ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI KHOA LUẬT TIỂU LUẬN CUỐI KỲ MÔN KỸ NĂNG GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP HỢP ĐỒNG TÍN DỤNG Đề tài Pháp luật về giải quyết tranh chấp phát sinh trong quá trình giao kết hợp đồng tín dụng H[.]
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT
TIỂU LUẬN CUỐI KỲ MÔN KỸ NĂNG GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP HỢP ĐỒNG TÍN DỤNG
Đề tài: Pháp luật về giải quyết tranh chấp phát sinh trong quá trình giao kết
hợp đồng tín dụng
Họ tên: Vũ Ngọc Thanh MSSV 16050137 Ngày sinh: 16/08/1998
Năm 2021
Trang 2Mục Lục
Mở đầu 2
Nội dung 4
Chương 1: Vấn đề lý luận về hợp đồng tín dụng và giao kết hợp đồng tín dụng 4
1.1 Khái niệm hợp đồng tín dụng 4
1.2 Giao kết hợp đồng tín dụng 5
1.3 Tranh chấp hợp đồng tín dụng 5
Chương 2: Thực trạng pháp luật về giao kết hợp đồng tín dụng ở Việt Nam 6
2.1 Quá trình giao kết hợp đồng tín dụng 6
2.2 Tranh chấp phát sinh trong quá trình giao kết hợp đồng tín dụng 8
2.3 Các phương thức giải quyết trong quá trình giao kết hợp đồng 9
Chương 3: Nhận xét, đánh giá và đề xuất cải thiện trong giải quyết tranh chấp trong giao kết hợp đồng tín dụng 11
Kết luận 13
Danh mục tài liệu tham khảo: 14
Trang 3Mở đầu
1 Tính cấp thiết của đề tài
Dưới sự tác động của nền công nghiệp 4.0 và sự cạnh tranh ngày càng mạnh mẽ của nền kinh tế thị trường cùng với sự hội nhập của Việt Nam với thế giới đã kích thích sự phát triển về mọi mặt của đất nước Việc hội nhập và phát triển không ngừng này đã tạo ra những điều kiện vô cùng thuận lợi đối với sự phát triển của doanh nghiệp, nhưng đồng thời cũng đưa ra những thách thức mới cần doanh nghiệp phải đối mặt và vượt lên Đặc biệt, ngân hàng là một trong những lĩnh vực chịu nhiều áp lực nhất và cần được quan tâm đặc biệt bởi ngân hàng được coi là huyết mạch của nền kinh tế, hoạt động của nó bao trùm lên tất cả các hoạt động kinh tế xã hội, đây là hoạt động trung gian gắn liền với sự vận động của toàn bộ nền kinh tế Mặc dù không trực tiếp tạo ra của cải vật chất cho nền kinh tế, song với đặc điểm hoạt động riêng có của mình ngành Ngân hàng giữ một vai trò quan trọng trong việc thúc đẩy sự phát triển bền vững của nền kinh tế; tác động đến môi trường thông qua các hoạt động nội bộ và tác động bên ngoài thông qua cung cấp các sản phẩm, dịch vụ của mình
Hoạt động tín dụng của ngân hàng giúp tạo điều kiện cũng như thúc đẩy sự phát triển của các cá nhân, tổ chức; tuy nhiên hoạt động này cũng tiềm ẩn rất nhiều rủi ro Những cuộc khủng hoảng tín dụng cũng là nguyên nhân dẫn tới những của khủng hoảng tài chính mà
để lại sau đó là những hậu quả nặng nề; ví dụ gần nhất là cuộc khủng hoảng nhà ở thứ cấp
đã dẫn tới cuộc khủng hoảng tài chính Hoa Kỳ 2007-2009 Một trong những nguyên nhân
ở đây là sự thiếu chặt chẽ trong giao kết hợp đồng tín dụng Bởi vậy nên tôi chọn đề tài
“Pháp luật về giải quyết tranh chấp phát sinh trong quá trình giao kết hợp đồng tín dụng”
để làm đề tài tiểu luận của mình
2 Mục tiêu nghiên cứu
Tìm hiểu và phân tích các quy phạm pháp luật và văn bản pháp lý liên quan tới vấn đề giao kết hợp đồng tín dụng và thực tiễn áp dụng ở Việt Nam hiện nay Từ đó đưa ra những nhận xét, đánh giá cá nhân về các vấn đề cụ thể
Trang 43 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
3.1 Đối tượng nghiên cứu
Đề tài sẽ tập trung nghiên cứu về pháp luật hiện hành của Việt Nam về giải quyết tranh chấp phát sinh trong quá trình giao kết hợp đồng tín dụng và thực tế áp dụng pháp luật trên các ngân hàng thương mại ở Việt Nam
3.2 Phạm vi nghiên cứu
Bao gồm các bộ luật điều hành các vấn đề dân sự, hành chính, thương mại, ngân hàng,
Trên cơ sở các vấn đề luật định để xác định vai trò và tầm ảnh hưởng của nó tới đời sống thực tiễn
4 Phương pháp nghiên cứu
Sử dụng phương pháp tổng hợp để tìm ra các tài liệu văn bản quy phạm cụ thể về vấn đề
cụ thể; sau đó đưa ra những phân tích đánh giá của cá nhân và tổng hợp lại vấn đề
5 Kết cấu tiểu luận
Bao gồm 03 chương:
Chương 1: Vấn đề lý luận về hợp đồng tín dụng và giao kết hợp đồng tín dụng
Chương 2: Thực trạng pháp luật về giao kết hợp đồng tín dụng ở Việt Nam
Chương 3: Nhận xét, đánh giá và đề xuất cải thiện trong giao kết hợp đồng tín dụng
Trang 5Nội dung Chương 1: Vấn đề lý luận về hợp đồng tín dụng và giao kết hợp đồng tín dụng
1.1 Khái niệm hợp đồng tín dụng
1.1.1 Khái niệm
Là hợp đồng cho vay tài sản theo Bộ luật dân sự 2015: là sự thỏa thuận giữa các bên, theo
đó bên cho vay giao tài sản cho bên vay; khi đến hạn trả, bên vay phải hoàn trả cho bên cho vay tài sản cùng loại theo đúng số lượng, chất lượng và chỉ phải trả lãi nếu có thỏa thuận hoặc pháp luật có quy định Bên cho vay là tổ chức tín dụng
Như vậy, hợp đồng tín dụng là văn bản thỏa thuận giữa tổ chức tín dụng và các tổ chức,
cá nhân về việc chuyển giao một khoản tiền cho bên vay sử dụng trong một thời gian nhất định dựa trên nguyên tắc hoàn trả
Hợp đồng tín dụng ngân hàng là Việc thỏa thuận bằng văn bản giữa tổ chức tín dụng (bên cho vay) với tổ chức, cá nhân vay vốn (bên vay), theo đó, tổ chức tín dụng cam kết cho bên vay vay khoản tiền với điều kiện hoàn trả gốc và lãi trong thời hạn nhất định
Tổ chức tín dụng là doanh nghiệp thực hiện một, một số hoặc tất cả các hoạt động ngân hàng Tổ chức tín dụng bao gồm ngân hàng, tổ chức tín dụng phi ngân hàng, tổ chức tài chính vi mô và quỹ tín dụng nhân dân
Theo quy định của pháp luật hiện hành, quan hệ cho vay giữa tổ chức tín dụng với khách hàng được xác lập và thực hiện thông qua công cụ pháp lí là hợp đồng tín dụng
1.1.2 Đặc trưng của hợp đồng tín dụng
Là hợp đồng song vụ, hình thức văn bản; Đối tượng thỏa thuận: khoản tiền cho vay; có nguyên tắc hoàn trả
Để đảm bảo an toàn cho hoạt động ngân hàng trong nền kinh tế, pháp luật có một số quy định hạn chế hành vi giao kết hợp đồng tín dụng như: quy định mức cho vay tối đa đối
Trang 6với một khách hàng, quy định tổ chức tín dụng không được cho vay với một số đối
tượng,…
1.1.3 Nội dung cơ bản
Căn cứ theo Thông tư 39/2016/TT-NHNN, nội dung của hợp đồng tín dụng bao gồm những điều khoản cơ bản như:
o Điều khoản về chủ thể cho vay – khách hàng;
o Điều khoản về đối tượng hợp đồng;
o Điều khoản về thời hạn sử dụng vốn vay;
o Điều khoản về mục đích sử dụng vốn vay;
o Điều khoản về phương thức cho vay, việc trả nợ gốc, lãi tiền vay và thứ tự thu hồi nợ gốc, lãi tiền vay, trả nợ trước hạn;
o Điều khoản về lãi suất cho vay, về chuyển nợ quá hạn và một số nội dung khác như quyền và trách nhiệm của các bên, hiệu lực của hợp đồng…
1.2 Giao kết hợp đồng tín dụng
Giao kết hợp đồng tín dụng là quá trình mang tính kỹ thuật nghiệp vụ ( ngân hàng) – pháp
lý Đề nghị giao kết là hành vi pháp lý – biểu hiện ý chí giữa các bên, cụ thể một bên là
tổ chức tín dụng và bên còn lại là cá nhân hoặc tổ chức, thực hiện việc giao kết cho vay tài sản dựa trên hợp đồng tín dụng cụ thể Việc giao kết này được tiến hành một cách tự
do, nhưng không được trái pháp luật, đạo đức xã hội
1.3 Tranh chấp hợp đồng tín dụng
Tranh chấp phát sinh từ hợp đồng tín dụng được hiểu là tình trạng pháp lí của quan hệ hợp đồng tín dụng, trong đó các bên thể hiện sự xung đột hay bất đồng ý chí với nhau về những quyền và nghĩa vụ hoặc lợi ích phát sinh từ hợp đồng tín dụng Một hợp đồng tín dụng chỉ được coi là có tranh chấp khi sự xung đột, bất đồng về phương diện quyền lợi giữa các bên đã được thể hiện ra bên ngoài (mặt khách quan) thông qua những bằng chứng cụ thể và xác định được
Trang 7Chương 2: Thực trạng pháp luật về giao kết hợp đồng tín dụng ở Việt Nam
2.1 Quá trình giao kết hợp đồng tín dụng
Giao kết hợp đồng tín dụng là quá trình mang tính chất kĩ thuật nghiệp vụ và pháp lí do các bên thực hiện theo trình tự luật định Việc giao kết hợp đồng tín dụng được thực hiện theo trình tự sau đây :
2.1.1 Đề nghị giao kết hợp đồng tín dụng
Đề nghị giao kết hợp đồng tín dụng là hành vi pháp lí do một bên thực hiện dưới hình thức văn bản chính thức gửi cho bên kia, với nội dung thể hiện ý chí mong muốn được giao kết hợp đồng tín dụng Thông thường, bên đề nghị giao kết hợp đồng tín dụng là các
tổ chức, cá nhân có nhu cầu vay vốn và văn bản đề nghị chính là đơn xin vay, được gửi kèm theo các giấy tờ tài liệu chứng minh tư cách chủ thể và khả năng tài chính hay
phương án sử dụng vốn vay Các tài liệu này do bên vay gửi cho tổ chức tín dụng để xem xét, thẩm định và được coi như bằng chứng đề nghị giao kết họp đồng tín dụng
Thực tiễn giao kết hợp đồng tín dụng ở Việt Nam trong những năm gần đây cho thấy, có nhiều trường hợp bên chủ động đề nghị giao kết hợp đồng tín dụng lại chính là tổ chức tín dụng chứ không phải khách hàng Phương thức này được một số tổ chức tín dụng chủ động thực hiện nhằm tăng cường khả năng cạnh tranh và mở rộng thị trường tín dụng Những tổ chức tín dụng đã từng đi tiên phong trong việc lựa chọn phương thức này chính
là các ngân hàng cổ phần, ngân hàng liên doanh, chi nhánh ngân hàng nước ngoài tại Việt Nam
2.1.2 Thẩm định hồ sơ tín dụng
Thẩm định hồ sơ tín dụng là tất cả những hành vi mang tính nghiệp vụ-pháp lí do tổ chức tín dụng thực hiện nhằm xác định mức độ thoả mãn các điều kiện vay vốn đốì với bên vay, trên cơ sở đó mà quyết định cho vay hay không
Trong thực tế giao dịch ngân hàng, việc thẩm định hồ sơ tín dụng thường do các nhân viên chuyên trách của tổ chức tín dụng thực hiện và kết thúc bằng việc lập báo cáo thẩm
Trang 8định hồ sơ tín dụng Báo cáo này được trình lên cho người quản lí có thẩm quyền của tổ chức tín dụng quyết định về việc có cho vay hay không Do tính đặc biệt quan trọng của giai đoạn này trong cả quá trình từ cho vay đến thu nợ nên pháp luật đòi hỏi bên cho vay
là tổ chức tín dụng phải triệt để tuân thủ nguyên tắc đảm bảo tính độc lập, phân định rõ ràng trách nhiệm cá nhân và trách nhiệm liên đới giữa khâu thẩm định và khâu quyết định cho vay
2.1.3 Hiệu lực của hợp đồng tín dụng
Để xác minh hợp đồng tín dụng có hiệu lực cần phải xem xét các kía cạnh sau:
o Các điều kiện có hiệu lực của hợp đồng tín dụng
Điều 117 Bộ luật dân sự năm 2015, hợp đồng tín dụng với tư cách là loại hình giao dịch dân sự đặc thù chỉ có hiệu lực khi thoả mãn đẩy đủ các điều kiện sau đây:
Chủ thể tham gia hợp đồng tín dụng phải có đủ năng lực pháp luật và năng lực hành vi dân sự: Đối với chủ thể của hợp đồng tín dụng là tổ chức thì người đại diện cho tổ chức
đó cũng phải có năng lực pháp luật và năng lực hành vi dân sự
Có sự đồng thuận ý chí giữa các bên cam kết trên nguyên tắc tự nguyện, bình đẳng và tự
do ý chí: Một họp đồng tín dụng được coi là không có sự đồng thuận và tự do ý chí khi sự thoả thuận đó giữa các bên bị các khiếm khuyết như sự nhầm lẫn; sự lừa dối, lường gạt hoặc sự ép buộc, cưỡng bức trong khi giao kết hợp đồng Trên nguyên tắc, không phải mọi sự nhầm lẫn, lừa dối, lường gạt hoặc cưỡng bức, ép buộc của một bên đối với bên kia đều dẫn đến hậu quả làm cho họp đồng tín dụng vô hiệu mà các khuyết tật này phải có ảnh hưởng mang tính quyết định đến ý chí giao kết hợp đồng của các bên thì mới được coi là sự kiện pháp lí làm cho họp đồng tín dụng vô hiệu
Mục đích và nội dung của hợp đồng tín dụng không trái pháp luật và đạo đức xã hội: Tính hợp pháp về mục đích tham gia giao dịch thể hiện ở chỗ, mục đích cho vay và mục đích
đi vay của các bên chủ thể hợp đồng nhất thiết phải được thể hiện rõ ràng trong nội dung của hợp đồng và các mục đích này không trái pháp luật, không trái đạo đức xã hội Tính
Trang 9hợp pháp về nội dung của hợp đồng tín dụng thể hiện ở chỗ, các điều khoản của hợp đồng tín dụng không vi phạm điêu cấm của pháp luật và không trái với đạo đức xã hội
Riêng đối với hình thức của hợp đồng tín dụng, việc kí kết hợp đồng phải theo hình thức
mà pháp luật ngân hàng quy định
o Thời điếm phát sinh hiệu lực của hợp đồng tín dụng
Thời điểm phát sinh hiệu lực của hợp đồng tín dụng là điểm mốc thời gian mà kể từ lúc
đó quyền và nghĩa vụ pháp lí của các bên tham gia hợp đồng tín dụng bắt đầu phát sinh
o Sự vô hiệu của hợp đồng tín dụng và các hậu quả pháp lí của sự vô hiệu
Hợp đồng tín dụng bị coi là vô hiệu tuyệt đối khi mục đích, nội dung và hình thức của hợp đồng vi phạm các điều cấm của pháp luật hoặc trái đạo đức xã hội và phương hại đến lợi ích chung
Hợp đồng tín dụng bị coi là vô hiệu tương đối khi chủ thể tham gia họp đồng không có năng lực hành vi dân sự hoặc hợp đồng được kí kết không có sự tự nguyện và đồng thuận giữa các bên kí kết hoặc hình thức của hợp đồng tuy không phù hợp với quy định của pháp luật nhưng hợp đồng đã được các bên thực hiện ít nhất hai phần ba nghĩa vụ phát sinh từ hợp đồng
2.2 Tranh chấp phát sinh trong quá trình giao kết hợp đồng tín dụng
Tranh chấp hợp đồng là điều tất yếu khi mà lợi ích của một bên bị xâm phạm mà khởi nguồn chủ yếu là do vệc vi phạm nghĩa vụ của bên còn lại Vì tranh chấp được phát sinh trong quá trình giao kết hợp đồng tín dụng giữa các bên nên thường xảy ra do một số nguyên nhân sau:
o Tranh chấp hợp đồng tín dụng phát sinh từ sự xung đột về lợi ích giữa các bên tham gia tranh chấp: mâu thuẫn phát sinh khi hai bên đưa ra những yêu cầu để đi tới thỏa thuận chung trên hợp đồng tín dụng nhưng lại không tìm được tiếng nói chung, ví dụ như mâu thuẫn về số tiền cho vay, lãi suất, thời hạn vay, thời hạn thanh toán, chi phí bảo hiểm
Trang 10khoản vay, điều kiện tất toán khoản vay, mục đích vay, Chính vì vậy nên cả 2 bên đều không thống nhất được hợp đồng tạo ra mâu thuẫn và tranh chấp giữa các bên
o Tranh chấp hợp đồng tín dụng phát sinh trong quá trình thẩm định hồ sơ tín dụng: Đây là nguyên nhân xuất phát từ phía chủ quan của các tổ chức tín dụng khi nguồn nhân lực chủ chốt trong hoạt động tín dụng không được đảm bảo yêu cầu về năng lực chuyên môn cũng như đạo đức nghề nghiệp Các cán bộ tín dụng chỉ chú trọng việc tìm kiếm khách hàng; trong khi đó việc thẩm định, đánh giá biện pháp bảo đảm tiền vay còn hạn chế, chưa phân tích, đánh giá các điều kiện về biện pháp bảo đảm tiền vay Bên cạnh đó, trình độ thẩm định của nhân viên tổ chức tín dụng còn chưa cao, một số còn chú trọng tư lợi cá nhân trong hoạt động cho vay nên có những sai sót và thiếu chặt chẽ dẫn đến kết quả thẩm định chưa đạt yêu cầu,
o Tranh chấp hợp đồng tín dụng phát sinh do tài sản đảm bảo khoản vay
o Tranh chấp hợp đồng tín dụng phát sinh do các yếu tố khách quan khác: do sự bất cập của các quy định pháp luật; do việc thực hiện các chủ trương, chính sách của Nhà nước về bình ổn kinh tế hoặc do sự thay đổi, bổ sung, chấm dứt hợp đồng vay tiền tại các tổ chức tín dụng không đúng quy định pháp luật
2.3 Các phương thức giải quyết trong quá trình giao kết hợp đồng
Pháp luật Việt Nam tôn trọng sự thỏa thuận của các bên, cụ thể, Bộ Luật dân sự ghi nhận:
“cam kết, thỏa thuận hợp pháp có hiệu lực bắt buộc đối với các bên và phải được cá nhân, pháp nhân, chủ thể khác tôn trọng” Hợp đồng tín dụng về bản chất là hợp đồng dân sự
mà quan hệ dân sự là quan hệ mang tính thỏa thuận, tự định đoạt giữa các bên Do đó, kể
cả đối với việc giải quyết tranh chấp phát sinh từ hợp đồng tín dụng thì các bên cũng có quyền thỏa thuận để đạt được hiệu quả tối ưu nhất trong trường hợp có tranh chấp xảy ra Việc tôn trọng quyền định đoạt này có ý nghĩa vô cùng quan trọng vì quan hệ dân sự giữa các bên mang tính bình đẳng, không phải là mối quan hệ mệnh lệnh - phục tùng như các quan hệ hành chính nhà nước khác Khi các bên tham gia tranh chấp có thể thỏa thuận được với nhau thì việc giải quyết tranh chấp sẽ diễn ra nhanh chóng, thuận lợi hơn, đồng thời giảm thiểu được thiệt hại về thời gian, tiền bạc, công sức của các bên Về phía các cơ quan tài phán, thi hành án thì việc thỏa thuận này cũng có ý nghĩa trong việc giảm nhẹ