1. Trang chủ
  2. » Tất cả

Sự bùng phát dịch covid 19 đã mang lại những thách thức chưa từng có và tác động đáng kể đến sự phát triển nền kinh tế việt nam

12 0 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Sự bùng phát dịch covid 19 đã mang lại những thách thức chưa từng có và tác động đáng kể đến sự phát triển nền kinh tế Việt Nam
Tác giả Nguyễn Thị Lan Hương
Người hướng dẫn Phan Thanh Sơn
Trường học Đại Học Quốc Gia Hà Nội
Chuyên ngành Kinh Tế
Thể loại Tiểu luận
Năm xuất bản 2021
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 12
Dung lượng 355,75 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI ĐẠI HỌC NGOẠI NGỮ TIỂU LUẬN KẾT THÚC HỌC PHẦN Giáo viên hướng dẫn Phan Thanh Sơn Sinh viên thực hiện Nguyễn Thị Lan Hương Lớp 18J9KT MSSV 18040996 Hà Nội, Ngày 16 tháng 5 năm 2[.]

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI ĐẠI HỌC NGOẠI NGỮ

TIỂU LUẬN KẾT THÚC HỌC PHẦN

Giáo viên hướng dẫn : Phan Thanh Sơn Sinh viên thực hiện : Nguyễn Thị Lan Hương Lớp : 18J9KT

MSSV : 18040996

Hà Nội, Ngày 16 tháng 5 năm 2021

Trang 2

Câu 1:

Sự bùng phát dịch COVID-19 đã mang lại những thách thức chưa từng có và tác động đáng kể đến sự phát triển nền kinh tế Việt Nam

1 Tác động đến thị trường hàng hóa

Giai đoạn 1:Khi tổng chi tiêu nhìn chung sụt giảm

Trong nước, thị trường hàng hóa chịu ảnh hưởng lớn của dịch Covid-19 khiến các hoạt động thương mại bị đình trệ Các hoạt động giải trí, lễ hội tạm ngưng, nhu cầu hàng hóa tập trung vào mặt hàng y tế để phòng chống dịch như khẩu trang, nước sát khuẩn, thuốc phòng, chữa bệnh

Trong đầu tháng 2, thị trường hàng hóa nông sản xuất khẩu cũng gặp khó khăn tiêu thụ do cửa khẩu đường bộ với Trung Quốc tạm thời đóng cửa Tổng mức bán lẻ hàng hóa dịch vụ tháng 2/2020 đạt 414.073 tỷ đồng, giảm 7,94% so với tháng trước

Trong cơ cấu ngành hàng, nhóm lương thực, thực phẩm, may mặc giảm do yếu tố mùa vụ sau Tết Như vậy, ước tính tổng mức bán lẻ hàng hóa, dịch vụ 2 tháng đầu năm đạt 863.857 tỷ đồng, tăng 8,33% so với cùng kỳ năm trước Mức tăng trưởng khá thấp so với các năm trước

Đại diện Tổng cục Thống kê (Bộ Kế hoạch và Đầu tư) cũng đánh giá chỉ số CPI tháng 2/2020 giảm so với tháng trước và tăng so với tháng 12/2019 Trong 2 tháng đầu năm

2020, CPI đã có mức tăng so với cùng kỳ năm trước

Trước tình hình dịch bệnh diễn biến phức tạp trên thế giới, người tiêu dùng vẫn tập trung vào các mặt hàng nhu yếu phẩm và các thiết bị y tế chống dịch Nhu cầu du lịch dịch vụ giảm khiến các mặt hàng xuất khẩu cũng chịu tác động của dịch bệnh, khó khăn trong tiêu thụ tại một số nước

Giá cả mặt hàng vật tư y tế bị đẩy lên cao trong bối cảnh dịch Covid-19 dẫn đến cơn sốt và tác động mạnh đến thị trường hàng hóa suốt thời gian qua

 Tăng cầu về hàng hóa y tế không thể bù đắp được giảm cầu ở gần như toàn bộ các hàng hóa khác

Trang 3

P AS2

E2 AS1

P1

P2 E1

AD

0 Y1 Y2 Y

Trong giai đoạn đầu từ cuối năm 2019 đến quý 2 năm 2020, thị trường hàng hóa Việt Nam đã giảm mạnh, lúc đàu thị trường hàng hóa ổn định tại điểm cân bằng

E1(P2,Y2) với mức giá P2 và Y2 sản lượng Tuy nhiên khi tình hình dịch bệnh diễn

ra, nguồn cung ngày càng bị thu hẹp khiến đường cung cấp AS dịch phải từ AS1 sang AS2, quá trình sản xuất hàng hóa bị đình trệ, khiến lượng hàng hóa đã giảm từ Y2 xuống Y1, đồng thời giá cả hàng hóa cũng tăng từ P2 lên P1 Điều này gây ra tình trạng thất nghiệp và nguy cơ dễ dẫn đến lạm phát trên thị trường

Giai đoạn 2: Giai đoạn có sự can thiệp từ Chính phủ LM1

r MS1 MS2 r

ΔM LM2

r1 E1 r1 E’1

r2 E2 r2 E’2

MD

IS

0 0

M1 M2 M Y1 Y2

Trong nền kinh tế đóng, Chính phủ sử dụng chính sách tiền tệ mở rộng, bằng việc hoặc giảm tỷ lệ dụ bắt buộc, hoặc giảm lãi suất chiết khấu, hoặc mua trái phiếu trên thị trường mở, cung tiền tăng Đường LM dịch chuyển sang phải (xuống dưới), lãi suất giảm từ r1 xuống r2, thu nhập cân bằng lên từ Y1 đến Y2

Trang 4

2 Tác động đến lao động việc làm

Cả nước có 32,1 triệu người từ 15 tuổi trở lên bị ảnh hưởng tiêu cực bởi dịch

Covid-19

Tính đến tháng 12 năm 2020, cả nước có 32,1 triệu người từ 15 tuổi trở lên bị ảnh hưởng tiêu cực bởi dịch Covid-19 bao gồm người bị mất việc làm, phải nghỉ giãn việc/nghỉ luân phiên, giảm giờ làm, giảm thu nhập,… Trong đó, 69,2% người bị giảm thu nhập, 39,9% phải giảm giờ làm/nghỉ giãn việc/nghỉ luân phiên và khoảng 14,0% buộc phải tạm nghỉ hoặc tạm ngừng hoạt động sản xuất kinh doanh

Khu vực dịch vụ chịu ảnh hưởng nặng nề nhất bởi dịch Covid-19 với 71,6% lao động

bị ảnh hưởng, tiếp đến là khu vực công nghiệp và xây dựng với 64,7% lao động bị ảnh hưởng; tỷ lệ lao động bị ảnh hưởng trong khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản

là 26,4%

Lực lượng lao động tiếp tục tăng theo đà hồi phục của quý III năm 2020 nhưng vẫn

chưa thể trở về trạng thái ban đầu khi chưa có dịch

Lực lượng lao động từ 15 tuổi trở lên trong quý IV năm 2020 là 55,1 triệu người, tăng 563,8 nghìn người so với quý trước nhưng vẫn thấp hơn 860,4 nghìn người so với cùng kỳ năm trước Điều này một lần nữa khẳng định xu hướng phục hồi của thị trường lao động sau khi ghi nhận mức giảm sâu kỷ lục vào quý II năm 2020

Nếu lực lượng lao động năm 2020 duy trì tốc độ tăng như giai đoạn 2016-2019 và không có dịch Covid-19, nền kinh tế Việt Nam sẽ có thêm 1,6 triệu lao động Nói cách khác, dịch Covid-19 có thể đã tước đi cơ hội tham gia thị trường lao động của 1,6 triệu người

Dịch Covid-19 đã đẩy nhiều lao động vào tình trạng không có việc làm đồng thời khiến cho nhiều người trong số họ buộc phải trở thành lao động có việc làm phi chính thức

Mặc dù số lao động có việc làm quý IV năm 2020 tăng mạnh so với 2 quý trước nhưng do sự giảm sâu của lực lượng này trong quý II đã khiến số lao động từ 15 tuổi trở lên đang làm việc trong nền kinh tế tính chung cả năm 2020 giảm mạnh so với năm 2019

Quý IV năm 2020 có 20,9 triệu lao động có việc làm phi chính thức, tăng 233 nghìn người so với quý trước và tăng 338,4 nghìn người so với cùng kỳ năm trước Tỷ lệ lao động có việc làm phi chính thức quý IV năm 2020 là 56,2%, giảm 0,8 điểm phần trăm

so với quý trước và tăng 0,6 điểm phần trăm so với cùng kỳ năm trước

Trang 5

Rõ ràng, đại dịch Covid đã tước đi cơ hội có việc làm chính thức của người lao động, khiến một phần trong số họ không tìm được việc làm mới, một số khác phải chuyển sang làm các công việc phi chính thức không ổn định, thiếu bền vững

Đại dịch Covid-19 không chỉ tước đi cơ hội có việc làm chính thức của nhiều người lao động mà còn khiến họ rơi vào tình trạng thiếu việc làm Tuy nhiên tình trạng này

đã được cải thiện trong quý IV năm 2020

Tính riêng quý IV năm 2020, cả nước có 902,2 nghìn lao động trong độ tuổi thiếu việc làm, cao hơn nhiều so với các quý năm 2019 Tuy nhiên, so với các quý đầu năm

2020, tỷ lệ thiếu việc làm của lao động trong độ tuổi đã giảm mạnh, từ 3,08% trong quý II xuống còn 2,79% trong quý III và đạt 1,89% trong quý IV Điều này chứng tỏ, mặc dù vẫn chịu tác động tiêu cực của đại dịch Covid-19 nhưng thị trường lao động Việt Nam đã có những thay đổi tích cực, đặc biệt trong những tháng cuối năm khi nhu cầu lao động tăng lên phục vụ yêu cầu sản xuất hàng hóa phục vụ dịp lễ, Tết cuối năm

So với năm 2019, thu nhập bình quân tháng của người lao động năm 2020 giảm ở cả

ba khu vực kinh tế

Thu nhập bình quân tháng từ công việc của người lao động quý IV năm 2020 đạt 5,7 triệu đồng, tăng 212 nghìn đồng so với quý trước và giảm 108 nghìn đồng so với cùng

kỳ năm trước Thông thường, nếu không có cú sốc Covid-19, thu nhập của người lao động quý IV tăng khá cao so với các quý khác Quý IV năm 2019, thu nhập của người lao động là 5,8 triệu đồng, cao hơn quý III năm 2019 hơn 200 nghìn đồng và cao nhất

so với các quý trong năm Năm 2020, trong bối cảnh ảnh hưởng của đại dịch

Covid-19, thu nhập bình quân tháng của người lao động trong quý IV không những không duy trì được mức tăng trưởng như mọi năm mà còn giảm khá mạnh so với quý I và cùng kỳ năm trước

Tỷ lệ thất nghiệp trong độ tuổi lao động của khu vực thành thị giảm so với quý trước

nhưng vẫn ở mức cao nhất so với cùng kỳ các năm giai đoạn 2011-2020

Tỷ lệ thất nghiệp trong độ tuổi lao động quý IV năm 2020 là 2,37%, giảm 0,13 điểm phần trăm so với quý trước và tăng 0,33 điểm phần trăm so với cùng kỳ năm trước

Tỷ lệ này ở khu vực thành thị là 3,68%, giảm 0,32 điểm phần trăm so với quý trước

và tăng 0,78 điểm phần trăm so với cùng kỳ năm trước

Dù tăng cao hơn năm trước nhưng tỷ lệ thất nghiệp trong độ tuổi khu vực thành thị năm 2020 đã không vượt quá 4,0%, đạt muc tiêu như Quốc Hội đề ra tại Nghị quyết

số 85/2019/QH-14 về Kế hoạch phát triển kinh tế xã hội năm 2020 Chỉ tiêu này cùng với chỉ tiêu tăng trưởng GDP và các chỉ tiêu cân đối vĩ mô khác có thể được xem là

Trang 6

bằng chứng quan trọng về thành công của Chính phủ trong nỗ lực thực hiện mục tiêu kép: vừa phòng chống dịch bệnh, vừa phát triển kinh tế – xã hội

Hiện nay vẫn còn một bộ phận không nhỏ lực lượng lao động tiềm năng chưa được khai thác, đặc biệt là nhóm lao động trẻ; việc tận dụng nhóm lao động này trở nên hạn chế hơn trong bối cảnh dịch Covid-19

Tỷ lệ lao động không sử dụng hết tiềm năng là chỉ tiêu tổng hợp cho biết mức độ

“lệch pha” giữa cung và cầu lao động trên thị trường, phản ánh tình trạng dư cung về lao động Trong điều kiện kinh tế phát triển bình thường, tỷ lệ lao động không sử dụng hết tiềm năng luôn tồn tại Tỷ lệ này thường tăng cao khi thị trường chịu các cú sốc về kinh tế – xã hội

Tỷ lệ lao động không sử dụng hết tiềm năng của Việt Nam giai đoạn 2018-2019 dao động ở mức 4,0% Tỷ lệ này bắt đầu tăng lên khi dịch Covid-19 xuất hiện tại nước ta, chiếm 4,6% vào quý I và tăng lên mức 5,8% vào quý II Khi các hoạt động kinh tế –

xã hội dần được khôi phục vào 6 tháng cuối năm 2020, tỷ lệ lao động không sử dụng hết tiềm năng giảm xuống còn 5,3% vào quý III và còn 4,3 % vào quý IV Tính chung năm 2020, tỷ lệ lao động không sử dụng hết tiềm năng là 5,02%, tăng 1,2 điểm phần trăm so với cùng kỳ năm trước, tương ứng tăng hơn 614 nghìn người

 Điều này cho thấy Việt Nam vẫn còn một bộ phận không nhỏ lực lượng lao động tiềm năng chưa được khai thác, đặc biệt là nhóm lao động trẻ và trong bối cảnh dịch Covid-19 xuất hiện, việc tận dụng nhóm lao động này càng trở nên hạn chế

3 Ảnh hưởng đến vốn ngoại vào Việt Nam

Cục Đầu tư nước ngoài, Bộ Kế hoạch và Đầu tư cho biết, tính đến ngày 20/4/2020, tổng vốn đăng ký cấp mới, điều chỉnh và góp vốn mua cổ phần của nhà đầu tư nước ngoài (ĐTNN) vào Việt Nam 4 tháng đầu năm 2020 đạt 12,33 tỷ USD, bằng 84,5%

so với cùng kỳ năm 2019

Theo báo cáo, sở dĩ vốn đầu tư tăng so với cùng kỳ là do trong 4 tháng đầu năm có

dự án Nhà máy điện khí tự nhiên hóa lỏng (LNG) Bạc Liêu được cấp GCNĐKĐT mới với tổng vốn đầu tư 4 tỷ USD, chiếm 59% tổng vốn đăng ký mới đã đẩy quy mô

dự án bình quân tăng hơn so với cùng kỳ, từ 4,9 triệu USD năm 2019 lên 6,9 triệu USD năm 2020

Về vốn điều chỉnh, có 335 lượt dự án đăng ký điều chỉnh với tổng vốn tăng thêm đạt trên 3,07 tỷ USD, tăng 45,6% so với cùng kỳ năm 2019 “Vốn điều chỉnh tăng đột biến sau khi giảm liên tục trong 3 tháng đầu năm 2020 do có Dự án tổ hợp hoá dầu Miền Nam Việt Nam tại Bà Rịa - Vũng Tàu điều chỉnh tăng vốn đầu tư thêm 1,386 tỷ USD Tuy nhiên, số lượt dự án điều chỉnh vốn trong 4 tháng đầu năm vẫn giảm 5,2%

so với cùng kỳ”, báo cáo cho biết

Trang 7

Mặc dù số lượt góp vốn, mua cổ phần tăng, song quy mô góp vốn nhỏ, bình quân chỉ

có 0,77 triệu USD/lượt góp vốn, nhỏ hơn nhiều so với quy mô bình quân cùng kỳ Cơ cấu giá trị góp vốn, mua cổ phần trong tổng vốn đầu tư đăng ký cũng giảm đáng kể

so với cùng kỳ, từ 48,9% trong 4 tháng năm 2019 xuống 20,1% trong 4 tháng năm

2020

Theo lĩnh vực đầu tư, các nhà ĐTNN đã đầu tư vào 18 ngành, lĩnh vực; trong đó lĩnh vực công nghiệp chế biến, chế tạo dẫn đầu với tổng vốn đầu tư đạt gần 6 tỷ USD, chiếm 48,4% tổng vốn đầu tư đăng ký

Lĩnh vực sản xuất, phân phối điện đứng thứ hai với tổng vốn đầu tư 3,9 tỷ USD, chiếm 31,9% tổng vốn đầu tư đăng ký Tiếp theo lần lượt là lĩnh vực bán buôn bán lẻ

và hoạt động kinh doanh bất động sản với tổng vốn đăng ký 776 triệu USD và 665 triệu USD

Theo đối tác đầu tư, đã có 93 quốc gia và vùng lãnh thổ có đầu tư tại Việt Nam, trong đó Singapore dẫn đầu với tổng vốn đầu tư 5,07 tỷ USD, chiếm 41,1% tổng vốn đầu tư vào Việt Nam Thái Lan đứng thứ hai với tổng vốn đầu tư 1,46 tỷ USD, chiếm 11,8% tổng vốn đầu tư Nhật Bản đứng vị trí thứ ba với tổng vốn đầu tư đăng ký 1,16

tỷ USD, chiếm 9,4% tổng vốn đầu tư Tiếp theo là Trung Quốc, Đài Loan, Hàn

Quốc,

Nếu xét theo số lượng dự án thì Hàn Quốc đứng vị trí thứ nhất với 265 dự án, Trung Quốc đứng vị trí thứ hai với 135 dự án, Nhật Bản đứng thứ ba với 116 dự án,

Singapore đứng thứ tư với 81 dự án,…

Theo địa bàn đầu tư, các nhà ĐTNN đã đầu tư vào 57 tỉnh, thành phố, trong đó Bạc Liêu vẫn tiếp tục dẫn đầu với 1 dự án lớn có vốn đầu tư 4 tỷ USD, chiếm 32,4% tổng vốn đầu tư đăng ký Bà Rịa - Vũng Tàu đứng thứ hai với tổng vốn đăng ký đạt 1,9 tỷ USD, chiếm 15,4% tổng vốn đầu tư TP.HCM đứng thứ ba với 1,31 tỷ USD, chiếm 10,6% tổng vốn đầu tư Tiếp theo lần lượt là Hà Nội, Hà Nam, Bình Dương,

Nếu xét theo số lượng dự án thì TP.HCM dẫn đầu với 369 dự án, Hà Nội đứng thứ hai với 223 dự án, Bắc Ninh đứng thứ ba với 65 dự án,

Câu 2: Những chính sách kinh tế vĩ mô để đối phó với những ảnh hưởng này

Để hỗ trợ người dân và DN giảm gánh nặng khó khăn về kinh tế do tác động của dịch Covid-19, Việt Nam đã ban hành Nghị quyết số 42/2020/NĐ-CP về “các biện pháp hỗ trợ người dân gặp khó khăn do đại dịch Covid-19”

Cụ thể: Hỗ trợ 250.000 đồng/người/tháng cho các hộ nghèo và cận nghèo; Tăng 500 nghìn đồng/người/tháng so với mức trợ cấp hàng tháng cho những người nhận trợ cấp

xã hội hàng tháng; Hỗ trợ 1,8 triệu đồng/người/tháng cho người lao động phải nghỉ

Trang 8

không lương do dịch Covid-19; Chi 1 triệu đồng/người/tháng cho người lao động thất nghiệp không được chi trả bảo hiểm thất nghiệp và người lao động tự doanh; Hỗ trợ 1 triệu đồng/hộ/tháng cho các hộ kinh doanh có doanh thu chịu thuế dưới 100 triệu đồng/tháng phải tạm ngừng kinh doanh trong kỳ giãn cách xã hội Ước tính hơn 10% dân số được hưởng lợi từ chương trình này Chính phủ thực hiện giảm giá điện tối đa 10% trong 3 tháng để hỗ trợ các DN và hộ gia đình ổn định cuộc sống, vượt qua khó khăn

Ngày 06/8, NHNN đã giảm thêm một số lãi suất điều hành với mức điều chỉnh 0,2 - 0,5% một năm Đây là lần thứ ba trong năm 2020, NHNN giảm các loại lãi suất điều hành Theo đó, lãi suất áp dụng cho tiền gửi dự trữ bắt buộc và vượt dự trữ bắt buộc tiền đồng giảm 0,5 điểm phần trăm xuống còn 0,5% một năm Bên cạnh đó, NHNN cũng quy định mức lãi suất tối đa đối với tiền gửi bằng đồng Việt Nam (VND) của các

tổ chức, cá nhân tại các tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài, lãi suất tối

đa áp dụng đối với tiền gửi không kỳ hạn và có kỳ hạn dưới 1 tháng giảm từ 0,8%/năm xuống 0,5%/năm; lãi suất tối đa áp dụng đối với tiền gửi có kỳ hạn từ 1 tháng đến dưới

6 tháng giảm từ 5,0%/năm xuống 4,75%/năm; lãi suất tối đa áp dụng đối với tiền gửi

có kỳ hạn từ 1 tháng đến dưới 6 tháng tại Quỹ tín dụng nhân dân, Tổ chức tài chính vi

mô giảm từ 5,5%/năm xuống 5,25%/năm; lãi suất tiền gửi có kỳ hạn từ 6 tháng trở lên

do tổ chức tín dụng ấn định trên cơ sở cung - cầu vốn thị trường

Bên cạnh việc cắt giảm các mức lãi suất điều hành, NHNN cũng hướng dẫn các ngân hàng thương mại cơ cấu lại các khoản cho vay, giảm lãi, và hoãn nợ đối với khách hàng gặp khó khăn do dịch bệnh Trên cơ sở đó, hệ thống ngân hàng thương mại đã dành khoản tiền 300 nghìn tỷ đồng để cho vay với lãi suất thấp và hỗ trợ 920.000 khách hàng dưới hình thức cơ cấu lại nợ, hoãn, miễn, và giảm lãi suất Các tổ chức tài chính cũng giảm và miễn các khoản phí

Các công ty bị ảnh hưởng bởi Covid-19 đủ điều kiện được vay vốn ưu đãi từ Ngân hàng Chính sách xã hội Việt Nam (VBSP) để trả lương cho công nhân của họ, những người tạm thời nghỉ việc mà không phải trả lãi Tổng giá trị khoản vay ước tính là 16,2 nghìn tỷ đồng (khoảng 0,2% GDP)

Ngoài ra, NHNN đã chỉ đạo các TCTD tích cực giảm tiền thưởng và tiền lương, cắt giảm chi phí hoạt động khác, điều chỉnh kế hoạch kinh doanh kịp thời (bao gồm không trả cổ tức bằng tiền mặt) và sử dụng các nguồn lực tiết kiệm để giảm lãi NHNN tuyên

bố rằng họ sẵn sàng bơm thanh khoản thông qua các cửa sổ tái cấp vốn cho VBSP và các TCTD khác để thực hiện các chương trình của Chính phủ và giúp các TCTD giải quyết nợ xấu NHNN đã ban hành thông tư tái cấp vốn cho VBSP lên tới 16 nghìn tỷ đồng với lãi suất 0%

Ngay khi đại dịch xảy ra và có dấu hiệu tác động tiêu cực đến nền kinh tế, Chính phủ đưa ra gói hỗ trợ tài chính trị giá 279 nghìn tỷ đồng (3,7% GDP) để hỗ trợ nền kinh tế Các biện pháp bao gồm trả chậm thuế giá trị gia tăng, thuế thu nhập doanh nghiệp và

Trang 9

phí thuê đất trong 5 tháng, hoãn trả thuế thu nhập cá nhân đến cuối năm (số tiền thanh toán trả chậm là 180 nghìn tỷ đồng, tương đương 2,4% GDP) Các biện pháp mới được phê duyệt bao gồm hoãn thuế tiêu thụ đặc biệt đối với ô tô sản xuất trong nước, giảm tiền thuê đất, cắt giảm hoặc miễn các loại phí và lệ phí khác nhau, cắt giảm thuế thu nhập doanh nghiệp cho các doanh nghiệp nhỏ và siêu nhỏ và tăng khấu trừ thuế thu nhập cá nhân

Một số biện pháp khác như: Miễn thuế cho thiết bị y tế; giảm phí đăng ký kinh doanh

có hiệu lực từ ngày 25/2 (miễn thuế một năm của các thuế đăng ký kinh doanh đối với doanh nghiệp hộ gia đình mới thành lập; miễn thuế đăng ký kinh doanh 3 năm đầu tiên cho các doanh nghiệp nhỏ); cho phép các công ty và người lao động chậm nộp bảo hiểm xã hội (tối đa 12 tháng) mà không bị phạt lãi (tổng đóng góp chậm được ước tính

là 9,5 nghìn tỷ đồng hoặc 0,1% GDP) Chính phủ cũng đã thực hiện trợ cấp trực tiếp bằng tiền mặt trị giá 65 nghìn tỷ đồng cho các công nhân và hộ gia đình bị ảnh hưởng bởi dịch bệnh Hơn 10% dân số ước tính sẽ được hưởng lợi từ chương trình này Chính phủ cũng đang thúc đẩy mục tiêu giải ngân 100% vốn đầu tư công trị giá 686 nghìn tỷ đồng hoặc gần 9% GDP (trong đó 225 nghìn tỷ đồng được thực hiện từ các năm

trước)

Chính phủ giảm thuế (T), do đó để khuyến khích tiêu dùng của dân chúng (C) và đầu tư của các doanh nghiệp (I) tăng lên làm cho tổng cầu (AD) cũng tăng từ AD0 đến AD1, dẫn đến giá tăng từ P0 đến P1, sản lượng cân bằng sẽ tăng từ Y0 đến Y*, thất nghiệp giảm

Trang 10

Trong nền kinh tế đóng, Chính phủ sử dụng chính sách tiền tệ mở rộng, bằng việc hoặc giảm tỷ lệ dự bắt buộc, hoặc giảm lãi suất chiết khấu, hoặc mua trái phiếu trên thị trường mở, cung tiền tăng Đường LM dịch chuyển sang phải (xuống dưới), lãi suất giảm từ r1 xuống r2 , thu nhập cân bằng tăng lên từ Y1 đến Y2

Cho đến nay, dịch bệnh vẫn chưa có dấu hiệu kết thúc ở nhiều nơi trên thế giới, trong

đó có Việt Nam, còn quá sớm để có thể đánh giá được hết những tác động tiêu cực của dịch bệnh Covid-19 đối với nền kinh tế Tuy nhiên, với những giải pháp về chính sách tiền tệ và chính sách tài khóa đã giúp nền kinh tế tiếp tục tăng trưởng ở mức 3,82% trong quý I và 0,36% trong quý II năm 2020 Đây là mức tăng trưởng khá giữa bối cảnh dịch bệnh bùng phát và nhiều nước trên thế giới ghi nhận tăng trưởng âm

Câu 3: Cơ chế ảnh hưởng của những chính sách can thiệp của Chính phủ

Ngay khi dịch bệnh bùng phát, cả hệ thống chính trị đã vào cuộc quyết liệt, cùng với

sự đồng lòng, đoàn kết của toàn dân, toàn quân trong công tác phòng, chống dịch Chính phủ đã ban hành hàng loạt chính sách, trong đó chính sách tiền tệ đã khẳng định được vai trò lưu thông “dòng máu” trong nền kinh tế, hỗ trợ DN vượt qua khó khăn,

ổn định sản xuất

Hiện nay, hầu hết DN hoạt động dựa vào các khoản vay được đảm bảo bằng doanh thu trong tương lai Khi nền kinh tế bị đóng cửa, nhiều DN phải ngừng hoạt động, nhưng những DN có các khoản vay vẫn phải trả nợ và lãi vay Nếu chính sách tiền tệ, chính sách lãi vay không trợ giúp thì dễ dẫn đến một làn sóng vỡ nợ, phá sản các DN

và gây thảm họa cho thị trường tài chính và hệ thống các tổ chức tín dụng

Đây chính là bản chất của cú sốc cung và trong bối cảnh đó, các chính sách tiền tệ truyền thống sẽ không có tác dụng Việc giảm lãi suất, tăng thanh khoản cũng không

Ngày đăng: 24/02/2023, 13:08

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w