MỤC LỤC 3I MỞ ĐẦU 31 Lý do chọn đề tài 32 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu 43 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 44 Câu hỏi nghiên cứu 56 Phương pháp nghiên cứu 5II NỘI DUNG 61 Cơ sở lý luận 82 Nội dung v[.]
Trang 1
MỤC LỤC I MỞ ĐẦU 3
1 Lý do chọn đề tài 3
2 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu 3
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 4
4 Câu hỏi nghiên cứu 4
6 Phương pháp nghiên cứu 5
II NỘI DUNG 5
1 Cơ sở lý luận 6
2 Nội dung và kết quả khảo sát 8
III KẾT LUẬN 14
TÀI LIỆU THAM KHẢO 16
Trang 2I MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Hiện nay, cùng với sự phát triển ngày càng mạnh mẽ của xã hội, vấn đề tâm lý và sức khỏe tâm thần cũng ngày càng được chú trọng hơn Tâm lý học là khoa học nghiên cứu về tâm trí và hành vi, các quá trình, hiện tượng tâm lý của con người, trên cơ sở đó, vận dụng các tri thức trong việc hình thành và phát triển tâm lý con người, sử dụng, tác động một cách hiệu quả các khía cạnh tâm lý, góp phần giúp con người có sức khỏe tâm thần khỏe mạnh, cân bằng hơn, giúp cuộc sống hạnh phúc hơn
Tâm lý học nhân cách là một nhánh của tâm lý học, nghiên cứu về nhân cách con người, nhằm tìm hiểu về bản chất con người, sự giống và khác nhau giữa các cá nhân, sự hình thành, phát triển và biến đổi của nhân cách con người Sự hiểu biết về nhân cách con người giúp ta có thể dự đoán được cách mỗi người phản ứng với các vấn đề, sự vật, sự việc, tìm ra được ưu nhược điểm của mỗi cá nhân, từ đó có cách tác động hiệu quả đến cá nhân đó
Đã có rất nhiều các công trình nghiên cứu, cả trong và ngoài nước, về Tâm lý học nói chung và về nhân cách, Tâm lý học nhân cách nói riêng được thực hiện trên nhiều khía cạnh và với nhiều nhóm khách thể, trong nhiều phạm vi khác nhau Nhiều nghiên cứu đã chỉ ra vai trò, sự tác động của nhân cách tới các vấn đề ứng xử xã hội và trong học tập Các nghiên cứu về các đặc điểm nhân cách của học sinh, sinh viên đã có nhiều đóng góp cho giáo dục, giúp tìm ra các định hướng, phương pháp, hình thức giáo dục phù hợp với mỗi đối tượng có các đặc điểm nhân cách cụ thể
Đề tài “Một số đặc điểm nhân cách học sinh trường THPT Vĩnh Yên, Vĩnh Yên, Vĩnh Phúc” nhằm chỉ ra đặc điểm nhân cách của nhóm học sinh đang theo học tại trường Trung học phổ thông (THPT) Vĩnh Yên, từ đó giúp tìm ra phương pháp và hình thức giáo dục thích hợp với nhóm đối tượng này
2 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
Mục đích nghiên cứu: chỉ ra tổng quan về nhân cách của nhóm khách thể nghiên cứu, từ đó làm cơ sở tìm ra phương pháp và cách tổ chức dạy học phù hợp với đặc điểm nhân cách của nhóm khách thể
Trang 3Nhiệm vụ nghiên cứu: chỉ ra và phân tích về đặc điểm nhân cách của nhóm khách thể thông qua thang đo NEO PI R
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng: Đặc điểm nhân cách của nhóm học sinh trường THPT Vĩnh Yên, Vĩnh Yên, Vĩnh Phúc
Phạm vi nghiên cứu: Học sinh 17-18 tuổi, trường THPT Vĩnh Yên, Vĩnh Yên, Vĩnh Phúc
4 Câu hỏi nghiên cứu
Đặc điểm nhân cách của nhóm khách thể là như thế nào?
Những đặc điểm nhân cách đó của nhóm khách thể nói lên điều gì?
5 Tổng quan tài liệu
Đã có khá nhiều các nghiên cứu về nhân cách nói chung và về vấn đề nhân cách liên quan đến học sinh, sinh viên nói riêng, cũng như tác động, ảnh hưởng của nhân cách đến vấn đề như học tập, rèn luyện và cách giáo dục Trên cơ sở nghiên cứu, tìm hiểu về đặc điểm nhân cách của học sinh, sinh viên, giáo viên, các nhà giáo dục… có thể vận dụng để tìm ra định hướng, phương pháp và hình thức giảng dạy thích hợp, giúp tăng hiệu quả và kết quả học tập của học sinh, sinh viên
Một số nghiên cứu như “Personality and vocational interests in high school students” của Shoaib Kiani (2010), “Xu hướng chọn nghề của học sinh trung học phổ thông có kiểu nhân cách khác nhau” của Nguyễn Thạc & Nguyễn Thị Ngọc Liên (2005)
đều đã chỉ ra rằng các đặc điểm nhân cách có ảnh hưởng đến sở thích nghề nghiệp, xu hướng chọn nghề, chọn ngành học tương tai của học học sinh Những học sinh có kiểu nhân cách khác nhau sẽ có lựa chọn các nhóm ngành nghề ở các lĩnh vực khác nhau Theo nghiên cứu của Nguyễn Thạc & Nguyễn Thị Ngọc Liên, những học sinh hướng nội có xu hướng chọn những nghề thuộc nhóm “Người - Hệ thống khái niệm” như kiến trúc sư, kế toán, nhà nghiên cứu…, trong khi những học sinh hướng ngoại lại thích những nghề thuộc nhóm “Người – Người” như ngoại giao, nhà báo, marketing…
Trong bài báo “Một số đặc điểm nhân cách sinh viên học các ngành học khác nhau” của Đinh Thị Kim Thoa & Trần Văn Công (2010) cũng đã sự khác biệt về đặc
Trang 4điểm nhân cách của các sinh viên đang theo học những nhóm ngành khác nhau Ví dụ như: Sinh viên ngành Nhân văn có tính hướng ngoại cao hơn so với sinh viên Sư phạm, hay ở yếu tố nhiễu tâm, sinh viên Nhân văn có điểm cao nhất và sinh viên Y khoa có điểm thấp nhất so với các nhóm ngành khác
Vì vậy, việc nghiên cứu về đặc điểm nhân cách của học sinh là một cơ sở giúp định hướng, điều chỉnh phương pháp dạy học sao cho hiệu quả và góp phần vào công tác hướng nghiệp cho học sinh THPT
Trong “Nghiên cứu mối liên hệ giữa đặc điểm nhân cách và hiện tượng bắt nạt ở học sinh phổ thông trên địa bàn tỉnh Bắc Ninh” của Nguyễn Thị Duyên (2012) cũng đã
cho thấy đặc điểm nhân cách của học sinh có sự liên quan với bắt nạt học đường ở học sinh phổ thông Cụ thể, nghiên cứu đã chỉ ra rằng, học sinh có đặc điểm nhân cách hướng ngoại tiêu cực thì có xu hướng đi bắt nạt nhiều hơn, còn học sinh thường bị bắt nạt nhất là những người có đặc điểm hướng nội tiêu cực, và người có đặc điểm nhân cách điềm tĩnh
ít có xu hướng bắt nạt người khác hơn các nhóm đặc điểm nhân cách khác
Như vậy, không chỉ trong vấn đề giảng dạy kiến thức văn hóa và định hướng nghề nghiệp, việc phát hiện đặc điểm nhân cách của học sinh còn góp phần vào việc rèn luyện phẩm chất đạo đức, từ đó có thể phòng ngừa các nguy cơ và kịp thời can thiệp các hành vi tiêu cực trong học đường
6 Phương pháp nghiên cứu
Đề tài khảo sát trên 33 học sinh được lựa chọn ngẫu nhiên trong độ tuổi 17-18 (học sinh sẽ lên lớp 12 trong năm học 2021-2022) trường THPT Vĩnh Yên, trong đó có 14 nam (42,42%) và 19 nữ (57,58%) Thời gian tiến hành khảo sát là tháng 7/2021
Nghiên cứu sử dụng công cụ đo là trắc nghiệm nghiệm NEO-PI-R, cụ thể là bản NEO-60VN đã được thích nghi phù hợp với người Việt Nam Bộ trắc nghiệm gồm 60 câu, đánh giá 5 nhân tố lớn của nhân cách, mỗi nhân tố gồm 12 câu Câu trả lời được thiết
kế theo dạng Likert 5 điểm: 0 = hoàn toàn sai, 1 = sai, 2 = không đúng cũng không sai, 3
= đúng, 4 = hoàn toàn đúng
Kết quả thu được từ khảo sát được xử lý bằng phần mềm IBM SPSS Statistics 25
Trang 51 Cơ sở lý luận
1.1 Khái niệm về nhân cách
Có rất nhiều quan niệm và cách định nghĩa khác nhau về nhân cách Hiện nay, có rất nhiều trường phái, lý thuyết khác nhau trong tâm lý học và mỗi lý thuyết lại có một cách
lý giải riêng về nhân cách
Theo thuyết Phân tâm học của Sigmund Freud (1910), yếu tố cơ bản của nhân cách
là bản năng, cấu trúc của nhân cách gồm có 3 phần: cái Nó, cái Tôi và cái Siêu tôi Trong
đó, cái Nó được coi là bể chứa bản năng, liên quan đến việc thoả mãn những nhu cầu của
cơ thể, vận hành theo “nguyên tắc khoái lạc”; cái Tôi làm chủ lý tính của nhân cách, nó trì hoãn hoặc hướng cái Nó theo những đòi hỏi thực tế, đảm bảo những thôi thúc bản năng được thể hiện ra theo cách được xã hội chấp nhận, hoạt động theo “nguyên tắc hiện thực”;
và cái Siêu tôi, bao gồm tất cả những lý tưởng và tiêu chuẩn đạo đức, nó có 2 phần là Cái Tôi lý tưởng và Lương tri
Theo Gordon Allport (được trích dẫn bởi Schultz & Schultz, 2016), “nhân cách là sự cấu tạo năng động trong mỗi cá nhân về những hệ thống tâm sinh lý xác định … hành vi
và suy nghĩ tiêu biểu”
E.V.Sorokhova lại cho rằng: “Nhân cách là con người với tư cách là kẻ mang toàn
bộ thuộc tính tâm lý của cá nhân, biểu hiện bản sắc và giá trị xã hội của con người.” (trích dẫn bởi Nguyễn Quang Uẩn, 2011)
Bên cạnh đó còn có các lý thuyết tâm lý học nhân văn của Abraham Maslow, Carl Roger,…; phân tâm học mới của Card Jung, Erik H.Erikson, Alfred Adler,…; tiếp cận hành vi của B.F.Skinner, John B Waston, Hans J Eysenck,…
Từ các quan niệm, định nghĩa trên, Nguyễn Quang Uẩn đã đưa ra một định nghĩa về nhân cách: Nhân cách là tổ hợp những đặc điểm, những thuộc tính tâm lý của cá nhân, biểu hiện bản sắc và giá trị xã hội của con người
1.2 Trắc nghiệm NEO PI R
NEO-PI-R là bộ trắc nghiệm đánh giá nhân cách một cách toàn diện dành cho thanh niên và người trưởng thành, cụ thể là từ 17 tuổi đến 89 tuổi, được phát triển bởi Paul Costa và Robert McCrae
Trang 6Bộ trắc nghiệm NEO-PI-R được xây dựng trên mô hình 5 nhân tố lớn của nhân cách (Five Factor Model - FFM hay còn gọi là Big Five), chỉ ra 5 nét nhân cách cơ bản, được
sử dụng để mô tả nhân cách con người
Trong lịch sử phát triển của mô hình 5 nhân tố, có rất nhiều quan điểm khác về việc
5 nhân tố lớn của nhân cách là những nhân tố nào Ví dụ: theo Goldberg (1981, 1989) là Sức sống (Surgency), Đồng thuận (Agreeableness), Tính tận tâm (Conscientiousness), Ổn định tình cảm (Emotional Stability) và Trí tuệ (Intellect); theo Botwin và Buss (1989) là Hướng ngoại, Đồng thuận, Tận tâm, Bất ổn định tình cảm (Emotional instability) và Văn hoá (Culture) (trích dẫn bởi Halverson và c.s., 2014) Mô hình 5 nhân tố theo Costa và McCrae (1985) bao gồm: Sự nhiễu tâm (Neuroticism), Sự hướng ngoại (Exraversion), Tính cởi mở học hỏi (Openness), Tính dễ chịu (Agreeableness) và Sự tận tâm (Conscientiousness); còn được gọi tắt theo các chữ cái đầu các nhân tố là OCEAN
Ý nghĩa của 5 nhân tố này được diễn giải như sau:
- Nhiễu tâm (Neuroticism): đánh giá sự bất ổn định về mặt cảm xúc, dễ rơi vào stress
và có những trải nghiệm cảm xúc tiêu cực, khó khăn trong việc điều hòa, kiểm soát cảm xúc
- Hướng ngoại (Extraverson): đánh giá số lượng và cường độ các tương tác cá nhân,
mức độ tích cực, nhu cầu khuyến khích và khả năng hưởng ứng
- Cởi mở (Openness): là yếu tố mô tả việc lao vào thử nghiệm, đánh giá cao và nắm
giữ các kinh nghiệm, khả năng tìm kiếm những cái mới lạ
- Dễ chịu (Agreeableeness): đánh giá chất lượng sự định hướng của cá nhân con
người theo mức độ liên tục từ sự đồng tình đến đối nghịch trong suy nghĩ, cảm giác và hành động
- Tận tâm (Conscientiousness) : đánh giá mức độ tổ chức, uy tín, động cơ trong hành
vi hướng tới mục đích của cá nhân Nó tương phản giữa những cá nhân phụ thuộc, khó tính với những người độc lập và mềm mỏng
Bộ trắc nghiệm NEO-PI-R được xây dựng trên 5 nhân tố lớn, mỗi nhân tố gồm 6 tiểu thang đo và mỗi tiểu thang đo có 8 items, tổng cộng là 240 items Câu trả lời được
Trang 7thiết kế theo dạng Likert 5 điểm: 0 = hoàn toàn sai, 1 = sai, 2 = không đúng cũng không sai, 3 = đúng, 4 = hoàn toàn đúng
Bộ trắc nghiệm được sử dụng trong đề tài này là NEO-60VN - phiên bản rút gọn 60 câu (12 câu cho mỗi nhân tố) và đã được dịch và thích nghi để phù hợp với người Việt Nam
2 Nội dung và kết quả khảo sát
2.1 Độ tin cậy của thang đo
Qua xử lý kết quả thu được từ thang đo, độ tin cậy của cả thang đo 60 câu với chỉ số Cronbach’s Alpha là 0.741 Chỉ số Cronbach’s Alpha của từng nhân tố A, N, O, E, C lần lượt là 0.809, 0.843, 0.690, 0.758, 0.811 Như vậy, kết quả kiểm định độ tin cậy cho cả thang đo và từng thang đo nhỏ cho thấy hệ số Cronbach’s Alpha đều > 0,6 đạt tiêu chuẩn
về độ tin cậy của thang đo
Tuy nhiên, biến 3.1 Tôi thích ở những nơi quen thuộc của nhân tố O có hệ số tương
quan biến tổng là -0.014 nên loại bỏ biến này và chạy lại Cronbach’s Alpha Sau khi loại
bỏ biến này nhân tố O có chỉ số Cronbach’s Alpha là 0.717 > 0.6, đạt tiêu chuẩn về độ tin cậy của thang đo
2.2 Kết quả khảo sát một số đặc điểm nhân cách nhóm học sinh 17-18 tuổi
trường THPT Vĩnh Yên, Vĩnh Yên, Vĩnh Phúc (qua trắc nghiệm - NEO PI-R)
Bảng 1 Đặc điểm nhân cách của học sinh 17-18 tuổi trường THPT Vĩnh Yên
Kết quả thống kê cho thấy nhóm học sinh 17-18 tuổi trường THPT Vĩnh Yên có điểm số mặt hướng ngoại cao nhất (M=2.5429) cho thấy nhóm học sinh này có mức độ tương tác cá nhân, khả năng hưởng ứng cao, tích cực trong các hoạt động chung Tuy nhiên, điểm tính nhiễu tâm lại cao thứ hai (M=2.5177) cho thấy sự bất ổn về cảm xúc, dễ
Trang 8rơi vào stress Tính tận tâm, dễ chịu, cởi mở lần lượt đứng thứ 3,4,5, đều có điểm cao hơn trung bình nhưng không phải những đặc điểm nổi trội của nhóm học sinh này
Khi so sánh các kết quả khảo sát đạt được trong đề tài này với kết quả đánh giá các đặc điểm nhân cách của thanh niên Việt Nam trong nghiên cứu “Đặc điểm nhân cách của thanh niên Việt Nam qua thang đo NEO-60VN” của Bùi Thị Thúy Hằng và c.s (2018), ta thấy điểm về Tính dễ chịu (A), Tính cởi mở (O) và Sự hướng ngoại (E) không có chênh lệch gì quá nhiều Tính nhiễu tâm (N) có chênh lệch khá lớn (2.5177 > 2.2533), nhóm học sinh này có Tính nhiễu tâm cao hơn nhiều so với kết quả trong nghiên cứu về thanh niên Việt Nam Trong khi đó Sự tận tâm (C) của nhóm khách thể này lại thấp hơn so với trong nghiên cứu về thanh niên Việt Nam (2.4066 < 2.5767) Những điểm khác biệt này có thể
do sự chênh lệch về phạm vi độ tuổi và khu vực khảo sát – nghiên cứu của Bùi Thị Thúy Hằng và c.s được khảo sát trên thanh niên 16-30 tuổi ở 23 tỉnh thành trên cả nước, đề tài này chỉ giới hạn ở đối tượng học sinh 17-18 tuổi trong một trường học – và do sự khác biệt về bối cảnh xã hội– năm 2018 khi chưa diễn ra dịch COVID-19 và thời điểm hiện tại, khi dịch đang lây lan nhanh và diễn biến phức tạp
Xem xét cụ thể từng yếu tố nhân cách, thống kê cho thấy:
(Ghi chú: những câu được đánh dấu * là những câu đã được đảo ngược điểm số, 4
= hoàn toàn sai, 3 = sai, 2 = không đúng cũng không sai, 1 = đúng, 0 = hoàn toàn đúng )
1* Nếu ai đó bắt đầu cuộc chiến, tôi sẽ sẵn sàng đấu lại .00 4.00 1.5758 1.17341 2* Tôi là người cứng đầu và bướng bỉnh .00 4.00 2.0000 82916 3* Tôi tin rằng hầu hết mọi người sẽ lợi dụng bạn nếu họ có dịp .00 4.00 2.0909 1.01130 4* Tôi hay nghi ngờ ý định của người khác 1.00 4.00 2.3333 95743 5* Một số người nghĩ rằng tôi là người lạnh lùng và tính toán .00 4.00 2.3333 1.05079 6* Khi cần tôi có thể trở nên mỉa mai và cay độc .00 4.00 2.3333 1.29099 7* Đôi khi tôi có thể đe dọa hoặc nịnh bợ người khác để họ làm
8* Tôi có khả năng đạt được những điều tôi muốn từ người khác
9* Đôi khi tôi lừa mọi người làm những gì tôi muốn 1.00 4.00 2.3030 1.15879 10* Một số người cho rằng tôi là người ích kỉ và tự cao tự đại 1.00 4.00 2.4545 1.00284 11* Tôi hay cãi nhau với người nhà và đồng nghiệp .00 4.00 2.3939 1.17099 12* Nếu cần thiết, tôi sẵn sàng thao túng mọi người để có thứ mình
Trang 9Bảng 2 Đặc điểm về tính dễ chịu của nhóm học sinh
Điểm trung bình tính dễ chịu của nhóm học sinh này là 2.3788, đứng thứ 4/5, tức là không cao so với các nhân tố khác, nhưng vẫn cao hơn mức trung bình Điều này có nghĩa
là những học sinh này thường có tính cạnh tranh, họ không dễ dàng tin tưởng hay tha thứ cho người khác, tuy nhiên cũng không quá hiếu chiến hay đa nghi
Kết quả ở bảng 2 cho thấy: câu 12 “*Nếu cần thiết, tôi sẵn sàng thao túng mọi người để có thứ mình muốn” có điểm trung bình cao nhất (3.2727), có nghĩa là hầu hết
học sinh đều không lựa chọn thao túng người khác để được thứ mình muốn; và câu 1
“*Nếu ai đó bắt đầu cuộc chiến, tôi sẽ sẵn sàng đấu lại” có điểm trung bình thấp nhất,
tức là phần lớn sẵn sàng đấu lại nếu có người gây chiến, gây sự với mình
1* Cảm xúc của tôi khá ổn định .00 4.00 1.9091 1.18226
3* Tôi ít khi cảm thấy cô đơn hay buồn bã .00 4.00 2.4848 1.09320 4* Hiếm khi tôi có cảm giác sợ hãi hay lo lắng 00 4.00 2.5758 1.14647 5* Hiếm khi tôi buồn hay chán nản 1.00 4.00 2.6364 85944
7 Khi có quá nhiều căng thẳng, tôi thấy mình như không thể chịu
đựng thêm nữa
1.00 4.00 2.5455 79415
8* Hiếm khi tôi thấy lo sợ về tương lai .00 4.00 2.5758 1.06155
9 Nhiều lần, khi sự việc trở nên tồi tệ, tôi thấy chán nản và muốn
từ bỏ
.00 4.00 2.4848 1.00378
10 Đôi khi tôi cảm thấy cay đắng và uất ức .00 4.00 1.9091 1.18226
11 Tôi thường lo về những việc có thể trở nên tồi tệ .00 4.00 2.0000 1.14564
12 Đôi khi những ý nghĩ đáng sợ xuất hiện trong đầu tôi .00 4.00 2.4848 1.09320
Bảng 3 Đặc điểm về tính nhiễu tâm của nhóm học sinh
Điểm trung bình tính nhiễu tâm của nhóm khách thể này là 2.5177, cao thứ 2 trong 5 nhân tố Điều này cho thấy sự bất ổn, khó khăn trong việc điều chỉnh, khiếm soát cảm xúc, dễ bị stress và rơi vào nhũng cảm xúc tiêu cực như giận dữ, lo sợ, tội lỗi, Họ thường có phản ứng tiêu cực và kém trong việc ứng phó với những khó khăn và cảm xúc Giả thiết nguyên nhân điểm nhiễu tâm cao là do nhóm khách thể này vẫn đang trong tuổi dậy thì, có sự thay đổi về tâm sinh lý nên có phần thiếu ổn định về mặt cảm xúc và hiện tại họ đang ở trong thời điểm sắp bước vào lớp 12 và phải đối mặt với kỳ thi tốt nghiệp và
Trang 10việc định hướng cho tương lai, do vậy dễ gặp phải căng thẳng, lo lắng Bên cạnh đó, khảo sát này được thực hiện vào tháng 7-2021, thời điểm dịch COVID-19 đang diễn ra ngày càng phức tạp và lây lan nhanh, gây ảnh hưởng tới sinh hoạt hàng ngày và việc học tập của học sinh trong quãng thời gian dài cũng gây nên stress, căng thẳng và lo âu
Theo bảng: 2 câu “*Cảm xúc của tôi khá ổn định” và “Đôi khi tôi cảm thấy cay đắng và uất ức” có điểm trung bình thấp nhất (đều là 1.9091) và 2 câu điểm cao nhất là
“*Rất khó làm tôi tức giận” và “*Hiếm khi tôi buồn hay chán nản” (lần lượt là 2.6667 và
2.6364) Kết quả cho thấy nhóm học sinh này tự nhận định mình có cảm xúc khá ổn định, hiếm khi cảm thấy cay đắng và uất ức, nhưng lại dễ tức giận và thường cảm thấy buồn, chán nản
2* Theo tôi, việc giữ đúng các nguyên tắc sống đã có quan trọng
hơn là sẵn sàng tiếp thu cái mới
.00 4.00 2.2121 1.05349
3 Tôi thích giải những câu đối hóc búa .00 4.00 2.0909 84275 4* Khi còn nhỏ, hiếm khi tôi chơi trò chơi tưởng tượng .00 4.00 2.2121 1.13901 5* Tôi ít quan tâm đến việc tìm hiểu bản chất vũ trụ hay loài người .00 4.00 2.0606 1.22320 6* Thơ ca thường không có tác dụng gì đối với tôi .00 4.00 2.2121 1.19262 7* Tôi ít khi quan tâm đến cảm xúc hiện tại của mình .00 4.00 2.7879 1.13901
9 Tôi có trí tưởng tượng rất phong phú .00 4.00 2.6061 96629 10* Tôi không quan tâm tới thẩm mỹ và nghệ thuật .00 4.00 2.6364 1.11294
11 Một số thể loại nhạc có sức cuốn hút rất lớn đối với tôi .00 4.00 2.9697 1.01504
12 Thi thoảng, tôi hoàn toàn đắm chìm trong bản nhạc mà tôi đang
nghe
1.00 4.00 3.2424 79177
Bảng 4 Đặc điểm về tính cởi mở của nhóm học sinh
Nhóm khách thể này có điểm trung bình tính cởi mở M=2.3636, thấp nhất trong các nhân tố, nhưng cao hơn mức trung bình (M=2), tức là khá cứng nhắc và truyền thống, thích làm theo khuôn mẫu, ngại thử, trải nghiệm những điều mới mẻ, học hỏi, tìm tòi
những thứ mới lạ Tuy vậy, nhưng điểm trung bình ở các câu “*Tôi ít khi quan tâm đến cảm xúc hiện tại của mình”, “*Tôi không quan tâm tới thẩm mỹ và nghệ thuật”, “Tôi có trí tưởng tượng rất phong phú” khá cao (Điểm trung bình lần lượt là 2.7879, 2.6364, 2.6061) và 2 câu “Thi thoảng, tôi hoàn toàn đắm chìm trong bản nhạc mà tôi đang nghe”, “Một số thể loại nhạc có sức cuốn hút rất lớn đối với tôi” có điểm đặc biệt cao