HP 080033004 Huynh Ngoc Nhu Quynh 18540300822 TRƯỜNG ĐẠI HỌC KIẾN TRÚC THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH BÀI TIỂU LUẬN CÁ NHÂN MÔN LUẬT BẢN QUYỀN Đề tài Những vấn đề pháp lý và thực tiễn về vi phạm pháp luật bản[.]
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC KIẾN TRÚC THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
BÀI TIỂU LUẬN CÁ NHÂN
MÔN: LUẬT BẢN QUYỀN
Đề tài: Những vấn đề pháp lý và thực tiễn về vi phạm pháp luật bản quyền.
Trang 2BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Trường Đại học Kiến Trúc TP.HCM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc
BÀI THU HOẠCH KẾT THÚC HỌC PHẦN: LUẬT BẢN QUYỀN
ĐIỂM CỦA BÀI TIỂU
LUẬN Họ tên và chữ ký của cán bộ chấm thi thứ 1
Họ tên và chữ ký của cán bộ chấm thi thứ 2
Ghi bằng
số
Ghi bằng chữ
Thành phố Hồ Chí Minh, Ngày 10 tháng 12 năm 2021
Sinh viên nộp bài
Trang 3CÂU HỎI: Những vấn đề pháp lý và thực tiễn về vi phạm pháp luật bản quyền.
A MỞ BÀI:
Những năm gần đây, vấn đề sở hữu trí tuệ nói chung, quyền tác giả và quyền liên quan ở tỉnh ta cũng như trên cả nước đã được quan tâm triển khai thực thi Nhận thức của tổ chức, cá nhân về vấn đề này cũng đã được nâng lên rõ rệt Việc chi trả chế độ nhuận bút, thù lao đối với chủ sở hữu quyền tác giả và quyền liên quan ngày càng được thực hiện nghiêm túc Tuy nhiên, tình trạng vi phạm bản quyền tác giả và quyền liên quan còn diễn ra khá phổ biến ở hầu hết các lĩnh vực từ văn học, nghệ thuật đến khoa học Công tác quản lý và xử lý vi phạm bản quyền gặp rất nhiều khó khăn, nhất là khi internet và các ứng dụng nền tảng ngày càng phát triển
B THÂN BÀI
1 Khái niệm vi phạm pháp luật
Vi phạm pháp luật là một hiện tượng lệch chuẩn xã hội, gây ra hoặc đe dọa gây
ra những hậu quả xấu cho xã hội Việc nhận thức đúng đắn, đầy đủ về vi phạm pháp luật có ý nghĩa quan trong, nó giúp cho việc nhận diện hiện tượng xã hội này, phân biệt chúng với các hiện tượng xã hội lệch chuẩn khác, từ đó có các biện pháp có hiệu quả để ngăn ngừa, giảm thiểu hiện tượng này trong đời sống
Vi phạm pháp luật là hành vi trái pháp luật, có lỗi, do chủ thể có năng lực trách nhiệm pháp lý thực hiện, xâm hại các quan hệ xã hội được pháp luật bảo vệ
2 Dấu hiệu nhận biết vi phạm pháp luật
Thứ nhất, vi phạm pháp luật là hành vi thực tế của con người.
Hành vi là xử sự của con người trong một điều kiện, hoàn cảnh cụ thể, biểu hiện bằng lời nói, thảo tác, cử chỉ nhất định hoặc bằng sự thiếu vắng những thao tác,
cử chỉ, lời nói nào đó
Trang 4Pháp luật được đặt ra là để điều chỉnh hành vi con người nhằm xác lập và duy trì trật tự xã hội Bằng pháp luật, nhà nước và xã hội chính thức thể hiện quan điểm của mình trong việc khuyến khích hay ngăn cấm một hành vi cụ thể nào
đó Do vậy, phải có hành vi thực tế của chủ thể mới có cơ sở để xác định có vi phạm pháp luật hay không Vi phạm pháp luật không phải là suy nghĩ, ước mơ, giấc mơ của con người hay những sự biến xảy ra nằm ngoài ý thức của con người Vi phạm pháp luật phải là kết quả của ý thức của con người, được thể hiện ra thế giới khách quan bằng hành vi thực tế cụ thể
Thứ hai, vi phạm pháp luật là hành vi trái pháp luật.
Những hành vi ngược với cách xử sự nêu ra trong quy phạm pháp luật bị coi là hành vi trái pháp luật Đó có thể là hành vi bị pháp luật cấm, hành vi vượt qua
sự cho phép của pháp luật, hành vi không thực hiện sự bắt buộc mà pháp luật hay hành vi thực hiện không đúng cách thức mà pháp luật yêu cầu Sự quy định trước của pháp luật là cơ sở pháp lý để xác định tính trái pháp luật trong một hành vi cụ thể
Những hành vi trái đạo đức xã hội, trái quy định của các tổ chức trong xã hội, trái phong tục tập quán nhưng không trái pháp luật không phải là vi phạm pháp luật
Thứ ba, vi phạm pháp luật do chủ thể có năng lực trách nhiệm pháp lí thực hiện.Một người được coi là có năng lực trách nhiệm pháp lí khi họ đạt đến độ
tuổi do pháp luật quy định đồng thời có khả năng nhận thức và điều khiển hành
vi của mình Đối với mỗi lĩnh vực khác nhau, pháp luật quy định độ tuổi phải chịu trách nhiệm pháp lý khác nhau Thông thường, khả năng nhận thức và điều khiển hành vi của con người phát triển dần cùng với sự trưởng thành về tuổi tác của họ Chính vì vậy, pháp luật của nhà nước đều lấy dấu hiệu về độ tuổi để
Trang 5phản ánh khả năng nhận thức và điều khiển hành vi của chủ thể Bên cạnh đó,
sự quy định độ tuổi trách nhiệm pháp lý còn phản ánh chính sách pháp luật của một nhà nước cụ thể Bởi lẽ, sự chênh lệch không lớn về độ tuổi không phản ánh rõ nét sự khác biệt trong khả năng nhận thức và điều khiển hành vi của con người Các nhà nước khác nhau có thể có sự quy định độ tuổi phải chịu trách nhiệm pháp lý một cách khác nhau, điều đó thể hiện mức độ nhân đạo trong pháp luật của các nhà nước
Trên thực tế, nhiều trường hợp mặc dù đã đạt đến độ tuổi luật định nhưng vì những lí do khác nhau dẫn đến bị mất khả năng nhận thức hoặc khả năng điều khiển hành vi nên cũng được coi là không có năng lực trách nhiệm pháp lí
Thứ tư, vi phạm pháp luật luôn chứa đựng lỗi của chủ thể.Trong khoa học pháp
lý, lỗi là trạng thái tâm lý phản ánh thái độ tiêu cực của một người đối với hành
vi trái pháp luật của họ và hậu quả hành vi đó Như vậy, lỗi trong khoa học pháp
lý không phải là bản thân hành vi mà là thái độ của chủ thể đối với hành vi của chính mình và hậu quả của hành vi ấy Lỗi trong khoa học pháp lý chỉ được đặt
ra khi chủ thể có hành vi trái pháp luật
Một người bị coi là có lỗi khi thực hiện một hành vi trái pháp luật nếu đó là kết quả của sự tự lựa chọn, quyết định và thực hiện của tính chủ thể trong khi có đủ điều kiện để lựa chọn, quyết định và thực hiện một xử sự khác phù hợp với các quy định của pháp luật Như vậy, không phải trong mọi trường hợp chủ thể thể
có hành vi trái pháp luật đều bị coi là có lỗi Một hành vi trái pháp luật nhưng được thực hiện trong trường hợp chủ thể không có sự lựa chọn nào khác hoặc trong trường hợp chủ thể bị mất tự do ý chí thì chủ thể không bị coi là có lỗi, do vây hành vi đó không bị coi là vi phạm pháp luật
Trang 6Tóm lại, các dấu hiệu trên là cơ sở nhận diện vi phạm pháp luật, một hiện tượng
cụ thể xảy ra trong đời sống sẽ bị coi là vi phạm pháp luật nếu chứa đựng đầy
đủ các dấu hiệu trên Tuy nhiên, có một số trường hợp ngoại lệ
3 Cấu thành của vi phạm pháp luật
3.1 Mặt khách quan của vi phạm pháp luật
Mặt khách quan của vi phạm pháp luật là toàn bộ những biểu hiện ra bên ngoài thế giới khách quan, bao gồm các hành vi trái pháp luật, hậu quả của hành vi đó
và những yếu tố như thời gian, địa điểm, cách thức, thủ đoạn, công cụ, phương tiện vi phạm pháp luật
- Hành vi trái pháp luật có thể thể hiện dưới dạng những hành động như đâm, chém người, trộm cắp tài sản,
- Hậu quả của vi phạm pháp luật được biểu hiện qua sự biến đổi tình trạng bình thường của các quan hệ xã hội bị xâm hại Hậu quả của vi phạm pháp luật có thể là những thiệt hại cụ thể, có thể định lượng được như thiệt hại về tài sản, vật chất, hoặc cũng có thể trừu tượng như tinh thần của con người, Hậu quả của
vi phạm là cơ sở quan trọng để đánh giá mức độ nguy hiểm cho xã hội của vi phạm pháp luật
- Thời gian xảy ra vi phạm là thời điểm hoặc khoảng thời gian vi phạm pháp luật được thực hiện Công cụ, phương tiện vi phạm pháp luật được hiểu là cái
mà chủ thể sử dụng được thực hiện hành vi vi phạm
3.2 Mặt chủ quan của vi phạm pháp luật
Mặt chủ quan của vi phạm pháp luật là toàn bộ diễn biến tâm lí của chủ thể khi
vi phạm pháp bao gồm lỗi, động cơ, mục đích
- Lỗi phản ánh thái độ tâm lý bên trong của chủ thể đối với hành vi trái pháp luật và hậu quả của hành vi đó Có hai loại lỗi cơ bản là cố ý và vô ý; lỗi cố ý
Trang 7gồm cố ý trực tiếp và cố ý gián tiếp; lỗi vô ý gồm vô ý do quá tự tin và vô ý do cẩu thả
+ Lỗi có ý trực tiếp có đặc trưng là chủ thể vi phạm nhận thức rõ hành vi của mình là nguy hiểm cho xã hội, thấy trước hậu quả do hành vi của mình gây ra
và mong muốn điều đó xảy ra
+ Lỗi cố ý gián tiếp có đặc trưng là chủ thể vi phạm nhận thức rõ hành vi của mình là nguy hiểm cho xã hội, thấy trước hậu quả do hành vi của mình gây ra, nhưng có ý thức để mặc cho hậu quả đó xảy ra
+ Lỗi vô ý vì quá tự tin có đặc trưng là chủ thể vi phạm gây ra hậu quả nguy hại cho xã hội trong trường hợp nhận thấy trước hậu quả đó nhưng tin tưởng điều
đó không xảy ra hoặc có thể ngăn ngừa được
+ Lỗi vô ý do cẩu thả có đặc trưng là chủ thể vi phạm đã gây ra hậu quả nguy hại cho xã hội trong trường hợp không nhận thấy trước được hậu quả đó mặc dù cần phải thấy trước và có thể thấy trước điều đó
- Động cơ vi phạm là động lực bên trong thúc đẩy chủ thể thực hiện hành vi vi phạm pháp luật
- Mục đích vi phạm pháp luật là kết quả trong ý thức mà chủ thể vi phạm pháp luật đặt ra và mong muốn đạt được khi thực hiện hành vi vi phạm pháp luật
3.3 Chủ thể của vi phạm pháp luật
Chủ thể của vi phạm pháp luật là những cá nhân hay tổ chức có năng lực trách nhiệm pháp lí đã có hành vi vi phạm pháp luật
3.4 Khách thể của vi phạm pháp luật
Trang 8Khách thể của vi phạm pháp luật là những quan hệ xã hội được pháp luật bảo vệ nhưng đã bị hành vi vi phạm pháp luật xâm hại
4 Phân loại vi phạm pháp luật
Vi phạm pháp luật được chia làm 04 loại bao gồm: vi phạm hình sự, vi phạm hành chính, vi phạm kỷ luật nhà nước và vi phạm dân sư
Vi phạm pháp luật hình sự hay còn gọi là tội phạm
Theo pháp luật hình sự của Việt Nam thì tội phạm là hành vi nguy hiểm cho xã hội được quy định trong Bộ luật Hình sự, do người có năng lực trách nhiệm hình sự thực hiện một cách cố ý hoặc vô ý, xâm phạm độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ Tổ quốc, xâm phạm chế độ chính trị, chế độ kinh tế, nền văn hoá, quốc phòng, an ninh, trật tự, an toàn xã hội, quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, xâm phạm tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm, tự do, tài sản, các quyền, lợi ích hợp pháp khác của công dân, xâm phạm những lĩnh vực khác của trật tự pháp luật XHCN
Vi phạm hành chính
Theo pháp luật về xử lý vi phạm hành chính của Việt Nam thì vi phạm hành chính là hành vi có lỗi của chủ thể có năng lực trách nhiệm hành chính trái với các quy định của pháp luật về quản lý nhà nước mà không phải là tội phạm hoặc trái với các quy định của pháp luật về an ninh, trật tự, an toàn xã hội nhưng chưa đến mức phải truy cứu trách nhiệm hình sự và theo quy định của pháp luật phải bị xử lý hành chính
Vi phạm dân sự là hành vi trái pháp luật và có lỗi của chủ thể có năng lực trách
nhiệm dân sự xâm hại tới các quan hệ tài sản và các quan hệ nhân thân phi tài sản
Vi phạm kỷ luật là hành vi có lỗi của chủ thể trái với các quy chế, quy tắc xác
lập trật tự trong nội bộ cơ quan, tổ chức, tức là không thực hiện đúng kỷ luật lao động, học tập, công tác hoặc phục vụ được đề ra trong nội bộ cơ quan, tổ chức đó
Vi phạm Hiến pháp là hành vi có lỗi của chủ thể có năng lực trách nhiệm hiến
pháp trái với các quy định của Hiến pháp
5 Xác định thiệt hại vi phạm bản quyền
Thiệt hại do hành vi xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ cũng được coi là một dạng của thiệt hại ngoài hợp đồng được quy định trong Bộ luật dân sự, theo đó, xác
Trang 9định thiệt hại vi phạm bản quyền bao gồm: Thiệt hại về vật chất và thiệt hại về tinh thần
Theo quy định Luật Sở hữu trí tuệ 2005 được sửa đổi bổ sung năm 2010 và các văn bản hướng dẫn thi hành, để xác định thiệt hại vi phạm bản quyền cần xác định những yếu tố như sau:
Xác định thiệt hại vi phạm bản quyền qua vật chất
Thứ nhất, thiệt hại về vật chất từ hành vi vi phạm bản quyền bao gồm các tổn
thất về tài sản, mức giảm sút về thu nhập, lợi nhuận, tổn thất về cơ hội kinh doanh, chi phí hợp lý để ngăn chặn, khắc phục thiệt hại;
Các tổn thất về tài sản
Các tổn thất về tài sản là giá trị tính được thành tiền của đối tượng quyền sở hữu trí tuệ tại thời điểm bị xâm phạm và căn cứ xác định giá trị tính được thành tiền của đối tượng quyền sở hữu trí tuệ đó Ví dụ: Nếu yêu cầu bồi thường tổn thất
về tài sản do nhãn hiệu bị xâm phạm, thì nêu rõ giá trị của nhãn hiệu đó tại thời điểm bị xâm phạm và căn cứ để xác định giá trị của nhãn hiệu
Mức giảm sút về thu nhập, lợi nhuận
Theo đó phải xác định được họ có thu nhập, lợi nhuận trước khi xảy ra hành vi xâm phạm hay không, mức thu nhập, lợi nhuận mà người bị thiệt hại thu được
do sử dụng, khai thác trực tiếp đối tượng quyền sở hữu trí tuệ, mức thu nhập, lợi nhuận mà người bị thiệt hại thu được do cho thuê đối tượng quyền sở hữu trí tuệ (là bản gốc hoặc bản sao tác phẩm điện ảnh, chương trình máy tính), mức thu nhập, lợi nhuận mà người bị thiệt hại thu được do chuyển giao quyền sử dụng đối tượng quyền sở hữu trí tuệ
Tổn thất về cơ hội kinh doanh
Thiệt hại về giá trị tính được thành tiền khoản thu nhập mà người bị thiệt hại có thể có được khi thực hiện các khả năng quy định tại khoản 1 Điều 19 của Nghị định số 105/2006/NĐ-CP và hướng dẫn tại điểm a tiểu mục 1.6 này, nhưng thực
tế không có được khoản thu nhập đó do hành vi xâm phạm gây ra
Trang 10Khi xem xét yêu cầu bồi thường về tổn thất cơ hội kinh doanh, Toà án yêu cầu người bị thiệt hại phải nêu rõ và chứng minh cơ hội kinh doanh bị mất là gì, thuộc trường hợp nào nêu trên đây và giá trị tính được thành tiền đối với trường hợp đó để Tòa án xem xét quyết định
Chi phí hợp lý để ngăn chặn, khắc phục thiệt hại
Chi phí này là chi phí thực tế để ngăn chặn các hành vi xâm phạm quyền và khắc phục các thiệt hại để lấy lại niềm tin từ người tiêu dùng
Xác định thiệt hại vi phạm bản quyền qua tinh thần
Thứ hai, thiệt hại về tinh thần từ hành vi vi phạm bản quyền bao gồm các tổn thất về danh dự, nhân phẩm, uy tín, danh tiếng và những tổn thất khác về tinh thần gây ra cho tác giả của tác phẩm văn học, nghệ thuật, khoa học; người biểu diễn; tác giả của sáng chế, kiểu dáng công nghiệp, thiết kế bố trí, giống cây trồng
Như vậy, xác định thiệt hại vi phạm bản quyền là một trong những điều kiện cần
để đánh giá mức độ vi phạm và mức bồi thường của bên vi phạm với chủ sở hữu quyền
Chủ sở hữu quyền có thể tự mình thu thập các thiệt hại từ hành vi vi phạm bản quyền hoặc có thể yêu cầu Tòa án hỗ trợ việc xác định các thiệt hại đó
6 Thực tiễn về vi phạm pháp luật bản quyền.
6.1 Các yếu tố xâm phạm quyền tác giả
Yếu tố xâm phạm quyền tác giả có thể thuộc một trong các dạng sau đây:
a) Bản sao tác phẩm được tạo ra một cách trái phép;
b) Tác phẩm phái sinh được tạo ra một cách trái phép;
c) Tác phẩm giả mạo tên, chữ ký của tác giả, mạo danh hoặc chiếm đoạt quyền tác giả;
d) Phần tác phẩm bị trích đoạn, sao chép, lắp ghép trái phép;
đ) Sản phẩm có gắn thiết bị kỹ thuật bảo vệ quyền tác giả bị vô hiệu hóa trái phép
Trang 11Sản phẩm có yếu tố xâm phạm quy định tại khoản này bị coi là sản phẩm xâm phạm quyền tác giả.”
Để xác định một bản sao hoặc tác phẩm (hoặc bản định hình cuộc biểu diễn, bản ghi âm, ghi hình, chương trình phát sóng) có phải là yếu tố xâm phạm quyền tác giả hay không, cần so sánh bản sao hoặc tác phẩm đó với bản gốc tác phẩm hoặc tác phẩm gốc
6.2 Hành vi bị xem xét xảy ra tại Việt Nam.
Hành vi bị xem xét cũng bị coi là xảy ra tại Việt Nam nếu hành vi đó xảy ra trên mạng internet nhưng nhằm vào người tiêu dùng hoặc người dùng tin tại Việt Nam.”
Như vậy, phải xét đến từng yếu tố cho một hành vi cụ thể để có thể nhận định được chính xác về hành vi xâm phạm bản quyền tác giả của tác phẩm Cần lưu
ý, chỉ có các đối tượng thuộc phạm vi được bảo hộ quyền tác giả mới là đối tượng bị xem xét để xác định có hay không hành vi xâm phạm quyền tác giả Việc xác định đối tượng được bảo hộ được thực hiện bằng cách xem xét các tài liệu, chứng cứ chứng minh căn cứ phát sinh, xác lập quyền theo quy định
6.3.Loại tác phẩm nào tuân theo bản quyền?
Quyền sở hữu bản quyền cấp cho chủ sở hữu quyền duy nhất để sử dụng tác phẩm, với một số trường hợp ngoại lệ Khi một người tạo tác phẩm gốc, cố định trong một môi trường hữu hình, họ nghiễm nhiên sở hữu bản quyền đối với tác phẩm đó
Nhiều loại tác phẩm có đủ điều kiện để bảo vệ bản quyền, ví dụ: