1 ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI ĐẠI HỌC NGOẠI NGỮ Môn học Kinh tế vĩ mô Họ và tên Đoàn Thị Kim Dung Ngày sinh 19/02/1999 Mã sinh viên 17041100 Số điện thoại 0398480728 Giáo viên hướng dẫn Phạm Thanh Sơn Hà[.]
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI ĐẠI HỌC NGOẠI NGỮ
Môn học: Kinh tế vĩ mô
Họ và tên: Đoàn Thị Kim Dung Ngày sinh: 19/02/1999
Mã sinh viên: 17041100
Số điện thoại: 0398480728 Giáo viên hướng dẫn: Phạm Thanh Sơn
Hà Nội, ngày 16 tháng 05 năm 2021
Trang 2CÂU 1: PHÂN TÍCH ẢNH HƯỞNG CỦA COVID-19 LÊN THỊ TRƯỜNG KINH TẾ VĨ
MÔ VIỆT NAM (THỊ TRƯỜNG HÀNG HÓA, LAO ĐỘNG, VÀ VỐN)
Đại dịch Covid-19 đã gây ra những ảnh hưởng toàn diện, sâu rộng đến tất cả các quốc gia trên thế giới và hiện nay vẫn còn diễn biến phức tạp Nền kinh tế Việt Nam có độ mở lớn, hội nhập quốc tế sâu rộng đã và đang chịu nhiều tác động, ảnh hưởng nghiêm trọng đến các lĩnh vực kinh tế - xã hội
➢ Thị trường hàng hóa
Tổng bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng năm 2020 dự kiến đạt khoảng 5.100 nghìn tỷ đồng, tăng 2,7% so với năm 2019, trong đó bán lẻ hàng hóa tăng khoảng 6,5% tỷ
lệ hàng Việt Nam tại các hệ thống phân phối bán lẻ luôn tỷ trọng trên 90% đối với hệ thống phân phối do doanh nghiệp trong nước làm chủ (Co.opmart: 90 - 93%, Satra: 90-95%, Vinmart: 96% ) và trên 70% tại các hệ thống siêu thị, trung tâm thương mại nước ngoài tại Việt Nam (Lotte, Big C: 90%, AEON, Citimart: 82 - 85% )
Năm 2020, tổng trị giá kim ngạch xuất nhập khẩu cả nước vượt sâu mốc 500 tỷ USD, đạt 545,4 tỷ USD, tăng 5,4% so với năm 2019 Trong đó, tổng kim ngạch xuất khẩu đạt 282,66
tỷ USD, tăng 7,0% so với năm 2019 và tổng kim ngạch nhập khẩu đạt 262,7 tỷ USD, tăng 3,7% so với năm 2019 Trong bối cảnh đại dịch Covid-19, kim ngạch xuất khẩu vẫn duy trì mức tăng 7% so với năm trước, bằng đúng chỉ tiêu được Quốc hội giao cho Chính phủ trong năm 2020 Đây là kết quả rất tích cực nếu xét đến trong 2 quý đầu năm, tổng kim ngạch xuất khẩu chỉ tăng ở mức 0,2% so với cùng kỳ năm trước
Mặc dù có đợt bùng phát dịch COVID-19 mới, tổng mức bán lẻ hàng hóa và dịch vụ trong tháng 2/2021 vẫn tăng 0,3% so với tháng trước và 8,3% so với cùng kỳ năm trước nhờ nhu cầu tiêu dùng cao hơn trong dịp Tết Dù vẫn thấp hơn trước khi có dịch COVID-19, tỷ lệ tăng trưởng này cho thấy những biện pháp ứng phó có mục tiêu của Chính phủ với đợt bùng phát đã giảm thiểu việc tác động tiêu cực của những biện pháp phòng chống dịch nghiêm ngặt đối với các hoạt động kinh tế lan sang các tỉnh ngoài tâm chấn Tổng mức bán lẻ hàng hóa và dịch vụ tăng nhờ doanh số bán lẻ hàng hóa tăng mạnh hơn trong tháng 2/2021 (10,5%, so với cùng kỳ năm trước) so với tháng 1/2021 (5,4%, so với cùng kỳ năm trước) Trong khi doanh thu từ dịch vụ lưu trú và ăn uống chỉ thấp hơn 0,1% so với một năm về trước, dịch vụ lữ hành tiếp tục giảm sút nghiêm trọng với mức giảm 60,8% so với cùng kỳ năm trước
Trang 3Xuất khẩu giảm nhẹ trong khi nhập khẩu tiếp tục tăng mạnh dẫn đến thâm hụt thương mại lần đầu tiên được ghi nhận trong 10 tháng Trong tháng 2/2021, xuất khẩu hàng hóa giảm 4,2% trong khi nhập khẩu tăng 11,8% so với cùng kỳ năm trước, dẫn đến thâm hụt thương mại lần đầu tiên kể từ tháng 4/2020 Trong khi xuất khẩu hàng dệt may, giày dép và điện thoại giảm thì máy tính, sản phẩm điện tử và quang học, máy móc, kim loại và sản phẩm kim loại, gỗ và đồ nội thất vẫn duy trì mức tăng trưởng mạnh mẽ Các doanh nghiệp xuất khẩu có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài, khu vực đang thống trị lĩnh vực sản xuất sản phẩm công nghệ cao, tỏ ra năng động hơn khi kim ngạch xuất khẩu chỉ giảm 1,0%, so với mức giảm 15,1% (so với cùng kỳ năm trước) của các doanh nghiệp trong nước Theo đối tác thương mại, dữ liệu sơ bộ cho thấy xuất khẩu sang Mỹ và Trung Quốc tăng, trong khi xuất khẩu sang EU, ASEAN, Hàn Quốc và Nhật Bản giảm Kim ngạch nhập khẩu tăng là do nhập khẩu từ Trung Quốc trong tháng 2/2021 đã tăng gấp đôi so với cùng kỳ năm ngoái, tương tự như xu hướng nhập khẩu tháng 1/2021 Vào tháng 1/2021, nhập khẩu điện thoại, máy tính, điện tử và linh kiện, và máy móc thiết bị chiếm một nửa tổng kim ngạch nhập khẩu từ Trung Quốc và tăng hơn 75% so với cùng kỳ năm trước Điều này phản ánh sự phụ thuộc nhiều của Việt Nam vào đầu vào nhập khẩu trong ngành công nghiệp chế biến, chế tạo, cũng như việc đa dạng hóa thương mại tiếp tục diễn ra do căng thẳng thương mại giữa
Mỹ và Trung Quốc vẫn chưa được giải quyết
➢ Thị trường vốn
Vốn đầu tư toàn xã hội thực hiện năm 2020 tăng 5,7% so với năm 2019, mức thấp nhất trong giai đoạn 2011-2020 Vốn đầu tư toàn xã hội thực hiện theo giá hiện hành năm 2020 đạt 2.164,5 nghìn tỷ đồng và bằng 34,4% GDP (quý 4-2020 đạt 719,6 nghìn tỷ đồng, tăng 7,5% so với cùng kỳ năm trước) Trong đó, vốn khu vực Nhà nước đạt 729 nghìn tỷ đồng, chiếm 33,7% tổng vốn và tăng 14,5% so với năm trước; khu vực ngoài Nhà nước đạt 972,2 nghìn tỷ đồng, bằng 44,9% và tăng 3,1%; khu vực có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài đạt 463,3 nghìn tỷ đồng, bằng 21,4% và giảm 1,3% Chỉ số hiệu quả sử dụng vốn đầu tư (Hệ
số ICOR) năm 2020 đạt 14,28; bình quân giai đoạn 2016-2020 hệ số ICOR đạt 7,04 Tổng vốn đầu tư nước ngoài vào Việt Nam tính đến ngày 20-12-2020 bao gồm vốn đăng
ký cấp mới, vốn đăng ký điều chỉnh và giá trị góp vốn, mua cổ phần của nhà đầu tư nước ngoài đạt 28,5 tỷ USD, giảm 25% so với năm 2019 Vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài thực hiện năm 2020 ước tính đạt gần 20 tỷ USD, giảm 2% so với năm trước Đầu tư của Việt Nam ra nước ngoài trong năm 2020 có 119 dự án được cấp giấy chứng nhận đăng ký đầu
Trang 4tư mới với tổng số vốn đăng ký của phía Việt Nam đạt 318 triệu USD; có 33 lượt dự án điều chỉnh vốn với số vốn tăng thêm 272 triệu USD Tính chung tổng vốn đầu tư của Việt Nam ra nước ngoài (vốn cấp mới và tăng thêm) đạt 590 triệu USD, tăng 16,1% so với năm
2019
Dòng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) hồi phục mạnh mẽ vào tháng 2/2021 sau hai tháng chững lại Sau khi giảm vào tháng 1/2021, Việt Nam đã thu hút được 3,4 tỷ USD vốn FDI vào tháng 2/2021, cao hơn 70,4% so với tháng trước và tăng gấp ba lần giá trị vốn FDI ghi nhận vào tháng 2/2020 Sự gia tăng về vốn FDI này trong bối cảnh đại dịch COVID-19 chủ yếu được thúc đẩy bởi hoạt động đăng ký cấp mới (tăng 265,7% so với cùng kỳ năm trước) và tăng vốn (tăng 273,0% so với cùng kỳ năm trước) Các dự án lớn bao gồm Nhà máy nhiệt điện Ô Môn II trị giá 1,31 tỷ USD tại Cần Thơ và Nhà máy sản xuất mô-đun tấm nền OLED trị giá 750 triệu USD tại Hải Phòng
➢ Thị trường lao động
Tính đến tháng 12 năm 2020, cả nước có 32,1 triệu người từ 15 tuổi trở lên bị ảnh hưởng tiêu cực bởi dịch Covid-19 bao gồm người bị mất việc làm, phải nghỉ giãn việc/nghỉ luân phiên, giảm giờ làm, giảm thu nhập,… Trong đó, 69,2% người bị giảm thu nhập, 39,9% phải giảm giờ làm/nghỉ giãn việc/nghỉ luân phiên và khoảng 14,0% buộc phải tạm nghỉ hoặc tạm ngừng hoạt động sản xuất kinh doanh
Khu vực dịch vụ chịu ảnh hưởng nặng nề nhất bởi dịch Covid-19 với 71,6% lao động bị ảnh hưởng, tiếp đến là khu vực công nghiệp và xây dựng với 64,7% lao động bị ảnh hưởng;
tỷ lệ lao động bị ảnh hưởng trong khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản là 26,4%
Lực lượng lao động từ 15 tuổi trở lên trong quý IV năm 2020 là 55,1 triệu người, tăng 563,8 nghìn người so với quý trước nhưng vẫn thấp hơn 860,4 nghìn người so với cùng kỳ năm trước Điều này một lần nữa khẳng định xu hướng phục hồi của thị trường lao động sau khi ghi nhận mức giảm sâu kỷ lục vào quý II năm 2020
Đại dịch Covid đã tác động làm thay đổi xu hướng biến động mang tính mùa vụ của lực lượng lao động giữa các quý trong năm Ở các năm trước, giai đoạn 2016-2019, lực lượng lao động của quý đầu tiên trong năm luôn thấp nhất sau đó tăng dần ở các quý sau và đạt mức cao nhất vào quý IV Năm 2020, lực lượng lao động bắt đầu giảm ở quý I, sau đó tiếp tục giảm mạnh và chạm đáy ở quý II và dần có sự phục hồi vào quý III và quý IV Mặc dù
có phục hồi nhưng lực lượng lao động đến quý IV năm 2020 vẫn chưa đạt được trạng thái
Trang 5ban đầu khi chưa có dịch Số người thuộc lực lượng lao động trong quý này vẫn thấp hơn quý I gần 200 nghìn người
So với quý III năm 2020, lao động quý IV ở khu vực nông thôn có dấu hiệu phục hồi nhanh hơn lao động ở khu vực thành thị, trong khi đó tốc độ phục hồi của lao động nam đã đuổi kịp tốc độ hồi phục của lao động nữ So với quý trước, lực lượng lao động tại khu vực nông thôn tăng 1,4%, cao hơn 1,1 điểm phần trăm so với mức tăng của khu vực thành thị; lực lượng lao động nữ và lực lượng lao động nam cùng tăng 1,0%
Tính chung năm 2020, lực lượng lao động từ 15 tuổi trở lên đạt 54,6 triệu người, giảm 1,2 triệu người so với năm 2019 Trong giai đoạn 2016-2019, trung bình mỗi năm lực lượng lao động tăng 0,8% Nếu lực lượng lao động năm 2020 duy trì tốc độ tăng như giai đoạn 2016-2019 và không có dịch Covid-19, nền kinh tế Việt Nam sẽ có thêm 1,6 triệu lao động Nói cách khác, dịch Covid-19 có thể đã tước đi cơ hội tham gia thị trường lao động của 1,6 triệu người
Trong quý IV năm 2020, số người từ 15 tuổi trở lên có việc làm là gần 54,0 triệu người, giảm 945 nghìn người so với cùng kỳ năm trước Trong đó, lao động có việc làm ở khu vực thành thị là 17,6 triệu người, giảm 90,2 nghìn người; ở khu vực nông thôn là 35,9 triệu người, giảm 854,3 nghìn người so với cùng kỳ năm trước
Mặc dù số lao động có việc làm quý IV năm 2020 tăng mạnh so với 2 quý trước nhưng do
sự giảm sâu của lực lượng này trong quý II đã khiến số lao động từ 15 tuổi trở lên đang làm việc trong nền kinh tế tính chung cả năm 2020 giảm mạnh so với năm 2019 Lao động từ
15 tuổi trở lên đang làm việc là 53,4 triệu người, giảm 1,3 triệu người so với năm 2019 (tương ứng giảm 2,36%) Biến động này hoàn toàn trái ngược với xu hướng tăng việc làm hàng năm giai đoạn 2010-2019 Trong giai đoạn này, số lao động có việc làm liên tục tăng qua các năm, bình quân mỗi năm tăng hơn 600 nghìn người Mức giảm lao động có việc làm trong năm 2020 là điều chưa từng xảy ra trong suốt một thập kỷ qua Trong số 1,3 triệu người bị đẩy vào tình trạng không có việc làm nói trên, có 51,6% người là phụ nữ và đa phần họ đang ở trong độ tuổi lao động (76,2%)
Quý IV năm 2020 có 20,9 triệu lao động có việc làm phi chính thức, tăng 233 nghìn người
so với quý trước và tăng 338,4 nghìn người so với cùng kỳ năm trước Tỷ lệ lao động có việc làm phi chính thức quý IV năm 2020 là 56,2%, giảm 0,8 điểm phần trăm so với quý trước và tăng 0,6 điểm phần trăm so với cùng kỳ năm trước
Trang 6Tính chung cả năm 2020, số lao động có việc làm phi chính thức là 20,3 triệu người, tăng 119,1 nghìn người, số lao động có việc làm chính thức là 15,8 triệu người giảm 21,1 nghìn người so với năm 2019 Tỷ lệ lao động có việc làm phi chính thức năm 2020 là 56,2%, cao hơn 0,2 điểm phần trăm so với năm 2019
Tính riêng quý IV năm 2020, cả nước có 902,2 nghìn lao động trong độ tuổi thiếu việc làm, cao hơn nhiều so với các quý năm 2019 Tuy nhiên, so với các quý đầu năm 2020, tỷ lệ thiếu việc làm của lao động trong độ tuổi đã giảm mạnh, từ 3,08% trong quý II xuống còn 2,79% trong quý III và đạt 1,89% trong quý IV Điều này chứng tỏ, mặc dù vẫn chịu tác động tiêu cực của đại dịch Covid-19 nhưng thị trường lao động Việt Nam đã có những thay đổi tích cực, đặc biệt trong những tháng cuối năm khi nhu cầu lao động tăng lên phục vụ yêu cầu sản xuất hàng hóa phục vụ dịp lễ, Tết cuối năm
Tính chung năm 2020, số lao động trong độ tuổi thiếu việc làm là gần 1,2 triệu người, tăng 456,7 nghìn người so với năm 2019 Tỷ lệ thiếu việc làm của lao động trong độ tuổi là 2,51%, trong đó khu vực thành thị là 1,68%; khu vực nông thôn là 2,93% (năm 2019 tương ứng là 1,50%; 0,76%; 1,87%)
Tỷ lệ thiếu việc làm của lao động trong độ tuổi năm 2020 ở khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản là 4,68%, khu vực công nghiệp và xây dựng là 1,50%; khu vực dịch vụ là 1,74% (năm 2019 tương ứng là 3,45%; 0,43%; 0,87%) Mặc dù khu vực nông lâm nghiệp và thủy sản vẫn có tỷ lệ thiếu việc làm trong độ tuổi lao động năm 2020 cao nhất nhưng so với các năm trước, tỷ trọng lao động thiếu việc làm trong khu vực này đã giảm đi đáng kể (năm 2020: 53,7%, các năm trước khoảng 70%) Rõ ràng, sự bùng phát của đại dịch Covid-19
đã làm tình trạng thiếu việc làm lan rộng sang cả khu vực công nghiệp, xây dựng và dịch
vụ chứ không chỉ tập trung ở khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản như trước đây
So với năm 2019, thu nhập bình quân tháng của người lao động năm 2020 giảm ở cả ba khu vực kinh tế Thu nhập bình quân tháng từ công việc của người lao động quý IV năm
2020 đạt 5,7 triệu đồng, tăng 212 nghìn đồng so với quý trước và giảm 108 nghìn đồng so với cùng kỳ năm trước Thông thường, nếu không có cú sốc Covid-19, thu nhập của người lao động quý IV tăng khá cao so với các quý khác Quý IV năm 2019, thu nhập của người lao động là 5,8 triệu đồng, cao hơn quý III năm 2019 hơn 200 nghìn đồng và cao nhất so với các quý trong năm Năm 2020, trong bối cảnh ảnh hưởng của đại dịch Covid-19, thu nhập bình quân tháng của người lao động trong quý IV không những không duy trì được mức tăng trưởng như mọi năm mà còn giảm khá mạnh so với quý I và cùng kỳ năm trước
Trang 7Trong năm 2020, thu nhập bình quân của người lao động là 5,5 triệu đồng, giảm 2,3% so với năm 2019 (tương ứng giảm 128 nghìn đồng) Thu nhập của lao động ngành dịch vụ bị giảm sâu nhất, giảm 215 nghìn đồng; tiếp đến là ngành nông, lâm nghiệp và thủy sản, giảm
156 nghìn đồng Mức giảm thu nhập của lao động trong ngành công nghiệp và xây dựng là thấp nhất, giảm 100 nghìn đồng/người/tháng
Số người thất nghiệp trong độ tuổi lao động quý IV năm 2020 là gần 1,2 triệu người, giảm 60,1 nghìn người so với quý trước và tăng 136,8 nghìn người so với cùng kỳ năm trước
Tỷ lệ thất nghiệp trong độ tuổi lao động quý IV năm 2020 là 2,37%, giảm 0,13 điểm phần trăm so với quý trước và tăng 0,33 điểm phần trăm so với cùng kỳ năm trước Tỷ lệ này ở khu vực thành thị là 3,68%, giảm 0,32 điểm phần trăm so với quý trước và tăng 0,78 điểm phần trăm so với cùng kỳ năm trước Đại dịch Covid-19 đã làm tỷ lệ thất nghiệp của lao động trong độ tuổi khu vực thành thị quý IV năm 2020 cao nhất so với cùng kỳ trong vòng
10 năm qua
Tỷ lệ lao động không sử dụng hết tiềm năng năm 2020 của khu vực thành thị cao hơn khu vực nông thôn (5,5% so với 4,8%), của lao động nữ cao hơn lao động nam (5,5% so với 4,6%) Đa số lao động không sử dụng hết tiềm năng là những người dưới 35 tuổi (56,5%), trong khi đó lực lượng lao động dưới 35 tuổi chỉ chiếm 36,6% Điều này cho thấy Việt Nam vẫn còn một bộ phận không nhỏ lực lượng lao động tiềm năng chưa được khai thác, đặc biệt là nhóm lao động trẻ và trong bối cảnh dịch Covid-19 xuất hiện, việc tận dụng nhóm lao động này càng trở nên hạn chế
Mặc dù những nỗ lực khôi phục kinh tế đi đôi với phòng chống dịch đã phần nào cải thiện các gam màu xám của tình hình lao động việc làm trong nước, nhưng trong quý I năm 2021,
cả nước vẫn còn 9,1 triệu người từ 15 tuổi trở lên bị ảnh hưởng tiêu cực bởi dịch Covid-19 Trong đó, có 540.000 người mất việc, 2,8 triệu người phải tạm nghỉ, tạm ngừng sản xuất kinh doanh, 3,1 triệu người cho biết họ bị cắt giảm giờ làm hoặc buộc phải nghỉ việc, nghỉ luân phiên, có 6,5 triệu người bị giảm thu nhập Lao động khu vực thành thị chịu tác động nhiều hơn khu vực nông thôn với 15,6% lao động khu vực thành thị còn bị ảnh hưởng, trong khi đó con số này ở nông thôn là 10,4%
Xét theo khu vực kinh tế, khu vực ít chịu tác động nhất của đại dịch Covid-19 là nông, lâm
và thủy sản với 7,5% lao động bị ảnh hưởng, khu vực công nghiệp và xây dựng có 16,5% lao động bị ảnh hưởng, và khu vực dịch vụ có tới 20,4% lao động bị ảnh hưởng bởi dịch bệnh Sự lây lan của đại dịch Covid-19 trong cộng đồng đã khiến 19,9% lao động trong các
Trang 8cơ sở sản xuất kinh doanh và 19,0% lao động trong các doanh nghiệp/Hợp tác xã còn bị ảnh hưởng, chủ yếu là giảm thu nhập hoặc giảm giờ làm
Nhìn chung, những con số thống kê về tình hình lao động việc làm quý I năm 2021 đã phản ánh những khó khăn và biến động của nền kinh tế nói chung và thị trường lao động Việt Nam nói riêng trong thời gian qua
Số lao động từ 15 tuổi trở lên có việc làm các quý, giai đoạn 2019-2021
CÂU 2: CHÍNH PHỦ VIỆT NAM ĐÃ CÓ NHỮNG CHÍNH SÁCH KINH TẾ VĨ MÔ GÌ
ĐỂ ĐỐI PHÓ VỚI NHỮNG ẢNH HƯỞNG NÀY
Để hỗ trợ người dân và doanh nghiệp giảm gánh nặng khó khăn về kinh tế do tác động của dịch Covid-19, Việt Nam đã ban hành Nghị quyết số 42/2020/NĐ-CP “về các biện pháp hỗ trợ người dân gặp khó khăn do đại dịch Covid-19” Cụ thể: Hỗ trợ 250.000 đồng/người/tháng cho các hộ nghèo và cận nghèo; Tăng 500 nghìn đồng/người/tháng so với mức trợ cấp hàng tháng cho những người nhận trợ cấp xã hội hàng tháng; Hỗ trợ 1,8 triệu đồng/người/tháng cho người lao động phải nghỉ không lương do dịch Covid-19; Chi 1 triệu đồng/người/tháng cho người lao động thất nghiệp không được chi trả bảo hiểm thất nghiệp và người lao động tự doanh; Hỗ trợ
1 triệu đồng/hộ/tháng cho các hộ kinh doanh có doanh thu chịu thuế dưới 100 triệu đồng/tháng
Trang 9phải tạm ngừng kinh doanh trong kỳ giãn cách xã hội Ước tính hơn 10% dân số được hưởng lợi từ chương trình này Chính phủ thực hiện giảm giá điện tối đa 10% trong 3 tháng để hỗ trợ các DN và hộ gia đình ổn định cuộc sống, vượt qua khó khăn
Bên cạnh chính sách tài khóa, Ngân hàng Nhà nước (NHNN) đã thực hiện nới lỏng chính sách tiền tệ thông qua cắt giảm lãi suất cơ bản từ 0,5% đến 1%, giảm lãi suất tiền gửi ngắn hạn từ 0,25% đến 0,3% và giảm lãi suất cho vay ngắn hạn 0,5%; Tăng lãi suất dự trữ bắt buộc lên 0,2% Chính phủ đã công bố gói tín dụng trị giá 285 nghìn tỷ đồng (khoảng 3,8% GDP) cung ứng cho DN và hộ gia đình bị ảnh hưởng bởi đại dịch Tính đến giữa tháng 4/2020, các ngân hàng đã hỗ trợ hơn 600.000 khách hàng, với dư nợ khoảng 1.200 nghìn tỷ đồng, bằng cách phân lại nhóm nợ, miễn, giảm lãi cho các khoản nợ hiện có và gia hạn các khoản vay mới Thông qua Ngân hàng Chính sách xã hội cho các DN và người nghèo đủ điều kiện tiếp cận các khoản vay ưu đãi 16,2 nghìn tỷ đồng (tương đương 0,2% GDP) Ngân hàng Chính sách xã hội cũng đề xuất Chính phủ giảm 15% lãi suất vay đối với các hộ gia đình nghèo và 10% cho những đối tượng vay khác 10% bắt đầu từ ngày 1/4/2020 đến cuối năm 2020
Sau nhiều tháng lạm phát liên tục giảm, giá cả trong nước đã tăng trở lại do kết thúc thời gian
hỗ trợ giảm giá điện 10% và ảnh hưởng của nhu cầu trong nước tăng cao trong đợt Tết
Trong tháng 2/2021, chỉ số giá tiêu dùng (CPI) tăng 1,3% so với tháng trước và 0,7% so với cùng kỳ năm trước Giá cả đã tăng tốc trở lại sau nhiều tháng giảm tốc Chỉ số CPI tăng là do kết thúc thời gian hỗ trợ giảm giá điện (10%) và nhu cầu tiêu dùng cao hơn, đặc biệt là đối với lương thực, thực phẩm trong dịp Tết Trên thực tế, giá hàng ăn và dịch vụ ăn uống đã cao hơn 0,3% so với tháng trước và cao hơn 1,2% so với tháng 2/2020
Tăng trưởng tín dụng chững lại do các hoạt động kinh tế tạm dừng trong những ngày nghỉ Tết Tăng trưởng tín dụng duy trì ở mức 12,0% (so với cùng kỳ năm trước) trong tháng 2/2021, tương đương tốc độ ghi nhận trong những tháng gần đây Tỷ lệ tăng trưởng này chỉ thấp hơn 1-2 điểm phần trăm so với trước khủng hoảng COVID-19, phản ánh sự phục hồi của nền kinh
tế thực và chính sách tiền tệ nới lỏng của Ngân hàng Nhà nước
Chính sách tài khóa đang được điều chỉnh nhẹ do thu ngân sách được cải thiện trong hai tháng đầu năm 2021, trong khi chi ngân sách giảm do chậm triển khai các dự án đầu tư công Trong
2 tháng đầu năm 2021, Chính phủ thu ngân sách 286,7 nghìn tỷ đồng, cao hơn 0,6% so với cùng kỳ năm trước Kết quả tích cực này - lần đầu tiên tổng thu ngân sách nhà nước tăng kể từ đầu cuộc khủng hoảng COVID-19 một năm trước - phản ánh sự phục hồi kinh tế đang diễn ra
Trang 10và việc chấm dứt hầu hết các ưu đãi thuế được áp dụng từ tháng 4/2020 Về chi ngân sách, tổng chi giảm 6,0% so với cùng kỳ năm trước, xuống còn 207,3 nghìn tỷ đồng do đầu tư công thấp hơn, ước tính đạt 23,5 nghìn tỷ đồng và giảm 32,4% so với cùng kỳ năm trước Tỷ lệ giải ngân chỉ đạt 5,1% so với 7,4% trong 2 tháng đầu năm 2020 Chính phủ hiện đang thảo luận đề xuất của Bộ Tài chính về việc gia hạn thời hạn nộp thuế và tiền thuê đất đợt hai Tổng quy mô của gói hỗ trợ này ước tính khoảng 115 nghìn tỷ đồng (tương đương 5 tỷ USD) Nếu được thông qua và thực hiện tốt, chính sách này được kỳ vọng sẽ giúp các doanh nghiệp và hộ gia đình duy trì hoạt động kinh tế, đặc biệt là trong lĩnh vực du lịch vốn vẫn đang gặp nhiều khó khăn Kho bạc Nhà nước dự kiến vay 350 nghìn tỷ đồng trên thị trường nội địa vào năm 2021, với kỳ hạn bình quân gia quyền là 14,1 năm Trong 2 tháng đầu năm, Kho bạc Nhà nước đã vay tổng cộng
27 nghìn tỷ đồng, tương đương 7,7% kế hoạch năm Trái phiếu được phát hành hầu hết có kỳ hạn 10 năm và 15 năm Thanh khoản dồi dào giữ chi phí vay ở mức thấp, với lãi suất Trái phiếu Kho bạc kỳ hạn 10 năm vào ngày 17 tháng 2 là 2,17%, giống như trong tháng 1
CÂU 3: (Bonus) TRÌNH BÀY CƠ CHẾ ẢNH HƯỞNG CỦA NHỮNG CHÍNH SÁCH CAN THIỆP CỦA CHÍNH PHỦ, ĐÁNH GIÁ TÁC DỤNG PHỤ CÓ THỂ CÓ TRONG NGẮN HẠN VÀ DÀI HẠN
Ngay khi dịch bệnh bùng phát, cả hệ thống chính trị đã vào cuộc quyết liệt, cùng với sự đồng lòng, đoàn kết của toàn dân, toàn quân trong công tác phòng, chống dịch Chính phủ đã ban hành hàng loạt chính sách, trong đó chính sách tiền tệ đã khẳng định được vai trò lưu thông
“dòng máu” trong nền kinh tế, hỗ trợ DN vượt qua khó khăn, ổn định sản xuất
Trong thời kỳ dịch bệnh, mục tiêu ưu tiên hàng đầu của các chính sách, trong đó có chính sách tiền tệ là: Duy trì hoạt động của DN hạn chế tối đa tình trạng phá sản; Duy trì việc làm cho người lao động, hạn chế tình trạng thất nghiệp, mất thu nhập; Đảm bảo hệ thống ngân hàng - huyết mạch của nền kinh tế - duy trì được trạng thái ổn định, vận hành tốt, đủ năng lực vực dậy nền kinh tế sau dịch bệnh
Hiện nay, hầu hết DN hoạt động dựa vào các khoản vay được đảm bảo bằng doanh thu trong tương lai Khi nền kinh tế bị đóng cửa, nhiều DN phải ngừng hoạt động, nhưng những DN có các khoản vay vẫn phải trả nợ và lãi vay Nếu chính sách tiền tệ, chính sách lãi vay không trợ giúp thì dễ dẫn đến một làn sóng vỡ nợ, phá sản các DN và gây thảm họa cho thị trường tài chính và hệ thống các tổ chức tín dụng