1. Trang chủ
  2. » Tất cả

Nguyên tắc minh bạch và công bố thông tin và thực trạng thực thi trong hoạt động quản trị công ty việt nam

15 19 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Nguyên tắc minh bạch và công bố thông tin và thực trạng thực thi trong hoạt động quản trị công ty Việt Nam
Người hướng dẫn TS.GVC Phan Thị Thanh Thủy
Trường học Đại học Quốc Gia Hà Nội
Chuyên ngành Quản trị công ty
Thể loại Tiểu luận
Năm xuất bản 2021
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 15
Dung lượng 206,49 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI KHOA LUẬT TIỂU LUẬN KẾT THÚC HỌC PHẦN QUẢN TRỊ CÔNG TY ĐỀ TÀI Nguyên tắc minh bạch và công bố thông tin và thực trạng thực thi trong hoạt động quản trị công ty Việt Nam Giảng v[.]

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

KHOA LUẬT

- -TIỂU LUẬN KẾT THÚC HỌC PHẦN

QUẢN TRỊ CÔNG TY

ĐỀ TÀI: Nguyên tắc minh bạch và công bố thông tin và thực trạng thực thi trong hoạt động quản trị công ty Việt Nam

Giảng viên : TS.GVC Phan Thị Thanh Thủy

Hà Nội – 2021

1

Trang 2

MỤC LỤC

LỜI MỞ ĐẦU 2

CHƯƠNG 1: NGUYÊN TẮC MINH BẠCH VÀ CÔNG BỐ THÔNG TIN 2

THEO OECD VÀ THEO PHÁP LUẬT VIỆT NAM 2

1 Nguyên tắc minh bạch và công bố thông tin trong OECD 2

1.1 Tính minh bạch trong quản trị công ty 2

1.2 Khái niệm công bố thông tin 3

1.3 Nguyên tắc minh bạch và công bố thông tin theo OECD 3

2 Tính minh bạch và công bố thông tin trong Luật Doanh nghiệp 2020 4

2.1 Về nội dung công bố thông tin 5

2.2 Về đối tượng được tiếp cận công bố thông tin 6

2.3 Về cách thức công bố thông tin 7

2.4 Yêu cầu đối với việc công bố thông tin và tính minh bạch 8

CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG THỰC THI NGUYÊN TẮC TÍNH MINH BẠCH VÀ CÔNG BỐ THÔNG TIN TRONG HOẠT ĐỘNG QUẢN TRỊ CÔNG TY TẠI VIỆT NAM 9

1 Hiệu quả thực thi pháp luật về công khai, minh bạch thông tin trong hoạt động quản trị công ty tại Việt Nam 9

2 Hạn chế trong quá trình thực thi pháp luật luật về công khai, minh bạch thông tin 10

3 Những vấn đề đặt ra về thực trạng pháp luật hiện hành về công khai, minhc bạch thông tin trong hoạt động quản trị công ty tại Việt Nam 11

KẾT LUẬN 11

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 12

2

Trang 3

LỜI MỞ ĐẦU

Trong bối cảnh nền kinh tế Việt Nam đang ngày càng hội nhập sâu rộng vào nền kinh

tế thế giới thì việc các doanh nghiệp nhận thức rõ hơn tầm quan trọng của việc minh bạch thông tin tới sự tồn tại và phát triển của doanh nghiệp; việc cơ quan quản lý ban hành các văn bản pháp lý tiếp cận dần và đáp ứng yêu cầu của thông lệ quốc tế là điều cần thiết Trong Bộ quy tắc quản trị công ty do Tổ chức Hợp tác Kinh tế và phát triển (OECD) đưa ra thì nguyên tắc “Công bố thông tin và tính minh bạch” là một trong sáu nguyên tắc về quản trị công ty Nhận thấy tầm quan trọng của nguyên tắc này, pháp luật Việt Nam đã tiếp nhận

và đưa vào trong hệ thống pháp luật doanh nghiệp Các quy định của pháp luật về công khai, minh bạch về thông tin trong tập đoàn kinh tế, trong những năm qua, đã phát huy tác dụng, góp phần tạo cơ sở pháp lý thuận lợi cho doanh nghiệp phát triển phù hợp với yêu cầu của kinh tế thị trường Tuy nhiên, quy định của pháp luật và việc tổ chức thực hiện pháp luật về công khai, minh bạch thông tin trong tập đoàn kinh tế cũng đã và đang bộc lộ nhiều hạn chế, bất cập Để công khai, minh bạch, nhất là công khai, minh bạch thông tin trong tập đoàn kinh tế thực sự trở thành công cụ hữu hiệu bảo đảm để doanh nghiệp phát triển bền vững, hiệu quả cần có sự nghiên cứu toàn diện, nhiều chiều Chính vì thế, em đã lựa chọn đề tài

“Nguyên tắc minh bạch và công bố thông tin và thực trạng thực thi trong hoạt động quản trị công ty Việt Nam” làm đề tài tiểu luận kết thúc học phần, từ đó giúp bản thân có thể hiểu rõ hơn về sự tiếp nhận của pháp luật Việt Nam đối và nguyên tắc này cũng như tầm quan trọng của nó

3

Trang 4

CHƯƠNG 1: NGUYÊN TẮC MINH BẠCH VÀ CÔNG BỐ THÔNG TIN

THEO OECD VÀ THEO PHÁP LUẬT VIỆT NAM

1 Nguyên tắc minh bạch và công bố thông tin trong OECD

1.1 Tính minh bạch trong quản trị công ty

Tính minh bạch (transparency) luôn được đề cập đến một cách rộng rãi trong thông lệ quốc tế như một tiêu chí hàng đầu để đánh giá kỷ luật và hiệu quả quản trị của bất kỳ một cơ quan tổ chức nói chung và trong quản trị công ty (QTCT) nói riêng Nguyên tắc này được OECD giải thích là “Khuôn khổ quản trị công ty phải đảm bảo việc công bố thông tin kịp thời và chính xác về mọi vấn đề quan trọng liên quan đến công ty, bao gồm tình hình tài chính, tình hình hoạt động, sở hữu và quản trị công ty1” Như vậy, dưới góc độ luật pháp,

tính minh bạch trong quản trị công ty được hiểu là khuôn khổ các quy định pháp luật và quy

định quản trị nội bộ công ty có tính bắt buộc tuân thủ về công bố công khai, kịp thời và chính xác các thông tin tiên quan đến hoạt động tài chính, kinh doanh và các vấn đề quan trọng về sơ hữu và quản trị công ty 2

1.2 Khái niệm công bố thông tin

Công bố thông tin được hiểu là hoạt động của nhiều chủ thể khác nhau trong đời sống kinh tế - xã hội, trong đó có doanh nghiệp Đây là việc đưa ra các thông tin liên quan đến một công ty, các thông tin này có thể ảnh hưởng tới quyết định đầu tư của nhà đầu tư Để tạo

ra sự công bằng thông tin cho tất cả mọi người, các công ty phải công bố cả tin tốt và tin không tốt Trong quá khứ, việc công bố thông tin có chọn lọc là một vấn đề nghiêm trọng đối với nhà đầu tư, vì nội gián thường lợi dụng các thông tin để tìm kiếm lợi nhuận cho riêng mình, với chi phí của nhà đầu tư

1.3 Nguyên tắc minh bạch và công bố thông tin theo OECD

Khuôn khổ QTCT phải đảm bảo việc công bố thông tin kịp thời và chính xác về mọi

vấn đề quan trọng liên quan đến công ty, bao gồm: Tình hình tài chính; Tình hình hoạt

động; Sở hữu; Quản trị công ty.

2 Tính minh bạch trong quản trị công ty cổ phần - (luatcongty.vn)

4

Trang 5

Không khó để thấy rằng, 06 nguyên tắc quản trị công ty hiệu quả do OECD đưa ra được sắp xếp theo một trật tự đầy ngụ ý và có mối ràng buộc chặt chẽ với nhau trong một tổng thể, nhằm hướng tới giá trị cốt lõi của một nền quản trị tốt là tính công bằng, tính minh

bạch, tính trách nhiệm và trách nhiệm giải trình OECD khuyến nghị: “Khuôn khổ QTCT

phải đảm bảo việc công bố thông tin kịp thời và chính xác về mọi vấn đề quan trọng liên quan đến công ty, bao gồm tình hình tài chính, tình hình hoạt động, sở hữu và QTCT 3 ”

Bộ nguyên tắc đề ra một số yêu cầu đối với việc công bố và minh bạch thông tin trong QTCT cổ phần để tham khảo, như yêu cầu công bố thông tin định kỳ với thời gian cách nhau không lớn, từ 03 tháng đến nửa năm, nhằm bảo đảm những thay đổi trọng yếu của công ty được công bố kịp thời cho các cổ đông và các bên liên quan được biết Đồng thời,

Bộ nguyên tắc cũng ủng hộ việc các bên liên quan và các nhà đầu tư đều được thông báo đầy

đủ về những thay đổi quan trọng, để các bên nắm được tình hình và có thể đưa ra quyết định kịp thời nhằm bảo vệ lợi ích của chính họ Các quy định công bố thông tin không đặt gánh nặng hành chính hoặc chi phí lên công ty Các công ty cũng không phải công bố các thông tin có thể làm tổn hại vị thế cạnh tranh của họ trừ phi việc công bố thông tin là cần thiết để cung cấp thông tin đầy đủ cho quyết định đầu tư hoặc để tránh làm nhà đầu tư hiểu lầm

Việc tiếp cận các thông tin trọng yếu giúp cổ đông bảo vệ quyền lợi của mình, các đối tượng tham gia thị trường cải thiện khả năng đưa ra những quyết định kinh tế hợp lý hơn Do

đó, việc đảm bảo công bố thông tin đầy đủ là cách để các công ty tiếp cận thị trường, tiếp cận nguồn vốn nhanh với chi phí thấp nhất Tuy nhiên nguyên tắc của OECD không chỉ khuyến khích việc công bố thông tin mà còn yêu cầu phải đảm bảo sự minh bạch, tức là các thông tin được công bố phải đảm bảo chất lượng, có giá trị, có ý nghĩa đối với cổ đông, nhà đầu tư và cơ quan quản lý, “một chế độ công bố thông tin hiệu quả khuyến khích sự minh bạch4” Những vấn đề này được khuyến khích giải quyết bằng cách áp dụng các tiêu chuẩn chất lượng cao khi thực hiện báo cáo, đặc biệt vấn đề lập báo cáo tài chính và kiểm toán hàng năm phải được thực hiện thông qua cơ chế tham gia và chịu trách nhiệm của các tổ chức kiểm toán độc lập, đủ năng lực

2 Tính minh bạch và công bố thông tin trong Luật Doanh nghiệp 2020

4 Các yếu tố ảnh hưởng đến mức độ công bố thông tin tài chính của công ty niêm yết, Phát triển kinh tế 287 (09/2014)

5

Trang 6

So với công ty TNHH và doanh nghiệp tư nhân, pháp luật đòi hỏi trách nhiệm công bố thông tin của công ty cổ phần (CTCP) cao hơn thể hiện qua việc Luật Doanh nghiệp 2020 quy định rõ nghĩa vụ công khai thông tin của CTCP tại Điều 176 Bên cạnh đó, luật doanh nghiệp hiện hành còn quy định cả những trường hợp cần phải được công bố thông tin định

kỳ tại Điều 109 và công bố thông tin bất thường tại Điều 110 Như vậy có thể thấy, có rất nhiều thông tin trong CTCP cần được công bố Những thông tin này đều rất cần thiết đối với

cổ đông và những người có quyền và lợi ích liên quan tới CTCP niêm yết hoặc đại chúng Với đặc trưng CTCP là loại hình công ty đối vốn điển hình với tính chất nổi bật dễ dàng chuyển nhượng về vốn Điều đó cho thấy sự tương đối ổn định về tài sản công ty dù cổ đông của công ty luôn linh động chuyển nhượng vốn Tuy nhiên, với tư cách là chủ sở hữu, các cổ đông cần công bố thông tin và tính minh bạch trong các quy định về quản trị công ty cổ phần

2.1 Về nội dung công bố thông tin

Theo quy định tại Luật doanh nghiệp 2020: công bố, công khai thông tin là nghĩa vụ của tất cả loại hình công ty Tuy nhiên có quyền được theo dõi hoạt động của công ty và được đảm bảo đầy đủ quyền lợi và nghĩa vụ của mình Do đó mà pháp luật quy định bắt buộc CTCP phải công khai các thông tin về tình hình quản lý cũng như hoạt động kinh

doanh của công ty Luật doanh nghiệp 2020 cũng đưa ra quy định: “Thù lao của từng thành

viên Hội đồng quản trị, tiền lương của Giám đốc hoặc Tổng giám đốc và người quản lý khác được tính vào chi phí kinh doanh của công ty theo quy định của pháp luật về thuế thu nhập doanh nghiệp, được thể hiện thành mục riêng trong ông bố thông tin phải được diễn ra

một cách công khai, minh bạch kịp thời dễ dàng tiếp cận Đại hội đồng cổ đông theo pháp

luật Việt Nam là cơ quan quản trị cao nhất của công ty, thư báo cáo tài chính hằng năm của

công ty và phải báo cáo Đại hội đồng cổ đông tại cuộc họp thường niên5” Việc quy định công bố thông tin về chính sách lương thưởng tạo điều kiện cho cổ đông và các nhà đầu tư đánh giá những thông số và cơ sở chính tạo nên các khoản mục trong gói thù lao và mối liên

hệ giữa thù lao với kết quả công việc Quy định công bố như vậy là nhằm tăng cường tính giải trình cũng như tính trách nhiệm của công ty trước cổ đông

6

Trang 7

Nhìn chung có thể thấy, Luật Doanh nghiệp năm 2020 đã tiếp thu gần như hoàn chỉnh tiêu chí đầu tiên của nguyên tắc công bố thông tin và minh bạch của OECD Những thông tin cần phải công bố rất nhiều và được Luật Doanh nghiệp điều chỉnh cho phù hợp nhất với đặc điểm của công ty cổ phần ở Việt Nam Những cổ đông góp vốn vào công ty chính là các chủ sở hữu, họ không thường tham gia vào việc quản lý điều hành công ty, song cổ đông vẫn

có quyền được biết nguồn vốn mình góp vào được dùng với mục đích gì, được sử dụng như thế nào, phải công khai thông tin minh bạch đầy đủ để đảm bảo lợi ích của các cổ đông

Tuy nhiên, Khuyến nghị của Uỷ ban Châu Âu cho rằng cũng nên công bố minh bạch không chỉ với các mức thù lao mà còn cả với phương pháp xác định thù lao Các thông tin khác như tiêu chí xác định mức thù lao cho các thành viên hội đồng quản trị, tổng giám đốc hoặc các thành viên ban giám đốc cũng như tổng số tiền thù lao đã hoặc sẽ trả dựa trên kết quả của năm báo cáo phải được công bố trong báo cáo thường niên

2.2 Về đối tượng được tiếp cận công bố thông tin

Đối tượng được tiếp cận thông tin không ai khác ngoài các cổ đông – chủ sở hữu công ty và những người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan Khoản 2 Điều 115 Luật Doanh

nghiệp năm 2020 cổ đông hoặc nhóm cổ đông sở hữu từ 05% (thay vì ở mức từ 10% như

Luật Doanh nghiệp năm 2014) tổng số cổ phần phổ thông trở lên hoặc một tỷ lệ khác nhỏ

hơn theo quy định tại Điều lệ công ty sẽ có quyền xem xét và trích lục sổ biên bản và các nghị quyết của HĐQT, báo cáo tài chính giữa năm và hằng năm theo mẫu của hệ thống kế toán Việt Nam và các báo cáo của BKS, hợp đồng, giao dịch phải thông qua HĐQT và tài liệu khác trừ tài liệu liên quan đến bí mật thương mại, bí mật kinh doanh của công ty Yêu cầu BKS kiểm tra từng vấn đề cụ thể liên quan đến quản lý, điều hành hoạt động của công ty khi xét thấy cần thiết Cổ đông cũng có quyền kiểm tra, tra cứu, trích lục, sao chép tên và địa chỉ liên lạc của cổ đông công ty trong sổ đăng ký cổ đông

Như vậy có thể thấy, sự thay đổi của Luật Doanh nghiệp năm 2020 tích cực hướng tới việc bảo vệ quyền lợi của nhóm các cổ đông nhỏ trong công ty cổ phần Nhằm đảm bảo cho

họ quyền được tiếp cận thông tin một cách nhanh chóng, kịp thời Thông qua đó làm tăng hiệu quả giám sát, hạn chế hệ thống cơ quan quản lý hoặc các nhóm cổ đông lớn lạm dụng địa vị, quyền hạn gây thiệt hại cho công ty và cổ đông nhỏ

7

Trang 8

Luật Doanh nghiệp năm 2020 quy định việc chuẩn bị báo cáo hằng năm của công ty

cổ phần phải được lưu giữ tại trụ sở chính của công ty chậm nhất là 10 ngày trước ngày khai mạc cuộc họp ĐHĐCĐ thường niên Các cổ đông sở hữu cổ phần của công ty liên tục ít nhất

01 năm có quyền tự mình xem xét hoặc cùng với luật sư, kế toán viên, kiểm toán viên có chứng chỉ hành nghề trực tiếp xem xét báo cáo Ngoài ra, đối với báo cáo kết quả kinh doanh của công ty, báo cáo tài chính và báo cáo đánh giá công tác quản lý, điều hành công ty sẽ phải được gửi đến BKS của công ty cổ phần chậm nhất là 30 ngày trước ngày khai mạc họp ĐHĐCĐ để thẩm định, xem xét

Luật Doanh nghiệp năm 2020 mở rộng đối tượng tiếp cận thông tin cho cả những cổ đông nước ngoài Theo đó, quy định về biên bản cuộc họp ĐHĐCĐ, họp HĐQT phải được lập bằng tiếng Việt và có thể lập thêm bằng tiếng nước ngoài Biên bản lập bằng tiếng Việt

và tiếng nước ngoài có hiệu lực pháp lý như nhau, trường hợp có sự khác nhau về nội dung giữa biên bản bằng tiếng Việt và bằng tiếng nước ngoài thì nội dung trong biên bản bằng tiếng Việt được áp dụng Thêm vào đó, luật cũng quy định biên bản họp ĐHĐCĐ phải được gửi đến tất cả cổ đông trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày kết thúc cuộc họp; việc gửi biên bản kiểm phiếu có thể thay thế bằng việc đăng tải lên trang thông tin điện tử của công ty

2.3 Về cách thức công bố thông tin

Khái niệm về Hệ thống thông tin quốc gia về đăng ký doanh nghiệp lần đầu tiên đã được quy định tại Luật doanh nghiệp 2014 và nay tiếp tục được ghi nhận, kế thừa trong Luật doanh nghiệp 2020 Theo đó, “Hệ thống thông tin quốc gia về đăng ký doanh nghiệp bao gồm Cổng thông tin quốc gia về đăng ký doanh nghiệp, Cơ sở dữ liệu quốc gia về đăng ký doanh nghiệp, cơ sở dữ liệu liên quan và hạ tầng kỹ thuật hệ thống6” Chính việc quy định về

hệ thống thông tin quốc gia về đăng ký doanh nghiệp này sẽ tạo ra kênh thông tin chính thức cung cấp, công bố thông tin về địa vị pháp lý của tất cả các doanh nghiệp trên phạm vi toàn quốc Điều này góp phần làm minh bạch hóa môi trường kinh doanh cũng như tạo được sự

an toàn, tin cậy cho các cổ đông và các doanh nghiệp trong quá trình hoạt động

Luật Doanh nghiệp năm 2020 rất chú trọng vào việc công khai những thông tin của công ty cổ phần một cách rộng rãi Tuy nhiên nếu xem xét theo những thông tin cơ bản mà nguyên tắc công bố thông tin và minh bạch của OECD quy định phải công bố công khai thì

8

Trang 9

các công ty cổ phần chưa nghiêm túc tuân thủ Có thể thấy những thông tin như điều lệ công

ty, báo cáo tài chính, báo cáo đánh giá kết quả hoạt động được các công ty niêm yết lên trang thông tin điện tử của công ty Tuy nhiên một số thông tin mà Bộ nguyên tắc OECD đưa ra như thông tin liên quan đến chính sách, chiến lược của công ty; thông tin về các yếu

tố rủi ro có thể tiên liệu và các vấn đề liên quan đến người lao động và người có lợi ích liên quan thì chưa thực sự được chú trọng

Chúng ta có thể hiểu rằng nếu công khai những thông tin này đến toàn thể xã hội mà

ai cũng có thể xem xét được sẽ phần nào ảnh hưởng trực tiếp đến việc điều hành và hoạt động của công ty cổ phần Những chính sách, chiến lược của công ty hay những yếu tố rủi ro tiềm ẩn nếu bị công ty đối thủ biết được sẽ có thể bị lợi dụng, bị trục lợi, công ty sẽ lâm vào tình trạng nguy hiểm khi đã trực tiếp bị mất đi lợi thế cạnh tranh

2.4 Yêu cầu đối với việc công bố thông tin và tính minh bạch

Vấn đề công khai và minh bạch thông tin là nghĩa vụ của lãnh đạo công ty, các vấn đề này cần phải được thực hiện một cách nghiêm túc, đầy đủ, kịp thời và chính xác Tuy nhiên, các quy định pháp luật Việt Nam về vấn đề này còn sơ lược cũng như chưa có sự tương thích với các thông lệ quốc tế7 Điều đó đã dẫn đến các nguy cơ tiềm ẩn như: làm mất niềm tin của các cổ đông và các nhà đầu tư, gây thiệt hại cho thị trường và các bên liên quan Cụ thể là: Việc công bố thông tin đôi khi bị nhầm lẫn với tính minh bạch Đáng tiếc là hai khái niệm này thường bị sử dụng thay thế cho nhau một cách nhầm lẫn Dù mới nhìn qua thì việc công bố thông tin và tính minh bạch có vẻ là một, nhưng thực tế đó là hai khái niệm khác nhau8

Mặt khác, cho dù Luật Doanh nghiệp năm 2020 chỉ nhắc đến nguyên tắc công khai trong công ty mà không nói đến minh bạch, theo đó doanh nghiệp có nghĩa vụ công khai thông tin về thành lập và hoạt động của doanh nghiệp, báo cáo, công khai lợi ích và người có liên quan của công ty và nghĩa vụ khác theo quy định của pháp luật tuy nhiên nhu cầu về minh bạch vẫn được nhận diện là một nhu cầu quan trọng9 Theo quy định của pháp luật Việt Nam về quản trị CTCP, có hai hình thức cơ bản là CTCP thông thường và CTCP đại chúng

Nam”, Tạp chí công thương, đăng ngày 04/08/2021

8 Tổ chức Tài chính Quốc tế (IFC), Cẩm nang Quản trị công ty (2008) trang 494.

9 “Yêu cầu về minh bạch trong công ty cổ phần”, Website Pháp trị - Thượng tôn pháp luật, đăng ngày 09/10/2021

9

Trang 10

– gọi tắt là Công ty đại chúng và về bản chất, công ty đại chúng chính là CTCP Tuy nhiên,

để trở thành công ty đại chúng, ngoài đáp ứng được các yêu cầu cơ bản về CTCP theo quy định của Luật Doanh nghiệp 2020, công ty đó còn phải đầy đủ những điều kiện đặc biệt được quy định ở Luật Chứng khoán 2019 Và Luật doanh nghiệp hiện hành cũng chỉ quy định nghĩa vụ công khai thông tin đối với CTCP thông thường còn vấn đề công khai thông tin đối với công ty đại chúng sẽ thuộc sự điều chỉnh bởi Luật chứng khoán 2019

Cụ thể là, so với Luật Doanh nghiệp, Luật Chứng khoán năm 2019 dành ra hẳn một chương riêng biệt để quy định nhiều hơn về vấn đề công bố thông tin của công ty đại chúng, theo đó ghi nhận nguyên tắc minh bạch trong hoạt động về chứng khoán và thị trường chứng khoán, công bố thông tin kịp thời, đầy đủ, chính xác và minh bạch hoạt động của công ty; bảo đảm cổ đông được tiếp cận thông tin công bằng Ngoài ra, luật này cũng ghi nhận trách nhiệm công bố thông tin minh bạch trong nội dung QTCT đại chúng tại Khoản 6, Điều 41, Luật Chứng khoán năm 2019

Như vậy, pháp luật đã quy định rõ việc công khai, minh bạch trong CTCP đại chúng

là bắt buộc và được ghi nhận một cách rõ nét trong Luật Chứng khoán hiện hành Tuy nhiên,

do chưa có sự tách bạch hai khái niệm tính công khai và tính minh bạch nên luật doanh nghiệp 2020 mới chỉ yêu cầu về tính công khai thông qua quy định về trách nhiệm công bố thông tin tại Điều 176 mà chưa có quy định bắt buộc và rõ ràng nào về tính minh mạch trong CTCP thông thường Song, xuất phát từ bản chất của CTCP như đã nêu trên thì nhu cầu về tính minh bạch đối với loại hình CTCP thông thường này là vô cùng cần thiết

Điều này được lý giải bởi đây là loại hình công ty có nhiều cổ đông, chỉ quy định số lượng tối thiểu mà không giới hạn số lượng tối đa dẫn đến việc CTCP có thể thu hút, huy động vốn không có giới hạn Những cổ đông góp vốn vào công ty chính là chủ sở hữu, họ thường không tham gia quản lý điều hành công ty nhưng lại vẫn có quyền được biết nguồn vốn mình góp vào công ty đang được dùng với mục đích gì và được sử dụng như thế nào

Do đó, tất yếu pháp luật về QTCTCP tại Việt Nam cần phải có sự bổ sung chi tiết hơn, rõ ràng hơn nhằm đảm bảo cho lợi ích của các cổ đông, đồng thời đảm bảo sự tách bạch giữa chủ sở hữu và cơ quan quản lý để đảm bảo quyền lợi cho cổ đông

10

Ngày đăng: 24/02/2023, 13:22

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w