0 KHOA LUẬT ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI BÙI THỊ HIỀN – 180061311 K63C MỐI QUAN HỆ GIỮA THẨM QUYỀN RIÊNG BIỆT CỦA TOÀ ÁN VIỆT NAM VÀ THẨM QUYỀN TRỌNG TÀI THƯƠNG MẠI ( TRONG NƯỚC VÀ NƯỚC NGOÀI) ( THẨM QUYỀN[.]
Trang 1KHOA LUẬT ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI -
BÙI THỊ HIỀN – 180061311- K63C
MỐI QUAN HỆ GIỮA THẨM QUYỀN RIÊNG BIỆT CỦA TOÀ ÁN VIỆT NAM VÀ THẨM QUYỀN TRỌNG TÀI THƯƠNG MẠI ( TRONG NƯỚC VÀ NƯỚC NGOÀI) ( THẨM QUYỀN RIÊNG BIỆT CỦA TOÀ ÁN VIỆT NAM CÓ LOẠI TRỪ THẨM QUYỀN CỦA
TRỌNG TÀI KHÔNG?)
Tiểu luận kết thúc môn học: Tư pháp quốc tế Giảng viên: PGS.TS Ngô Quốc Chiến
Hà Nội - 2021
Trang 2DANH MỤC
MỞ ĐẦU 2 NỘI DUNG 3
I Khái quát cơ sở pháp lý và hoạt động của Trọng tài thương mại 3
II Mối quan hệ giữa thẩm quyền riêng biệt của Toà án Việt Nam và thẩm quyền của Trọng tài thương mại 4 III Một số kiến nghị nâng cao hiệu quả áp dụng pháp luật Việt Nam hiện hành về mối quan hệ giữa Toà án và Trọng tài 11
KẾT LUẬN 14 TÀI LIỆU THAM KHẢO 15
Trang 3MỞ ĐẦU
Trong bối cảnh kinh tế toàn cầu hoá, tranh chấp thương mại quốc tế xảy ra ngày càng nhiều và ngày càng phức tạp Và khi tranh chấp xảy ra, đòi hỏi phải có những phương thức giải quyết tranh chấp linh hoạt, nhanh chóng, hiệu quả và đảm bảo uy tín của các thương nhân Trọng tài là phương thức giải quyết tranh chấp thương mại quốc tế đáp ứng được những yêu cầu đó, được thừa nhận và áp dụng rộng rãi ở hầu như các nước trên thế giới Với tư cách là phương thức giải quyết tranh chấp, Trọng tài tồn tại độc lập với Tòa án quốc gia Hiện nay, pháp luật về trọng tài
đa số các nước đều quy định về sự hỗ trợ, giám sát của Tòa án đối với Trọng tài trong hoạt động giải quyết tranh chấp Có hai lý do quan trọng khiến Trọng tài cần sự hỗ trợ có thiện chí của Tòa
án trong những trường hợp cần thiết, đó là: thiếu quyền lực cưỡng chế và không có sẵn một Hội đồng Trọng tài để giải quyết mọi tranh chấp thương mại quốc tế.1 Ngoài ra, sự hỗ trợ và giám sát của Tòa án cũng giúp nâng cao uy tín và hiệu quả hoạt động của Trọng tài Để làm rõ hơn mối quan hệ giữa thẩm quyền riêng biệt của Toà án đối với Trọng tài, nên em đã chọn chủ đề “ Mối quan hệ giữa thẩm quyền riêng biệt của Toà án Việt Nam và thẩm quyền của Trọng tài thương mại”
1 Tào Thị Huệ (8/27/2020), “ Giải pháp tăng cường mối quan hệ giữa Toà án và Trọng tài giải quyết tranh chấp thương mại
quốc tế”, Kỷ yếu Hội thảo “ Trọng tài Thương mại Quốc tế - Lý luận và thực tiễn” do Khoa Pháp luật Quốc tế - Trường
Đại học Luật Hà Nội tổ chức tháng 10/2012, https://law-itd.com/2019/06/05/giai-phap-tang-cuong-moi-quan-he-giua-toa-an-va-trong-tai-trong-giai-quyet-tranh-chap-thuong-mai-quoc-te-tai-viet-nam/
Trang 4NỘI DUNG
I Khái quát cơ sở pháp lý và hoạt động của Trọng tài thương mại
Theo quy định tại Khoản 1 Điều 3 Luật trọng tài thương mại năm 2010 “Trọng tài thương mại là phương thức giải quyết tranh chấp do các bên thoả thuận và được tiến hành theo quy định của Luật trọng tài thương mại”
Trọng tài là phương thức giải quyết tranh chấp có tính chất tài phán phi nhà nước do các đương
sự thỏa thuận lựa chọn để giải quyết các tranh chấp thương mại Trọng tài chính là bên trung gian thứ ba được các bên tranh chấp chọn ra để giúp các bên giải quyết những xung đột, bất đồng giữa họ trên cơ sở đảm bảo quyền tự định đoạt của các bên Phương thức trọng tài bắt nguồn từ
sự thỏa thuận của các bên trên cơ sở tự nguyện Để đưa tranh chấp ra trọng tài giải quyết, các bên phải có thỏa thuận trọng tài
Trọng tài là phương thức giải quyết tranh chấp rất đơn giản Các bên trong tranh chấp thỏa thuận đưa tranh chấp của họ tới một chủ thể để giải quyết mà các bên tin tưởng sự phán xét của chủ thể
đó Mỗi bên trình bày vụ việc của mình cho người ra quyết định, một chủ thể tư - còn được gọi
là "trọng tài viên" Trọng tài viên lắng nghe các bên, xem xét các tình tiết và lập luận của các bên
và đưa ra quyết định Quyết định đó là chung thẩm và ràng buộc các bên Sở dĩ quyết định mang tính chung thẩm và ràng buộc bởi vì các bên đã tự thỏa thuận như vậy chứ không bị cưỡng chế bởi bất kỳ nhà nước nào
Trọng tài thương mại có nhiều ưu điểm như thủ tục đơn giản, linh hoạt theo thỏa thuận của các bên giúp giải quyết tranh chấp nhanh chóng Giải quyết tranh chấp bằng trọng tài không công khai giúp Doanh nghiệp giữ bí mật được các thông tin tranh chấp có thể gây ảnh hưởng tới hoạt động sản xuất kinh doanh của mình
Tóm lại , trọng tài là phương thức hiệu quả để đi đến một quyết định có giá trị chung thẩm và ràng buộc các bên tranh chấp mà không cần đưa ra tòa án (bởi vì pháp luật trọng tài quốc gia và các điều ước quốc tế như Công ước New York đã thừa nhận các phán quyết trọng tài sẽ được tòa
án cho thi hành một cách rộng rãi nếu bên thua kiện không tự nguyện thi hành) Pháp luật các nước nhìn chung, trong đó có Việt Nam nói riêng, đều quy định cơ chế hỗ trợ từ phía Tòa án đối với tổ chức và hoạt động của trọng tài Thông qua trình tự công nhận và cho thi hành, Tòa án
Trang 5đảm bảo thực thi trên thực tế những quyết định của trọng tài khi một hoặc các bên đương sự không tự nguyện thực hiện (tại Việt Nam, phán quyết của trọng tài Việt Nam đương nhiên có hiệu lực thi hành) Ngoài ra, Tòa án còn có thể hỗ trợ trọng tài ở các nội dung khác, như quyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời, kê biên tài sản, bảo toàn chứng cứ, cấm hoặc buộc đương sự thực hiện một số hành vi nhất định
II Mối quan hệ giữa thẩm quyền riêng biệt của Toà án Việt Nam và thẩm quyền của Trọng tài thương mại
Hoạt động của trọng tài không thể không có sự hỗ trợ, can thiệp của nhà nước Sự hỗ trợ, can thiệp của cơ quan nhà nước làm quá trình giải quyết tranh chấp bằng trọng tài được tiến hành có hiệu quả 2Nhu cầu đó xuất phát từ việc trọng tài không có khả năng cưỡng chế để thực thi quyết định của mình 3Mối quan hệ giữa toà án và trọng tài được quy định trong pháp luật của các quốc gia có sự khác biệt nhất định phụ thuộc vào nhiều yếu tố, trong đó có trình độ phát triển văn hoá pháp lý, định hướng phát triển của hệ thống toà án
Trên thế giới hiện nay, có một số quan điểm về mối quan hệ giữa toà án và trọng tài
Theo quan điểm thứ nhất, cần có sự kiểm soát chặt chẽ của toà án nhà nước đối với hoạt động của trọng tài và các quyết định do trọng tài ban hành Theo đó quyết định trọng tài có thể bị xem xét lại toàn diện, kể cả luật áp dụng Trên cơ sở xem xét, toà án có quyền yêu cầu trọng tài trình bày cơ sở để ban hành quyết định trọng tài, huỷ bỏ toàn bộ hoặc một phần quyết định trọng tài, trả cho trọng tài xem xét tranh chấp lại từ đầu ( giống thủ tục phúc thẩm tại toà án ) Quan điểm này được thể hiện trong Luật trọng tài Anh ( năm 1950,1979 và 1996) va trong pháp luật một số quốc gia Châu Phi, Châu Á có hệ thống pháp luật quốc gia tiếp nhận khái niệm trọng tài của trường phái thông luật.4
2 Trần Hoàng Hải (2011), “ Khái quát về Trọng tài, Mối quan hệ giữa Toà án và Trọng tài ở Liên Bang Nga – Kinh nghiệm đối với Việt Nam”, 02(63), trang – 16-26
3 Trần Hoàng Hải (2011), “ Khái quát về Trọng tài, Mối quan hệ giữa Toà án và Trọng tài ở Liên Bang Nga – Kinh nghiệm đối với Việt Nam”, 02(63), trang – 16-26
4 Trần Hoàng Hải (2011), “ Khái quát về Trọng tài, Mối quan hệ giữa Toà án và Trọng tài ở Liên Bang Nga – Kinh nghiệm đối với Việt Nam”, 02(63), trang – 16-26
Trang 6Theo quan điểm thứ hai tiếp nhận khái niệm trọng tài của trường phái dân luật, phổ biến tại các nước theo hệ thống pháp luật Châu Âu lục địa như Pháp, Ý, BỈ và các quốc gia tiếp nhận luật mẫu UNCITRAL ( thông thường là các nước thuộc địa cũ của Pháp) Pháp luật các quốc gia này công nhận thẩm quyền rộng của trọng tài; trọng tài viên có quyền rất lớn trong việc xem xét và giải quyết tranh chấp; toà án không được quyền xem xét lại nội dung phán quyết của trọng tài,
kể cả khi có vi phạm quy định pháp luật Như vậy, ở các quốc gia này, toà án được xem xét quyết định của trọng tài chỉ sau khi quyết định đó được ban hành và chỉ khi nào phán quyết đó vi phạm trật tự công cộng của nhà nước 5
Theo truyền thống pháp luật của Việt Nam thì nền pháp luật về trọng tài được xây dựng theo quan điểm thứ hai Theo đó, toà án chung có thẩm quyền giải quyết các tranh chấp phát sinh từ quan hệ pháp luật dân sự, hôn nhân gia đình, lao động, nhà ở đất đai, kinh tế và các quan hệ pháp luật khác, trừ các tranh chấp kinh tế thuộc thẩm quyền của trọng tài thương mại, được quy định tài Điều 2 Luật trọng tài thương mại 2010
Việc phân định này có ý nghĩa rất quan trọng về nguyên tắc và thuận lợi cho mối quan hệ giữa Toà án và trọng tài Theo đó Toà án có thẩm quyền đối với việc chỉ định Trọng tài viên để thành lập Hội đồng trọng tài vụ việc, thẩm quyền đối với việc thay đổi Trọng tài viên của Hội đồng trọng tài vụ việc, thẩm quyền trong việc giải quyết khiếu nại đối với quyết định của Hội đồng trọng tài , thẩm quyền áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời, thẩm quyền đối với việc yêu cầu huỷ phán quyết trọng tài, đăng ký phán quyết trọng tài ( được quy định tại Điều 7 Luật trọng tài thương mại 2010)
Mặc dù trọng tài không thuộc hệ thống toà án, nhưng các tổ chức này không thể thực hiện hoạt động độc lập nếu thiếu mối liên hệ giữa toà án nhà nước và sự giám sát của nhà nước
Những biểu hiện chủ yếu trong mối liên hệ giữa toà án và trọng tài như sau:
Một là, xác định thẩm quyền giữa Toà án và trọng tài
5 Trần Hoàng Hải (2011), “ Khái quát về Trọng tài, Mối quan hệ giữa Toà án và Trọng tài ở Liên Bang Nga – Kinh nghiệm đối với Việt Nam”, 02(63), trang – 16-26
Trang 7Các tranh chấp mà trọng tài có thẩm quyền quy định rất rõ tại Điều 2 Luật trọng tài thương mại
2010 Nhưng trong một số trường hợp xung đột thẩm quyền giữa Toà án và Trọng tài có thể xảy
ra, dẫn đến mối quan hệ thẩm quyền giữa Toà án và Trọng tài sẽ diễn ra như thế nào ?
Khi có yêu cầu Toà án giải quyết tranh chấp phát sinh được liệt kê tại Điều 2 thì Toà án yêu cầu một bên hoặc các bên tranh chấp đó, các bên có thoả thuận trọng tài hay không Toà án phải kiểm tra, xem xét các tài liệu gửi kèm theo đơn khởi kiện để xác định vụ tranh chấp có thuộc trường hợp có thoả thuận Trọng tài nhưng Toà án có thể có thẩm quyền hay không Tuỳ vào từng trường hợp mà toà án xử lý như sau:6
• Trường hợp tranh chấp không có thoả thuận trọng tài hoặc đã có bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật của Tòa án hoặc quyết định, phán quyết có hiệu lực pháp luật của Trọng tài xác định vụ tranh chấp không có thỏa thuận trọng tài thì Tòa án xem xét thụ lý, giải quyết theo thẩm quyền
• Trường hợp tranh chấp đã có thoả thuận trọng tài và thỏa thuận trọng tài không thuộc trường hợp bị vô hiệu thì Tòa án trả lại đơn khởi kiện và các tài liệu, chứng cứ kèm theo đơn khởi kiện cho người khởi kiện Trường hợp sau khi thụ lý vụ án Tòa án mới phát hiện
vụ tranh chấp đã có thoả thuận trọng tài và thỏa thuận trọng tài không thuộc trường hợp
bị vô hiệu thì Tòa án ra quyết định đình chỉ việc giải quyết vụ án, trả lại đơn khởi kiện và các tài liệu gửi kèm theo đơn khởi kiện cho người khởi kiện
• Trường hợp đã có yêu cầu Trọng tài giải quyết tranh chấp và Hội đồng trọng tài đang giải quyết vụ tranh chấp thì dù Tòa án nhận thấy tranh chấp không thuộc thẩm quyền của Trọng tài, không có thỏa thuận trọng tài hoặc tuy đã có thoả thuận trọng tài nhưng bị vô hiệu mà người khởi kiện có yêu cầu Tòa án giải quyết tranh chấp thì Tòa án trả lại đơn khởi kiện cho người khởi kiện, trường hợp Tòa án đã thụ lý thì ra quyết định đình chỉ việc giải quyết vụ án, trừ trường hợp Tòa án thụ lý vụ tranh chấp trước khi có yêu cầu Trọng tài giải quyết tranh chấp Sau khi có quyết định, phán quyết của Hội đồng trọng tài mà
6 Stephen Le (11/8/2021, “ Xác định thẩm quyền giải quyết tranh chấp giữa Trọng tài và Toà án”,
https://letranlaw.com/vi/insights/xac-dinh-tham-quyen-giai-quyet-tranh-chap-giua-trong-tai-va-toa-an/
Trang 8người khởi kiện có yêu cầu Tòa án giải quyết, thì Tòa án xem xét thụ lý, giải quyết theo thủ tục tố tụng dân sự
Một số trường hợp có thoả thuận trọng tài nhưng lại thuộc một trong các trường hợp sau đây thì thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án.7
• Có quyết định của Tòa án huỷ phán quyết trọng tài, hủy quyết định của Hội đồng trọng tài về việc công nhận sự thỏa thuận của các bên
• Có quyết định đình chỉ giải quyết tranh chấp của Hội đồng trọng tài, Trung tâm trọng tài
• Các bên đã có thoả thuận giải quyết tranh chấp tại một Trung tâm trọng tài cụ thể nhưng Trung tâm trọng tài đã chấm dứt hoạt động mà không có tổ chức trọng tài kế thừa, và các bên không thoả thuận được việc lựa chọn Trung tâm trọng tài khác để giải quyết tranh chấp
• Các bên đã có thỏa thuận cụ thể về việc lựa chọn Trọng tài viên trọng tài vụ việc, nhưng tại thời điểm xảy ra tranh chấp, vì sự kiện bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan mà Trọng tài viên không thể tham gia giải quyết tranh chấp, hoặc Trung tâm trọng tài, Toà án không thể tìm được Trọng tài viên như các bên thoả thuận và các bên không thoả thuận được việc lựa chọn Trọng tài viên khác để thay thế
• Các bên đã có thỏa thuận cụ thể về việc lựa chọn Trọng tài viên trọng tài vụ việc, nhưng tại thời điểm xảy ra tranh chấp, Trọng tài viên từ chối việc được chỉ định hoặc Trung tâm trọng tài từ chối việc chỉ định Trọng tài viên và các bên không thỏa thuận được việc lựa chọn Trọng tài viên khác để thay thế
• Nhà cung cấp hàng hóa, dịch vụ và người tiêu dùng có điều khoản về thỏa thuận trọng tài được ghi nhận trong các điều kiện chung về cung cấp hàng hoá, dịch vụ do nhà cung cấp soạn sẵn nhưng khi phát sinh tranh chấp, người tiêu dùng không đồng ý lựa chọn Trọng tài giải quyết tranh chấp
7 Stephen Le (11/8/2021, “ Xác định thẩm quyền giải quyết tranh chấp giữa Trọng tài và Toà án”,
https://letranlaw.com/vi/insights/xac-dinh-tham-quyen-giai-quyet-tranh-chap-giua-trong-tai-va-toa-an/
Trang 9Đối với trường hợp các bên vừa có thoả thuận giải quyết tranh chấp bằng Trọng tài, vừa có thoả thuận giải quyết tranh chấp bằng Toà án mà các bên không có thoả thuận lại hoặc thoả thuận mới
về cơ quan có thẩm quyền 8
• Trường hợp người khởi kiện yêu cầu Trọng tài giải quyết tranh chấp trước khi yêu cầu Tòa án giải quyết tranh chấp hoặc yêu cầu Trọng tài giải quyết tranh chấp khi Tòa án chưa thụ lý vụ án thì Tòa án từ chối thụ lý, giải quyết Trong trường hợp này, khi nhận được đơn khởi kiện Tòa án phải trả lại đơn khởi kiện, nếu đã thụ lý vụ án thì ra quyết định đình chỉ việc giải quyết vụ án vì không thuộc thẩm quyền của Tòa án, trả lại đơn khởi kiện và các tài liệu gửi kèm theo đơn khởi kiện
• Trường hợp người khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết tranh chấp, thì ngay sau khi nhận được đơn khởi kiện, Tòa án phải xác định một trong các bên đã yêu cầu Trọng tài giải quyết hay chưa
• Trường hợp Tòa án đã thụ lý vụ án mà phát hiện tranh chấp đã có yêu cầu Trọng tài giải quyết trước thời điểm Tòa án thụ lý vụ án thì Tòa án ra quyết định đình chỉ việc giải quyết
vụ án vì không thuộc thẩm quyền của Tòa án, trả lại đơn khởi kiện và các tài liệu gửi kèm theo đơn khởi kiện
Hai là, Toà án xác định giá trị của thoả thuận trọng tài
Toà án có thẩm quyền xác định giá trị pháp lý của thoả thuận trọng tài Theo quy định của Công ước New York 1958, theo đó, Toà án của nhà nước – thành viên của Công ước có trách nhiệm chuyển các bên đến “trọng tài đã thoả thuận” trong trường hợp các bên yêu cầu xem xét quyết định đã được trọng tài tuyên nếu “ không phát hiện được thoả thuận đã đề cập là vô hiệu, mất hiệu lực hoặc không có khả năng thực hiện được”
Toà án cũng có quyền huỷ quyết định của trọng tài trong trường nếu bên yêu cầu về việc này chứng mình được cho toà án rằng thoả thuận trọng tài vô hiệu hoặc không có thoả thuận trọng tài ( được quy định tại Điều 68 Luật Trọng tài thương mại 2010)
8 Stephen Le (11/8/2021, “ Xác định thẩm quyền giải quyết tranh chấp giữa Trọng tài và Toà án”,
https://letranlaw.com/vi/insights/xac-dinh-tham-quyen-giai-quyet-tranh-chap-giua-trong-tai-va-toa-an/
Trang 10Để thực hiện được điều đó, khi xem xét giá trị của thoả thuận trọng tài, trước tiên cần xem xét thoả thuận có đáp ứng được yêu cầu của pháp luật, đặc biệt là việc tuân thủ về mặt hình thức, chủ thể ký kết thoả thuận… Với những thẩm quyền này, toà án có thể kiểm soát được tính hợp pháp của thoả thuận trọng tài
Ba là, toà án có thể chỉ định và thay thế Trọng tài viên của Hội đồng trọng tài vụ việc
Quy định về chỉ định thành lập Hội đồng trọng tài vụ việc quy định rất rõ tại Điều 41 Luật Trọng tài thương mại 2010
Theo khoản 4 Điều 42 Luật Trọng tài thương mại 2010 quy định: “ Đối với vụ tranh chấp do Hội đồng trọng tài vụ việc giải quyết, việc thay đổi Trọng tài viên sẽ do các thành viên còn lại của Hội đồng trọng tài quyết định Trong trường hợp các thành viên còn lại của Hội đồng trọng tài không quyết định được hoặc nếu các Trọng tài viên hay Trọng tài viên duy nhất từ chối giải quyết tranh chấp, thì trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được yêu cầu của một hoặc các Trọng tài viên nói trên, của một hoặc các bên tranh chấp, Chánh án Toà án có thẩm quyền phân công một Thẩm phán quyết định về việc thay đổi Trọng tài viên.” Vậy quyết định của Toà án thay thế chỉ là quyết định cuối cùng nếu các thành viên còn lại của Hội đồng trọng tài không quyết định được hoặc trọng tài viên hay Trọng tài viên duy nhất từ chối giải quyết tranh chấp
Bốn là, toà án áp dụng các biện pháp khẩn cấp
Biện pháp khẩn cấp tạm thời nhằm đảm bảo thực hiện lợi ích vật chất cho bên yêu cầu áp dụng
Để yêu cầu Toà án áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời, các bên phải có đơn yêu cầu Trình tự
áp dụng và vấn đề liên quan đến biện pháp này được quy định chi tiết trong Bộ luật tố tụng dân
sự 2015 và Luật Trọng tài thương mại 2010
Điểm mới và hợp lý của Luật Trọng tài thương mại 2010 so với Pháp lệnh cũ về các uỷ ban thường vụ Quốc hội số 08/2003/PL-UBTVQH ngày 25/2/2003 về trọng tài thương mại là ở chỗ
là văn bản đã điều chỉnh thẩm quyền của trọng tài trong việc áp dụng biện pháp bảo đảm và sự
hỗ trợ của Toà án Theo khoản 2 Điều 48 Luật Trọng tài thương mại 2010 quy định việc yêu cầu Toà án áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời không bị coi là sự bác bỏ thoả thuận trọng tài hoặc khước từ quyền giải quyết tranh chấp bằng Trọng tài