1. Trang chủ
  2. » Tất cả

Kiến nghị về giải pháp giải quyết thực trạng vi phạm luật bản quyền

22 0 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Kiến nghị về giải pháp giải quyết thực trạng vi phạm luật bản quyền
Trường học Trường Đại Học Kiến Trúc Thành Phố Hồ Chí Minh
Chuyên ngành Luật Bản Quyền
Thể loại Bài Thu Hoạch
Thành phố Hồ Chí Minh
Định dạng
Số trang 22
Dung lượng 232,87 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Tiểu Luận Cuối Khoá LBQ TRƯỜNG ĐẠI HỌC KIẾN TRÚC THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH MÔN HỌC LUẬT BẢN QUYỀN ĐỀ TÀI Những vấn đề pháp lý và thực tiễn về vi phạm Luật bản quyền BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO CỘNG HOÀ XÃ HỘI[.]

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KIẾN TRÚC THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

MÔN HỌC: LUẬT BẢN QUYỀN

ĐỀ TÀI: Những vấn đề pháp lý và thực

tiễn về vi phạm Luật bản quyền

Trang 2

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAMTrường Đại học Kiến Trúc TP.HCM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

BÀI THU HOẠCH KẾT THÚC HỌC PHẦN: LUẬT BẢN QUYỀN

ĐIỂM CỦA BÀI

TIỂU LUẬN Họ tên và chữ ký của cán bộ chấm

Sinh viên nộp bài

Trang 3

Ký tên

MỤC LỤC

I - MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài ……….3

2 Tổng quan nghiên cứu ……… 3

3 Phạm vi nghiên cứu ……… 4

4 Mục đích nghiên cứu ……… ………4

5 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu ……….………… 4

II - NỘI DUNG NGHIÊN CỨU 1 Các khái niệm liên quan đến Luật bản quyền ….……….…………5

2 Các quy định pháp lý về Luật Bản Quyền……….9

3 Thực trạng vi phạm Luật Bản Quyền tại Việt Nam……… 13

4 Nguyên nhân dẫn đến thực trạng……… 17

5 Kiến nghị về giải pháp giải quyết thực trạng vi phạm Luật Bản Quyền…18 6 Liên hệ vấn đề với bản thân sinh viên………19

III - KẾT LUẬN……… 20

IV - TÀI LIỆU THAM KHẢO……… 20

Trang 4

I MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài:

Vấn đề vi phạm quyền tác giả hay quyền sở hữu trí tuệ luôn là một vấn đề nhứcnhối, là nỗi lo của nhiều người không chỉ ở Việt Nam nói riêng và trên thế giới nói chung.Ngày nay, với sự tiến bộ của khoa học - kỹ thuật, nhiều máy móc, thiết bị phát hiện saochép, đạo nhái hay những ứng dụng công nghệ dùng để ngăn ngừa sự “ăn cắp” ý tưởng, tácquyền đã được ra đời Song, cùng với đó, những chiêu trò, đạo nhái, đánh cắp bản quyềncũng ngày càng tinh vi hơn Quyền tác giả là quyền của tổ chức, cá nhân đối với tác phẩm

do mình sáng tạo ra hoặc sở hữu Quyền này được Nhà nước bảo hộ; do đó, pháp luật đãquy định trình tự thực hiện và bảo vệ các quyền này khi có hành vi xâm phạm Bất kỳ tổchức, cá nhân nào có hành vi xâm phạm quyền tác giả đều phải gánh chịu những hậu quảbất lợi do pháp luật quy định Chủ thể xâm phạm có thể phải chịu trách nhiệm hành chínhhoặc trách nhiệm dân sự, thậm chí là trách nhiệm hình sự Tuy nhiên, ở Việt Nam, thựctrạng xâm phạm quyền tác giả ngày càng có xu hướng gia tăng, tính chất vi phạm ngàycàng tinh vi hơn, nhưng số vụ án về quyền tác giả được tòa án thụ lý và giải quyết còn rấtkhiêm tốn, mặc dù so với biện pháp hành chính và biện pháp hình sự thì biện pháp dân sự

có ưu thế hơn Nguyên nhân là do tác giả, chủ sở hữu tác phẩm chưa coi việc khởi kiện ratòa là chuyện bình thường; cộng với năng lực, trình độ chuyên môn của cán bộ, công chứcngành Tòa án còn yếu, hiểu biết chưa sâu về lĩnh vực sở hữu trí tuệ nói chung và quyền tácgiả nói riêng; do cơ chế giải quyết tranh chấp tại tòa án còn nhiều bất cập

Bên cạnh đó, trong xu thế hội nhập kinh tế quốc tế, đặc biệt là hiện nay Việt Nam

đã tham gia công ước Berne (24/10/2006) và trở thành thành viên chính thức của Tổ chứcthương mại thế giới –WTO (11/01/2007) thì vấn đề bảo vệ quyền tác giả phải được quantâm thực hiện hơn nữa Để hiểu rõ hơn về các vấn đề pháp lý cũng như thực trạng vi phạmluật bản quyền ở Việt Nam hiện nay, sinh viên thực hiện bài tiểu luận nhằm đúc kết nhữngnghiên cứu về các vấn đề xoay quanh các cơ sở và vấn đề pháp lý cũng như thực trạng viphạm luật bản quyền đang còn nhiều tồn đọng ở nước ta

2 Tổng quan nghiên cứu:

Ở Việt Nam, việc sao chép tác phẩm của người khác là hiện tượng khá phổ biến,làm tổn hại lợi ích của tác giả và xã hội Trước tình hình đó, đã có rất nhiều bài báo, luận

Trang 5

văn, luận án nghiên cứu về vấn đề này để tìm ra giải pháp khắc phục tình trạng vi phạmbản quyền đang diễn ra rất phổ biến trong nhiều lĩnh vực đời sống Trong lĩnh vực đào tạosau đại học đã từng có một số công trình như Luận văn thạc sĩ luật học “quyền tác giả đốivới tác phẩm viết trong pháp luật dân sự Việt Nam - một số vấn đề lý luận và thực tiễn”của Trần Thị Thanh Bình năm 2005; Luận văn thạc sĩ luật học “Hoàn thiện pháp luật ViệtNam về bản quyền tác giả trong giai đoạn hiện nay” của Nguyễn Thanh Vân năm 2005; Nhưng các luận văn này đã được viết từ khá lâu, trong khi lĩnh vực bản quyền tác giả gầnđây có rất nhiều quan điểm, đối tượng và phương thức bảo hộ mới Các sách tham khảo vềlĩnh vực này cũng nhiều và mang tính giới thiệu tổng quát Các luận văn, sách tham khảonêu trên thường bàn đến vấn đề vĩ mô như cơ chế điều chỉnh pháp luật về bản quyền và tácđộng của nó đối với nền kinh tế thị trường Việt Nam.

3 Phạm vi nghiên cứu:

Trong khuôn khổ của một bài tiểu luận cuối khoá, sinh viên tập trung nghiên cứunhững lý luận cơ bản về mặt lý thuyết dựa trên bộ Luật Sở hữu trí tuệ2005, được sửa đổinăm 2009 và hệ thống các văn bản quy phạm pháp luật hướng dẫn bao gồm các Nghị định,Thông tư liên quan Đồng thời, sinh viên cũng tìm hiểu về nghiên cứu các vấn đề pháp lýcũng như thực trạng c=về các hành vi vi phạm Luật bản quyền tại Việt Nam

5 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu:

Phương pháp nghiên cứu của bài tiểu luận này là dựa trên phương pháp luận củaChủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh; quan điểm của Đảng và Nhà nước ta vềbảo hộ quyền tác giả đối với tác phẩm văn học, nghệ thuật, khoa học Đồng thời, Luận văn

sử dụng thêm một số phương pháp khác như phương pháp so sánh, phương pháp thống kê,tổng hợp

Trang 6

II NỘI DUNG NGHIÊN CỨU:

1 Các khái niệm liên quan đến Luật Bản Quyền:

1.1 Khái niệm quyền tác giả:

Quyền tác giả hay tác quyền là bản quyền hoặc độc quyền của một tác giảcho tác phẩm của người này Quyền tác giả được dùng để bảo vệ các sáng tạo tinhthần có tính chất văn hóa (cũng còn được gọi là tác phẩm) không, ví dụ như các bàiviết về khoa học hay văn học, sáng tác nhạc, ghi âm, tranh vẽ, hình chụp, phim vàcác chương trình truyền thanh Quyền này bảo vệ các quyền lợi cá nhân và lợi íchkinh tế của tác giả trong mối liên quan với tác phẩm này Một phần người ta cũngnói đó là quyền sở hữu trí tuệ và vì thế là đặt việc bảo vệ sở hữu vật chất và sở hữutrí tuệ song đôi với nhau, thế nhưng khái niệm này đang được tranh cãi gay gắt.Quyền tác giả không cần phải đăng ký và thuộc về tác giả khi một tác phẩm đượcghi giữ lại ít nhất là một lần trên một phương tiện lưu trữ Quyền tác giả thôngthường chỉ được công nhận khi sáng tạo này mới, có một phần công lao của tác giả

và có thể chỉ ra được là có tính chất duy nhất

Quyền tác giả cho phép tác giả được hưởng tác quyền suốt đời cộng thêm tốithiểu 50 năm sau khi qua đời Tuy nhiên các quốc gia tuân thủ công ước được phépnâng thời hạn hưởng tác quyền dài hơn

1.2 Quyền tác giả ở Việt Nam:

Quyền tác giả tại Việt Nam đã được quy định chi tiết trong Bộ Luật Dân sự

2005 (nay được thay thế tại Bộ Luật Dân Sự 2015), Luật Sở hữu trí tuệ và NghịĐịnh 22/2018/NĐ-CP của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một

số điều của Bộ luật Dân sự Luật Sở hữu trí tuệ về quyền tác giả và quyền liên quan.Theo đó, Quyền tác giả là quyền của tổ chức, cá nhân đối với tác phẩm do mìnhsáng tạo hoặc sở hữu, bao gồm các quyền sau đây:

a Quyền Nhân thân

● Đặt tên cho tác phẩm

● Đứng tên thật hoặc bút danh trên tác phẩm; được nêu tên thật hoặc bút danh khi tácphẩm được công bố, sử dụng;

Trang 7

● Công bố tác phẩm hoặc cho phép người khác công bố tác phẩm;

● Bảo vệ sự toàn vẹn của tác phẩm, không cho người khác sửa chữa, cắt xén hoặcxuyên tạc tác phẩm dưới bất kỳ hình thức nào gây phương hại đến danh dự và uy tíncủa tác giả

b Quyền tài sản

● Làm tác phẩm phái sinh;

● Biểu diễn tác phẩm trước công chúng;

● Sao chép tác phẩm;

● Phân phối, nhập khẩu bản gốc hoặc bản sao tác phẩm;

● Truyền đạt tác phẩm đến công chúng bằng phương tiện hữu tuyến, vô tuyến, mạngthông tin điện tử hoặc bất kỳ phương tiện kỹ thuật nào khác;

● Cho thuê bản gốc hoặc bản sao tác phẩm điện ảnh, chương trình máy tính

Tác phẩm được bảo hộ theo cơ chế quyền tác giả là các tác phẩm trong lĩnh vực vănhọc, khoa học và nghệ thuật

Thời hạn bảo hộ quyền tác giả:

● Quyền nhân thân (trừ quyền được công bố tác phẩm hoặc cho phép người kháccông bố tác phẩm) thì được bảo hộ vô thời hạn

● Đối với quyền công bố tác phẩm hoặc cho phép người khác công bố tác phẩm vàquyền tài sản thì:

○ Tác phẩm điện ảnh, nhiếp ảnh, mỹ thuật ứng dụng, tác phẩm khuyết danh cóthời hạn bảo hộ là 75 năm, kể từ khi tác phẩm được công bố lần đầu tiên;

○ Đối với tác phẩm điện ảnh, nhiếp ảnh, mỹ thuật ứng dụng chưa được công

bố trong thời hạn 25 năm, kể từ khi tác phẩm được định hình thì thời hạn bảo

hộ là 100 năm, kể từ khi tác phẩm được định hình;

○ Đối với tác phẩm khác và tác phẩm khuyết danh, khi các thông tin về tác giảxuất hiện thì thời hạn bảo hộ là suốt cuộc đời tác giả và 50 năm tiếp theonăm tác giả chết; trường hợp tác phẩm có đồng tác giả thì thời hạn bảo hộchấm dứt vào năm thứ năm mươi sau năm đồng tác giả cuối cùng chết;

Thời hạn bảo hộ trên sẽ chấm dứt vào thời điểm 24 giờ ngày 31 tháng 12 của nămchấm dứt thời hạn bảo hộ quyền tác giả

1.3 Luật sở hữu trí tuệ ở Việt Nam:

Trang 8

Luật sở hữu trí tuệ Việt Nam, được Quốc hội Việt Nam khóa XI trong kỳ họp thứ 8thông qua ngày 29 tháng 11 năm 2005 và có hiệu lực vào ngày 1 tháng 7 năm 2006, là luậtquy định về quyền tác giả, quyền liên quan đến quyền tác giả, quyền sở hữu công nghiệp,quyền đối với giống cây trồng và việc bảo hộ các quyền đó.

1 Quyền sở hữu trí tuệ: quyền của tổ chức, cá nhân đối với tài sản trí tuệ, bao gồmquyền tác giả và quyền liên quan đến quyền tác giả, quyền sở hữu công nghiệp vàquyền đối với giống cây trồng

2 Quyền tác giả: quyền của tổ chức, cá nhân đối với tác phẩm do mình sáng tạo rahoặc sở hữu

3 Quyền liên quan đến quyền tác giả: quyền của tổ chức, cá nhân đối với cuộc biểudiễn, bản ghi âm, ghi hình, chương trình phát sóng, tín hiệu vệ tinh mang chươngtrình được mã hóa

4 Quyền sở hữu công nghiệp: quyền của tổ chức, cá nhân đối với sáng chế, kiểu dángcông nghiệp, thiết kế bố trí mạch tích hợp bán dẫn, nhãn hiệu, tên thương mại, chỉdẫn địa lý, bí mật kinh doanh do mình sáng tạo ra hoặc sở hữu và quyền chống cạnhtranh không lành mạnh

5 Quyền đối với giống cây trồng: quyền của tổ chức, cá nhân đối với giống cây trồngmới do mình chọn tạo hoặc phát hiện và phát triển hoặc được hưởng quyền sở hữu

6 Tên thương mại: tên gọi của tổ chức, cá nhân dùng trong hoạt động kinh doanh đểphân biệt chủ thể kinh doanh mang tên gọi đó với chủ thể kinh doanh khác trongcùng lĩnh vực và khu vực

1.4 Thế nào là vi phạm Luật Bản Quyền:

1.4.1 Khái niệm vi phạm luật bản quyền:

Vi phạm bản quyền, ăn cắp bản quyền hay lậu là việc sử dụng các tác phẩm đượcbảo vệ bởi luật bản quyền một cách trái phép, trừ khi có sự cho phép, do đó vi phạm một

số quyền độc quyền được cấp cho chủ bản quyền, như quyền sao chép, phân phối, hiển thịhoặc thực hiện công việc được bảo vệ, hoặc để thực hiện các tác phẩm phái sinh Chủ bảnquyền thường là người tạo ra tác phẩm hoặc nhà xuất bản hoặc doanh nghiệp khác đượcgiao bản quyền Chủ bản quyền thường xuyên viện dẫn các biện pháp pháp lý và côngnghệ để ngăn chặn và xử phạt vi phạm bản quyền

Trang 9

Tranh chấp vi phạm bản quyền thường được giải quyết thông qua đàm phán trựctiếp, thông báo và xử lý, hoặc kiện tụng tại tòa án dân sự Vi phạm thương mại tổng hợphoặc quy mô lớn, đặc biệt là khi liên quan đến hàng giả, đôi khi bị truy tố thông qua hệthống tư pháp hình sự Thay đổi kỳ vọng của công chúng, tiến bộ trong công nghệ kỹ thuật

số và sự tiếp cận ngày càng tăng của Internet đã dẫn đến sự vi phạm ẩn danh, phổ biến đếnmức các ngành công nghiệp phụ thuộc bản quyền hiện nay ít tập trung vào việc theo đuổicác cá nhân tìm kiếm và chia sẻ nội dung được bảo vệ bản quyền trực tuyến, mà tập trungvào việc mở rộng bản quyền pháp luật công nhận và xử phạt, với tư cách là người xâmphạm gián tiếp, các nhà cung cấp dịch vụ và nhà phân phối phần mềm được cho là tạo điềukiện và khuyến khích các hành vi xâm phạm cá nhân của người khác

1.4.2 Các dạng vi phạm bản quyền:

a Vi phạm về bản quyền một tác phẩm:

Sao chép nguyên văn một phần hay toàn bộ tác phẩm đã có từ trước nhưng không

có giấy cho phép của người hay giới có bản quyền

Lưu truyền trái phép một phần hay toàn bộ tác phẩm không thuộc về quyền tác giảcủa mình Bản văn không bị sao chép nguyên văn nhưng toàn bộ ý tưởng chi tiết cũng nhưthứ tự trình bày của một tác phẩm bị sao chép Dạng vi phạm này khó phát hiện hơn nhưngvẫn có thể cho là một dạng vi phạm bản quyền nếu như có bằng chứng là "bản sao" bắtchước theo nguyên mẫu Có thể thấy ví dụ ở những luận án cao học không ghi rõ nguồn vàtác giả chính

Bản văn không bị sao chép nguyên văn nhưng bị thông dịch lại các ý tưởng sáng

tạo (thành ngôn ngữ khác hay thành các dạng khác).

b Vi phạm bản quyền của một sáng chế:

Sử dụng lại ý tưởng đã được công bố là sáng chế và bằng sáng chế nguyên thủy vẫncòn đang trong vòng hiệu lực của luật pháp Ở đây cần lưu ý, một bằng sáng chế tại mộtquốc gia hay địa phương này, sẽ khó có thể dùng để chứng minh rằng: một ứng dụng nào

đó (dựa trên sáng chế đó) tại một quốc gia khác là vi phạm bản quyền, trừ khi bằng sángchế đó có sự công nhận của quốc tế

Mô phỏng lại, hay viết lại (bằng một ngôn ngữ khác hay cách viết khác) miêu tả củamột ý kiến sáng tạo đã được công nhận là một sáng chế còn trong thời hạn định nghĩa bởi

Trang 10

chủ quyền cũng là một dạng vi phạm bản quyền Dạng này tương đối khó phát hiện nhưngnhững dấu tích về cấu trúc ý tưởng hay phương cách dàn dựng kỹ thuật sẽ có thể là nhữngdấu tích chứng minh rằng một sáng chế đã bị đánh cắp hay không Ví dụ: việc sao chép lạicác sáng chế trong phần mềm bằng cách dùng ngôn ngữ lập trình khác hơn ngôn ngữ củasáng chế nguyên thủy vẫn thường bị xem là vi phạm bản quyền nếu người viết lại đó môphỏng theo ý tưởng đã được cấp bằng sáng chế.

c Các dạng vi phạm khác:

Các dạng vi phạm bản quyền khác có thể bao gồm từ việc sao chép, mô phỏng lại

các thương hiệu (trademark) hay các biểu hiệu (logo) của một tổ chức, cho đến việc sao

chép các chi tiết có tính hệ thống mà phải qua một trình tự thời gian dài mới chứng minhđược Những vi phạm này thường rất khó phân định và nhiều lúc phải tốn nhiều thời giancũng như tài lực để chứng minh trước toà án rằng có hay không có sự vi phạm về bảnquyền

Trong tiếng Việt còn có từ đạo văn chỉ việc ăn cắp bản quyền các văn bản Một từtương tự là đạo nhạc, ăn cắp các giai điệu nhạc sáng tác bởi người khác, đạo hình, ăn cắphoặc chỉnh sửa hình ảnh trái phép hoặc không thuộc về mình

2 Các quy định pháp lý về Luật bản quyền:

Cũng như Hiệp định TRIPs, pháp luật hiện hành của nước ta quy định ba loại phương thứcđược áp dụng để thực thi quyền tác giả Cụ thể là phương thức dân sự, phương thức hànhchính và phương thức hình sự

2.1 Phương thức dân sự:

Bộ luật dân sự năm 1995 và các văn bản hướng dẫn thi hành về quyền tác giả trong

Bộ luật quy định: tác giả, chủ sở hữu tác phẩm được quyền khởi kiện yêu cầu cơ quan nhànước có thẩm quyền bảo vệ quyền của mình khi bị xâm hại; tranh chấp về quyền tác giảđược giải quyết theo thủ tục tố tụng dân sự Bộ luật tố tụng dân sự năm 2004 cũng quyđịnh: tranh chấp về quyền sở hữu trí tuệ, chuyển giao công nghệ thuộc thẩm quyền giảiquyết của Tòa án (khoản 40-Điều 25, khoản 2-Điều 29)

Theo quy định của pháp luật hiện hành, Toà án có thẩm quyền giải quyết nhữngtranh chấp về quyền tác giả sau đây: 1.Tranh chấp giữa các cá nhân, tổ chức nhằm xácđịnh tác giả, đồng tác giả, chủ sở hữu tác phẩm; 2.Tranh chấp giữa tác giả, đồng tác giả

Trang 11

không phải là chủ sở hữu tác phẩm và chủ sở hữu tác phẩm về các quyền nhân thân, quyềntài sản của các chủ thể này; 3.Tranh chấp về thừa kế quyền tác giả; 4.Tranh chấp phát sinh

từ hợp đồng sử dụng tác phẩm; 5.Tranh chấp phát sinh từ hợp đồng dịch vụ bản quyền tácgiả; 6.Tranh chấp giữa tác giả, chủ sở hữu tác phẩm gốc với tác giả, chủ sở hữu tác phẩmphái sinh (tác phẩm dịch, phóng tác, cải biên, chuyển thể, biên soạn, chú giải, tuyển chọn);7.Tranh chấp giữa tác giả, chủ sở hữu tác phẩm với những người có quyền kề cận (quyềnliên quan đến quyền tác giả) là người biểu diễn, tổ chức sản xuất băng ghi âm, ghi hình, tổchức phát sóng; 8.Tranh chấp giữa những tổ chức, cá nhân có quyền liên quan đến quyềntác giả, bao gồm: người biểu diễn, tổ chức sản xuất băng ghi âm, ghi hình, tổ chức phátsóng và những người khác có hành vi vi phạm quyền của họ; 9.Tranh chấp giữa tác giả,đồng tác giả với những người có liên quan nhưng không phải là tác giả, bao gồm: ngườisưu tầm tài liệu cho tác giả, người cung cấp tài chính và phương tiện vật chất khác

Theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2004 (Điều 25, Điều 27, Điều 33,Điều 34), thẩm quyền giải quyết các tranh chấp sở hữu trí tuệ của Toà án được xác địnhnhư sau: 1.Nếu tranh chấp sở hữu trí tuệ thuần tuý là tranh chấp dân sự, thuộc thẩm quyềncủa Toà án cấp huyện; 2.Nếu tranh chấp sở hữu trí tuệ thuần tuý là tranh chấp dân sự

nhưng có đương sự hoặc đối tượng sở hữu trí tuệ ở nước ngoài, thuộc quyền của Toà áncấp tỉnh; 3.Nếu tranh chấp sở hữu trí tuệ giữa cá nhân, tổ chức với nhau và đều có mụcđích lợi nhuận được coi là tranh chấp thương mại, kinh doanh và thuộc thẩm quyền củaToà án cấp tỉnh

Thủ tục tố tụng dân sự cho phép tác giả, chủ sở hữu tác phẩm văn học, nghệ thuật,khoa học được quyền khởi kiện yêu cầu Tòa án công nhận quyền của mình; buộc người cóhành vi xâm phạm quyền tác giả, chấm dứt hành vi xâm phạm; và buộc người có hành vixâm phạm phải bồi thường thiệt hại

Ngày đăng: 24/02/2023, 13:17

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w