1 KHOA LUẬT ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI BỘ MÔN LUẬT QUỐC TẾ TIỂU LUẬN TƯ PHÁP QUỐC TẾ Mối quan hệ giữa thẩm quyền riêng biệt của Tòa án Việt Nam và thẩm quyền của Trọng tài thương mại (trong nước và nước[.]
Trang 11
KHOA LUẬT- ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
BỘ MÔN LUẬT QUỐC TẾ
_
TIỂU LUẬN
TƯ PHÁP QUỐC TẾ
Mối quan hệ giữa thẩm quyền riêng biệt của Tòa án Việt Nam và thẩm quyền
của Trọng tài thương mại (trong nước và nước ngoài) (Thẩm quyền riêng biệt của TAVN có loại trừ thẩm quyền của trọng tài
không?)
Trang 22
MỤC LỤC
LỜI MỞ ĐẦU 3 CHƯƠNG I: THẨM QUYỀN RIÊNG BIỆT CỦA TOÀ ÁN VIỆT NAM
TRONG TƯ PHÁP QUỐC TẾ 4
1.1 Khái quát về thẩm quyền của Toà án trong Tư pháp quốc tế 4 1.2 Quy định của pháp luật về thẩm quyền riêng biệt của Toà án trong pháp luật Việt Nam 5
CHƯƠNG III: MỐI QUAN HỆ GIỮA THẨM QUYỀN RIÊNG BIỆT CỦA TOÀ ÁN VIỆT NAM VÀ THẨM QUYỀN CỦA TRỌNG TÀI 8
2.1 Một vài nét về trọng tài thương mại 8 2.2 Mối quan hệ giữa thẩm quyền riêng biệt của Toà án và trọng tài thương mại 9
KẾT LUẬN 12 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 13
Trang 33
LỜI MỞ ĐẦU
Với sự phát triển và hội nhập kinh tế quốc tế mạnh mẽ hiện nay, các quan
hệ dân sự có yếu tố nước ngoài ngày càng được chú trọng, gia tăng Đây là một cơ hội phát triển kinh tế-xã hội rất tốt nhưng cũng đưa đến nhiều thách thức về vấn đề pháp lý khi nhiều tranh chấp dân sự có yếu tố nước ngoài xảy ra phức tạp hơn Và việc bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của các bên khi tham gia vào các quan hệ tố tụng dân sự có yếu tố nước ngoài tại các cơ quan tài phán nước ngoài là điều rất quan trọng Trong quá trình giải quyết các tranh chấp dân sự có yếu tố nước ngoài thì việc xung đột về thẩm quyền hay xung đột pháp luật là điều không thể tránh khỏi, do vậy nếu các quy định pháp luật phải dự tính và lường trước được các trường hợp xảy ra, việc giải quyết các tình huống đó hay đặc biệt là việc lựa chọn phương thức, cơ quan giải quyết tranh chấp Trong bài tiểu luận hết học phần, tác giả sẽ phân tích các quy định pháp luật Việt Nam về thẩm quyền riêng biệt của toà
án đối với các vụ việc dân sự có yếu tố nước ngoài và từ đó đưa ra những quan điểm về mối quan hệ thẩm quyển riêng biệt toà án Việt Nam và thẩm quyền của trọng tài thương mại
Trang 44
CHƯƠNG I: THẨM QUYỀN RIÊNG BIỆT CỦA TOÀ ÁN VIỆT NAM
TRONG TƯ PHÁP QUỐC TẾ
1.1 Khái quát về thẩm quyền của Toà án trong Tư pháp quốc tế
Mở đầu là thẩm quyền toà án trong Tư pháp quốc tế Trong Bộ luật tố tụng dân
sự, các văn bản pháp luật chuyên ngành của Việt Nam đều có quy định và các điều ước quốc tế Việt Nam là thành viên có quy định về thẩm quyền của Toà án trong
tư pháp quốc tế Thẩm quyền của Toà án trong tư pháp quốc tế là quyền năng pháp
lý của Toà án quốc gia được quy định trong luật thực định của quốc gia hay trong các điều ước quốc tế mà quốc gia là thành viên hoặc theo nguyên tắc có đi, có lại; quyền xem xét thụ lý, giải quyết các vụ việc dân sự có yếu tố nước ngoài bằng một quyết định hoặc bản án Toà án theo trình tự, thủ tục của pháp luật tố tụng dân sự
Pháp luật các quốc gia trên thế giới đều có những điều khoản quy định về thẩm quyền của toà án quốc gia đối với các vụ việc dân sự có yếu tố nước ngoài Và
thẩm quyền xét xử các vụ việc dân sự có yếu tố nước ngoài của toà án bao gồm có thẩm quyền chung và thẩm quyền riêng biệt
Đối với thẩm quyền chung là việc toà án nước đó có thẩm quyền giải quyết và các toà án các nước khác cũng có thể giải quyết Khi Toà án nhiều nước đều có
thẩm quyền giải quyết với một vụ việc dân sự có yếu tố nước ngoài, thì Toà án có thẩm quyền giải quyết sẽ được xác định bằng việc bên đương sự nộp đơn vào
trước Ngược lại, thẩm quyền riêng biệt là chỉ có Toà án nước sở tại có quyền giải quyết những trường hợp vụ việc dân sự nhất định Nếu có toà án nước khác vẫn
tiến hành giải quyết vụ việc mà được tuyên bố thuộc thẩm quyền riêng biệt của
nước sở tại rồi thì quyết định của toà án nước khác sẽ không được công nhận, hay thi hành nước sở tại Như vậy, để phân biệt thẩm quyền chung và thẩm quyền riêng biệt, có hai đặc điểm sau Thứ nhất là thẩm quyền riêng biệt chỉ quy định ở một số trường hợp cụ thể; thứ hai là thể hiện ý chí của quốc gia có Toà án dành riêng cho mình quyền giải quyết một số loại vụ việc dân sự có yếu tố nước ngoài, còn thẩm
Trang 55
quyền chung không mang tính bắt buộc và các quốc gia đều có thẩm thẩm quyền giải quyết
Pháp luật Việt Nam cũng quy định thẩm quyền riêng biệt của toà án để giải quyết các vụ việc dân sự có yếu tố nước ngoài được quy định tại điều 470
BLTTDS 2015
1.2 Quy định của pháp luật về thẩm quyền riêng biệt của Toà án trong pháp luật
Việt Nam
Khi xác định thẩm quyền của toà án giải quyết vụ việc dân sự có yếu tố nước ngoài, thì không thể tránh khỏi việc xung đột thẩm quyền của các toà án quốc gia với nhau khi các Toà án của các nước khác nhau, quy chiếu trên các quy định pháp luật khác nhau cùng nhau giải quyết một vụ việc và phán quyết khác nhau, trái ngược nhau Đây không phải trường hợp, vụ việc hiếm gặp trong thực tiễn Tư pháp quốc tế trên thế giới và Việt Nam
Bên cạnh đó, những quy định của pháp luật về thẩm quyền riêng biệt để xác định Toà án một quốc gia sở tại mới có thẩm quyền giải quyết vụ việc nhất định Tại điều 470 BLTTDS 2015 của Việt Nam, có quy định những trường hợp cụ thể
về vụ án dân sự có yếu tố nước ngoài thuộc thẩm quyền giải quyết riêng biệt của Toà án Việt Nam:
“1 Những vụ án dân sự có yếu tố nước ngoài sau đây thuộc thẩm quyền giải quyết riêng biệt của Tòa án Việt Nam:
a) Vụ án dân sự đó có liên quan đến quyền đối với tài sản là bất động sản có trên lãnh thổ Việt Nam;
b) Vụ án ly hôn giữa công dân Việt Nam với công dân nước ngoài hoặc người không quốc tịch, nếu cả hai vợ chồng cư trú, làm ăn, sinh sống lâu dài ở Việt Nam;
Trang 66
c) Vụ án dân sự khác mà các bên được lựa chọn Tòa án Việt Nam để giải quyết theo pháp luật Việt Nam hoặc điều ước quốc tế mà Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên và các bên đồng ý lựa chọn Tòa án Việt Nam.”
Những vụ án dân sự có liên quan đến quyền đối với tài sản là bất động sản có trên lãnh thổ Việt Nam Điều này hầu hết được pháp luật quốc gia và điều ước quốc tế trên thế giới có ghi nhận Để giải quyết vụ án dân sự thì việc xác định bất động sản liên quan trực tiếp của vụ án dân sự thuộc tài sản của quốc gia là điều cần thiết, Toà án quốc gia sở tại có bất động sản cũng dễ dàng, thuận lợi trong việc tìm hiểu, nghiên cứu, xác nhận các thông tin liên quan, hay giấy tờ về đăng ký, sở hữu bất động sản,…
Góc độ pháp luật so sánh, pháp luật của Nhật Bản có quy định Toà án Nhật Bản
có thể thực hiện thẩm quyền đối với các yêu cầu khởi kiện liên quan đến bất động sản đặt tại Nhật Bản, một khiếu nại liên quan đến việc đăng lý bất động sản tại Nhật Bản sẽ thuộc thẩm quyền riêng biệt của Toà án Nhật Bản.1 Pháp luật của Nga cũng quy định trường hợp Toà án có thẩm quyền riêng biệt đối với các tranh chấp dân sự liên quan đến bất động sản nằm trên lãnh thổ của Nga và nơi cư trú của các bên đương sự là trên lãnh thổ của Nga: “Vụ việc liên quan đến quyền đối vơi bất động sản nằm trên lãnh thổ Liên Bang Nga” thuộc thẩm quyền riêng biệt của Toà
án Liên Bang Nga.2 Từ đây, có thể thấy quy định của Pháp luật Việt Nam có nét tương đồng với pháp luật quốc tế về trường hợp vụ án dân sự có yếu tố nước ngoài thuộc thẩm quyền giải quyết riêng biệt của Toà án Việt Nam
Điểm mới trong quy định này của BLTTDS 2015 so với BLTTDS 2004 là chỉ khi các bên lựa chọn Toà án Việt Nam thì Toà án Việt Nam mới có thẩm quyền riêng biệt Từ đây, các vụ việc dân sự của các đương sự lựa chọn Toà án nước ngoài, trọng tài Việt Nam và nước ngoài để giải quyết tranh chấp thì không thuộc
1 Koki Yanagisawa and Hiroki Aoki (2012), Amendment of the Code of Civil Procedure: A question of jurisdiction
góc nhìn so sánh Tạp chí Pháp luật và thực tiễn, số 40/2019, trang 61
Trang 77
thẩm quyền riêng biệt của Toà án Việt Nam nhằm bảo đảm quyền tự định đoạt của đương sự trong việc giải quyết tranh chấp
Thứ hai, tại Khoản 2, điều 470 BLTTDS 2015:
“2 Những việc dân sự có yếu tố nước ngoài sau đây thuộc thẩm quyền giải quyết riêng biệt của Tòa án Việt Nam:
a) Các yêu cầu không có tranh chấp phát sinh từ quan hệ pháp luật dân sự quy định tại khoản 1 Điều này;
b) Yêu cầu xác định một sự kiện pháp lý xảy ra trên lãnh thổ Việt Nam;
c) Tuyên bố công dân Việt Nam hoặc người nước ngoài cư trú tại Việt Nam bị mất tích, đã chết nếu việc tuyên bố đó có liên quan đến việc xác lập quyền, nghĩa vụ của họ trên lãnh thổ Việt Nam, trừ trường hợp điều ước quốc tế mà Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên có quy định khác;
d) Tuyên bố người nước ngoài cư trú tại Việt Nam bị hạn chế năng lực hành vi dân
sự, mất năng lực hành vi dân sự nếu việc tuyên bố đó có liên quan đến việc xác lập quyền, nghĩa vụ của họ trên lãnh thổ Việt Nam;
đ) Công nhận tài sản có trên lãnh thổ Việt Nam là vô chủ, công nhận quyền sở hữu của người đang quản lý đối với tài sản vô chủ trên lãnh thổ Việt Nam.”
So với những quy định tại khoản 2 điều 411 BLTTDS 2004 thì tại khoản 2 điều
470 BLTTDS 2015 có nhiều sửa đổi, bổ sung, giải quyết các bất cập Đối với trường hợp tuyên bố công dân Việt Nam hoặc người nước ngoài cư trú tạ Việt Nam bị mất tích, đã chết nếu việc tuyên bố đó có liên quan đến việc xác lập quyền, nghĩa vụ của họ trên lãnh thổ Việt Nam, có những quy định ngoại lệ theo hướng loại vụ việc này sẽ không thuộc thẩm quyền riêng biệt của Toà án Việt Nam nếu đều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên có quy định khác Tạo điều kiện thuận lợi cho việc thực thi quy định tuyên bố một người mất tích hoặc đã chết thuộc thẩm
Trang 88
quyền của cơ quan tư pháp của nước ký kết mà người đó là công dân khi người đó còn sống trong các điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên 3
CHƯƠNG III: MỐI QUAN HỆ GIỮA THẨM QUYỀN RIÊNG BIỆT CỦA
TOÀ ÁN VIỆT NAM VÀ THẨM QUYỀN CỦA TRỌNG TÀI
2.1 Một vài nét về trọng tài thương mại
Trọng tài thương mại là hình thức tài phán mà quyền lực của nó được tạo nên bởi chính các bên trong quan hệ tranh chấp4, hay còn biết đến là một phương thức giải quyết rất mềm dẻo Các bên đương sự có quyền tự định đoạt, lựa chọn trọng tài là bên giải quyết tranh chấp, thoả thuận trọng tài có thể lập trước hoặc sau khi xảy ra tranh chấp Theo điều 5 Pháp lệnh trọng tài thương mại có quy định: “Trong trường hợp vụ tranh chấp đã có thoả thuận trọng tài, nếu một bên khởi kiện tại toà
án thì toà án phải từ chối thụ lý, trừ trường hợp thoả thuận trọng tài vô hiệu.”
Trọng tài giải quyết các tranh chấp không phải trên cơ sở quyền lực nhà nước, mà trên cơ sở thoả thuận của các bên đương sự trao quyền giải quyết tranh chấp giữa
họ cho trọng tài, do vậy không có thoả thuận trọng tài sẽ không xuất hiện thẩm quyền của trọng tài Thẩm quyền của trọng tài không chỉ xác định dựa vào thoả thuận trọng tài mà còn căn cứ vào quy định của luật quốc gia và điều ước quốc tế
mà quốc gia đó là thành viên
Trọng tài thương mại không có thẩm quyền đương nhiên như toà án quốc gia Trọng tài thương mại chỉ có thẩm quyền giải quyết các tranh chấp phát sinh trong hoạt đông thương mại, khi các bên trong tranh chấp được quyền chọn và đã minh thị lựa chọn trọng tài.5
góc nhìn so sánh Tạp chí Pháp luật và thực tiễn, số 40/2019, trang 66
chấp có thoả thuận trọng tài, Tạp chí Luật học, số 7/2006, trang 31
5 Ngô Quốc Chiến & Nguyễn Hoàng Anh, Trọng tài thương mại quốc tế và vấn đề luật áp dụng, Tạp chí Nghiên cứu Lập pháp, số 01/2021
Trang 99
Góc độ pháp luật so sánh, về thẩm quyền của trọng tài thì các điều ước quốc
tế quy định có điểm thống nhất và sự khác biệt Với điều II Công ước New York cho phép quy định trọng tài giải quyết các tranh chấp thương mại và cả tranh chấp khác Tuy nhiên thì các quốc gia thành viên vẫn được phép quy định trọng tài chỉ
có thẩm quyền giải quyết tranh chấp phát sinh từ quan hệ thương mại theo pháp luật quốc gia đó Như Việt Nam tuyên bố bảo lưu chỉ áp dụng đối với tranh chấp phát sinh từ các quan hệ pháp luật thương mại Hay việc các quốc gia cho phép trọng tài nước ngoài giải quyết tranh chấp ngoài quan hệ thương mại thì còn giải quyết tranh chấp khác Như điều 1 Luật trọng tài Brazil 1996 “Những người có khả năng ký kết hợp đồng có thể đưa ra trọng tài để giải quyết các tranh chấp liên quan đến quyền về tài sản mà họ có quyền quyết định”; luật trọng tài Đức 1998 “Một thoả thuận trọng tài là một thoả thuận được lập bởi các bên đệ trình tới Trọng tài tất cả hoặc những tranh chấp nhất định đã phát sinh hoặc có thể phát sinh giữa họ liên quan tới một quan hệ pháp lý xác định, dù có hợp đồng hay không”
2.2 Mối quan hệ giữa thẩm quyền riêng biệt của Toà án và trọng tài thương mại Hoạt động của trọng tài không thể không có sự hỗ trợ, can thiệp của toà án Quan điểm cho rằng, sự hỗ trợ, can thiệp của cơ quan nhà nước cụ thể là của Toà
án giúp cho quá trình giải quyết tranh chấp bằng trọng tài được tiến hành một cách
có hiệu quả Nhu cầu này cũng xuất phát từ việc trọng tài không có khả năng
cưỡng chế để thực thi quyết đinh của mình Mối quan hệ giữa toà án và trọng tài hầu hết đều được ghi nhận trong pháp luật của các quốc gia, và có những điểm tương đồng và khác biệt nhất định
Như phân tích ở trên, toà án và trọng tài đều có thẩm quyền giải quyết tranh chấp vụ việc dân sự có yếu tố nước ngoài Toà án là cơ quan xét xử, thực hiện quyền tư pháp, tuy nhiên khi các bên lựa chọn trọng tài để giải quyết tranh chấp thì Toà án không được thụ lý giải quyết, trừ trường hợp thoả thuận trọng tài vô hiệu hoặc không thể thực hiện được
Trang 1010
Theo pháp luật của Việt Nam, quy định về thẩm quyền của Toà án đối với thủ tục giải quyết các việc dân sự liên quan đến hoạt động trọng tài thương mại Việt Nam ví dụ như: chỉ định, thay đổi trọng tài viên; áp dụng, thay đổi, huỷ bỏ biện pháp khẩn cấp tạm thời; huỷ quyết định trọng tài;… Ngoài ra quy định trong luật trọng tài thương mại của Việt Nam 2010 cũng quy định về các việc dân sự khác toà án đối với hoạt động của trọng tài gồm: yêu cầu giải quyết khiếu nại quyết định của Hội đồng trọng tài không thể thực hiện được; yêu cầu toà án thu thập chứng cứ yêu cầu toà án áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời;…
Quy định trên của pháp luật Việt Nam tương đồng với quy định pháp luật của
đa số các quốc gia khác trên thế giới Toà án Việt Nam từ chối thụ lý trong trường hợp các bên tranh chấp đã có thoả thuận của trọng tài mà một bên khởi kiện toà án Hoặc trường hơp thuộc thẩm quyền giải quyết của trọng tài thương mại nước ngoài
mà toà án Việt Nam đã thụ lý thì phải đình chỉ giải quyết vụ án Toà án phải kiểm tra, xem xét các tài liệu có trong đơn khởi kiện để xác định vụ tranh chấp và sẽ tuỳ theo từng trường hợp để xử lý: Trường hợp tranh chấp không có thoả thuận trọng tài hoặc đã có bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật của Toà án hoặc quyết định, phán quyết có hiệu lực pháp luật của trọng tài xác định vụ tranh chấp không có thoả thuận trọng tài thì Toà án xem xét thụ lý, giải quyết theo thẩm quyền Trường hợp tranh chấp có thoả thuận trọng tài thì Toà án trar lại đơn khởi kiện và các tài liệu liên quan Trường hợp sau khi thụ lý vụ án Toà án mới phát hiện vụ tranh chấp
đã có thoả thuận trọng tài thì toà án ra quyết định đình chỉ giải quyết vụ án, trả lại đơn khởi kiện và các tài liệu liên quan
Quy định của Luật trọng tài thương mại 2010 hạn chế phạm vi thẩm quyền của trọng tài thương mại nói chung, có bao gồm cả trọng tài thương mại nước ngoài tại Việt Nam chỉ cho thẩm quyền giải quyết đối với tranh chấp giữa các bên phát sinh từ hoatj động thương mại và tranh chấp khác giữa các bên mà pháp luật quy định được giải quyết bằng trọng tài.6 Trong đó, pháp luật của nhiều nước cho
6 Điều 2 Luật trọng tài thương mại 2010