thủ đúng pháp luật là nền tảng vững chắc để xây dựng văn hóa kinh doanh Hoạt động trong nền kinh tế thị trường ngày càng đi vào chiều sâu, cạnh tranh và rủi ro đi cùng doanh nghiệp, vì thế có thể khẳng định rằng, doanh nghiệp nào am hiểu và tuân thủ pháp luật, xây dựng được văn hóa kinh doanh sẽ tiến xa, còn ngược lại nguy cơ bị đào thải luôn rình rập Am hiểu và tuân thủ pháp luật có ý nghĩa là chuẩn bị cho sự phát triển lâu dài trong tương lai
Mọi tổ chức, các nhân kinh doanh hoạt động đúng pháp luật đã xây dựng môi trường kinh doanh hòa bình, ổn định, trong sạch, tạo tiền đề vững chắc để doanh nghiệp hoạt động lâu dài, và phát triển trong tương lai
IV/ VAI TRÒ CỦA VIỆC TUYÊN TRUYỀN, PHỔ BIẾN PHÁP LUẬT CẠNH TRANH ĐỐI VỚI VIỆC THỰC THI CHÍNH SÁCH, PHÁP LUẬT CẠNH TRANH.
1 Tạo lập môi trường kinh doanh và cạnh tranh bình đẳng, tự do
Cơ sở pháp lý quan trọng tạo điều kiện và bảo đảm cho cạnh tranh tồn tại
là các quy định về tự do kinh doanh và quyền được tồn tại bình đẳng của các doanh nghiệp Tuyên truyền phổ biến pháp luật kinh doanh giúp các cá nhân, doanh nghiệp… có một môi trường kinh doanh tự do, nắm được mọi quy định pháp luật cạnh tranh một cách công bằng, thực hiện đúng chính sách của pháp luật cạnh tranh, chống lại các hành vi cạnh tranh không lành mạnh và loại bỏ mọi hạn chế cạnh tranh trên thị trường Từ đó, bảo vệ quyền tự do kinh doanh của các thành viên thị trường, bảo vệ môi trường cạnh tranh, bảo vệ sự lành mạnh của quan hệ thị trường
Dựa vào những nội dung của việc tuyên truyền, phổ biến pháp luật cạnh tranh sẽ hạn chế và giảm thiểu tối đa hành vi hạn chế cạnh tranh, các hành vi cạnh tranh không lành mạnh và những hoạt động sai lệch không phù hợp với chính sách pháp luật cạnh tranh tại Việt Nam