1 TRƯỜNG ĐẠI HỌC KIẾN TRÚC THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH KHOA MỸ THUẬT CÔNG NGHIỆP Tiểu Luận LUẬT BẢN QUYỀN Tên đề tài NHỮNG VẤN ĐỀ PHÁP LÝ VÀ THỰC TIỄN VỀ VI PHẠM PHÁP LUẬT BẢN QUYỀN Giáo viên giảng dạy ĐỖ T[.]
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC KIẾN TRÚC THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
KHOA MỸ THUẬT CÔNG NGHIỆP
Tiểu Luận LUẬT BẢN QUYỀN
Trang 2BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Trường đại học Kiến Trúc TPHCM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc
BÀI THU HOẠCH KẾT THÚC HỌC PHẦN: LUẬT BẢN QUYỀN
Họ tên và chữ ký của cán bộ chấm
thi thứ 2
Ghi bằng số Ghi bằng chữ
Thành phố Hồ Chí Minh ngày 10 tháng 12 năm 2021
Sinh viên nộp bài
Ký tên
Trang 3
MỤC LỤC A Lời mở đầu 1
I Những vấn đề lý luận chung 2
1 Khái niệm 2
2 Các dạng vi phạm bản quyền 2
3 Dấu hiệu vi phạm bản quyền 3
4 Chế tài xử phạt 5
II Thực trạng vi phạm bản quyền 9
1 Thực trạng 9
2 Nguyên nhân 11
3 Thiệt hại phát sinh 13
III Giải pháp nhằm hạn chế vi phạm bản quyền 14
1 Hoàn thiện pháp luật 14
2 Giải pháp nhằm nâng cao nhận thức của sinh viên với vấn đề bản quyền 16
B Kết luận 18
C Tài liệu tham khảo 19
Trang 4Câu hỏi:
NHỮNG VẤN ĐỀ PHÁP LÝ VÀ THỰC TIỄN VỀ VI PHẠM PHÁP LUẬT BẢN QUYỀN
Trang 5I Những vấn đề lý luận chung
1 Khái niệm
Bản quyền là một thuật ngữ pháp lý được sử dụng để miêu tả quyền tác giả đối với các tác phẩm văn học và nghệ thuật của người đó Các tác phẩm thuộc phạm vi bản quyền bao gồm từ sách, nhạc, điêu khắc, phim chuyện, các dữ liệu máy tính, quảng cáo hay những bản vẽ kỹ thuật Bản quyền còn có thể được gọi là quyền tác giả
Vi phạm bản quyền, ăn cắp bản quyền hay lậu là việc sử dụng các tác phẩm được bảo vệ bởi luật bản quyền một cách trái phép, trừ khi có sự cho phép, theo đó vi phạm một số quyền độc quyền mà chỉ được cấp cho chủ bản quyền như quyền sao chép, phân phối, hiển thị hoặc thực hiện công việc được bảo vệ, hoặc để thực hiện các tác phẩm phái sinh
2 Các dạng vi phạm bản quyền
2.1 Đối với một tác phẩm:
- Sao chép nguyên văn một phần hay toàn bộ tác phẩm đã có từ trước nhưng không có giấy cho phép của người hay giới có bản quyền
Trang 6- Bản văn không bị sao chép nguyên văn nhưng toàn bộ ý tưởng chi tiết cũng như thứ tự trình bày của một tác phẩm bị sao chép Dạng vi phạm này khó phát hiện hơn nhưng vẫn có thể cho là một dạng vi phạm bản quyền nếu như có bằng chứng là "bản sao" bắt chước theo nguyên mẫu
- Bản văn không bị sao chép nguyên văn nhưng bị thông dịch lại các ý tưởng sáng tạo (thành ngôn ngữ khác hay thành các dạng khác)
2.2 Đối với một sáng chế:
- Sử dụng lại ý tưởng đã được công bố là sáng chế và bằng sáng chế nguyên thủy vẫn còn đang trong vòng hiệu lực của luật pháp Cần lưu rằng một bằng sáng chế tại một quốc gia hay địa phương này, sẽ khó có thể dùng để chứng minh rằng: một ứng dụng nào đó (dựa trên sáng chế đó) tại một quốc gia khác là vi phạm bản quyền, trừ khi bằng sáng chế
đã có sự công nhận của quốc tế
- Mô phỏng lại, hay viết lại (bằng một ngôn ngữ khác hay cách viết khác miêu tả của một ý kiến sáng tạo đã được công nhận là một sáng chế cò trong thời hạn định nghĩa bởi chủ quyền cũng là một dạng vi phạm bản quyền Dạng này tương đối khó phát hiện nhưng những dấu tích về cấu trúc ý tưởng hay phương cách dàn dựng kỹ thuật sẽ có thể là những dấu hiệu là vi phạm bản quyền nếu người viết lại đó mô phỏng theo ý tưởng đã được cấp bằng sáng chế
3 Dấu hiệu vi phạm bản quyền
Căn cứ vào Điều 5 Nghị định 105/2006/NĐ-CP có quy định về việc xâm
“Hành vi bị xem xét bị coi là hành vi xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ quy
Trang 7định tại các Điều 28, 35, 126, 127, 129 và 188 của Luật Sở hữu trí tuệ, khi
có đủ các căn cứ sau đây:
1 Đối tượng bị xem xét thuộc phạm vi các đối tượng đang được bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ
2 Có yếu tố xâm phạm trong đối tượng bị xem xét
3 Người thực hiện hành vi bị xem xét không phải là chủ thể quyền sở hữu trí tuệ và không phải là người được pháp luật hoặc cơ quan có thẩm quyền cho phép theo quy định tại các Điều 25, 26, 32, 33, khoản 2 và khoản 3 Điều 125, Điều 133, Điều 134, khoản 2 Điều 137, các Điều 145,
190 và 195 của Luật Sở hữu trí tuệ
4 Hành vi bị xem xét xảy ra tại Việt Nam
Hành vi bị xem xét cũng bị coi là xảy ra tại Việt Nam nếu hành vi đó xảy
ra trên mạng internet nhưng nhằm vào người tiêu dùng hoặc người dùng tin tại Việt Nam.”
Như vậy, ta có thể thấy, để được coi là xâm phạm bản quyền thì cần lưu
ý chỉ những đối tượng thuộc phạm vi được bảo hộ quyền tác giả mới là đối tượng bị xem xét để xác định có xâm phạm quyền tác giả hay không Ngoài ra, theo quy định tại khoản 1 Điều 7 Nghị định 105/2006/NĐ-CP thì yếu tố xâm phạm quyền tác giả được quy định như sau:
“1 Yếu tố xâm phạm quyền tác giả có thể thuộc một trong các dạng sau đây
a) Bản sao tác phẩm được tạo ra một cách trái phép;
b) Tác phẩm phái sinh được tạo ra một cách trái phép;
Trang 8c) Tác phẩm giả mạo tên, chữ ký của tác giả, mạo danh hoặc chiếm đoạt quyền tác giả;
d) Phần tác phẩm bị trích đoạn, sao chép, lắp ghép trái phép;
đ) Sản phẩm có gắn thiết bị kỹ thuật bảo vệ quyền tác giả bị vô hiệu hóa trái phép
Sản phẩm có yếu tố xâm phạm quy định tại khoản này bị coi là sản phẩm xâm phạm quyền tác giả.”
Như vậy, để biết một tác phẩm này có là bản sao của tác phẩm kia hay không thì cần có đủ căn cứ theo luật định và phải xem xét đến yếu tố so sánh giữa hai tác phẩm, thời gian phát hành…
4 Chế tài xử phạt
4.1 Chế tài hành chính:
Chế tài hành chính là khi có hành vi vi phạm thì cơ quan chức năng như thanh tra, công an, cơ quan hải quan sẽ tiến hành ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính, mức xử phạt vi phạm hành chính là phạt tiền
và có thể áp dụng các biện pháp bổ sung như tịch thu phương tiện, tiêu huỷ hàng hoá vi phạm Biện pháp hành chính được áp dụng để xử lý hành vi xâm phạm thuộc một trong các trường hợp được quy định tại Điều 211 của Luật Sở hữu trí tuệ 2005, theo yêu cầu của chủ thể quyền
sở hữu trí tuệ, tổ chức, cá nhân bị thiệt hại do hành vi xâm phạm gây
ra hoặc tổ chức, cá nhân phát hiện hành vi xâm phạm hoặc do cơ quan
có thẩm quyền chủ động phát hiện Luật Sở hữu trí tuệ 2005 quy định
về hình thức, mức phạt, thủ tục xử phạt, thẩm quyền và biện pháp khắc phục thiệt hại Các biện pháp hành chính được áp dụng nhằm xử lý hành vi xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ gồm: buộc chấm dứt hành vi
Trang 9xâm phạm và xử phạt hành chính, các biện pháp khắc phục hậu quả Trong những trường hợp được pháp luật quy định, có thể áp dụng các biện pháp ngăn chặn và bảo đảm xử phạt hành chính Mỗi hành vi xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ, người thực hiện hành vi bị buộc phải chấm dứt hành vi xâm phạm và phải chịu một trong các hình thức xử phạt chính: cảnh cáo, phạt tiền, trong đó, mức phạt tiền tối đa cho một hành
vi là 500 triệu đồng Ngoài ra, tùy theo tính chất, mức độ vi phạm, người
vi phạm còn có thể bị áp dụng hình thức phạt bổ sung như:
+ Tịch thu hàng hóa giả mạo về sở hữu trí tuệ, nguyên liệu, vật liệu, phương tiện được sử dụng chủ yếu để sản xuất, kinh doanh hàng hoá
+ Đình chỉ có thời hạn hoạt động kinh doanh trong lĩnh vực đã xảy ra
vi phạm
Về việc xử lý hành vi vi phạm bản quyền được quy định tại Điều 10 Nghị định 131/2013/NĐ-CP như sau:
Điều 10 Hành vi xâm phạm quyền bảo vệ sự toàn vẹn của tác phẩm
1 Phạt tiền từ 3.000.000 đồng đến 5.000.000 đồng đối với hành vi tự ý sửa chữa, cắt xén tác phẩm gây phương hại đến danh dự và uy tín của tác giả
2 Phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 10.000.000 đồng đối với hành vi xuyên tạc tác phẩm gây phương hại đến danh dự và uy tín của tác giả
3 Biện pháp khắc phục hậu quả:
a) Buộc cải chính công khai trên phương tiện thông tin đại chúng thông tin sai sự thật đối với hành vi quy định tại Khoản 1 và Khoản 2 Điều này;
Trang 10b) Buộc dỡ bỏ bản sao tác phẩm vi phạm dưới hình thức điện tử, trên môi trường Internet và kỹ thuật số hoặc buộc tiêu hủy tang vật vi phạm đối với hành vi quy định tại Khoản 1 và Khoản 2 Điều này
Như vậy, hành vi xâm phạm quyền bảo vệ sự toàn vẹn của tác phẩm sẽ bị
xử phạt từ 3.000.000 đồng đến 10.000.000 đồng và còn bị áp dụng hình phạt bổ sung như trên
Bên cạnh đó, tại Điều 18 Nghị định 131/2013/NĐ-CP cũng quy định về hành vi xâm phạm quyền sao chép tác phẩm như sau:
Điều 18 Hành vi xâm phạm quyền sao chép tác phẩm
1 Phạt tiền từ 15.000.000 đồng đến 35.000.000 đồng đối với hành vi sao chép tác phẩm mà không được phép của chủ sở hữu quyền tác giả
2 Biện pháp khắc phục hậu quả:
Buộc dỡ bỏ bản sao tác phẩm vi phạm dưới hình thức điện tử, trên môi trường Internet và kỹ thuật số hoặc buộc tiêu hủy tang vật vi phạm đối với hành vi quy định tại Khoản 1 Điều này
Do đó, hành vi sao chép tác phẩm khi chưa được sự đồng ý hay cho phép từ tác giả thì sẽ bị xử phạt từ 15.000.000 đồng đến 35.000.000 đồng
và bị áp dụng hình thức khắc phục hậu quả như trên
4.2 Chế tài dân sự
Chế tài dân sự là việc người bị vi phạm phải tiến hành khởi kiện vụ án
ra toà án có thẩm quyền để yêu cầu người vi phạm bồi thường thiệt hại, ngừng hành vi vi phạm Biện pháp này do chính chủ thể quyền áp dụng chứ không phải cơ quan quản lý nhà nước tiến hành Theo quy định tại Điều 202 Luật sở hữu trí tuệ 2005 (sửa đổi, bổ sung năm 2009), để xử lý
Trang 11tổ chức cá nhân có hành vi xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ, Tòa án có quyền áp dụng các biện pháp dân sự bao gồm:
4.3 Chế tài hình sự
Chế tài hình sự có thể được hiểu là các cơ quan chức năng khi phát hiện hành vi vi phạm sở hữu trí tuệ, nếu thấy hành vi đó là nguy hiểm cho
xã hội, thoả mãn các yếu tố cấu thành tội phạm thì cơ quan chức năng
sẽ khởi tố vụ án, tiến hành điều tra, truy tố và xét xử theo quy định của pháp luật hình sự và tố tụng hình sự Theo Điều 212 Luật Sở hữu trí tuệ năm 2005 (sửa đổi, bổ sung năm 2009), cá nhân thực hiện hành vi xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ có yếu tố cấu thành tội phạm thì bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo quy định của pháp luật hình sự Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) đã quy định về Tội xâm phạm quyền tác giả, quyền liên quan tại Điều 225 và Tội xâm phạm quyền sở hữu công nghiệp tại Điều 226 một cách cụ thể, trong đó đã quy định rõ khung giá trị vi phạm để áp dụng hình phạt
Trang 12II Thực trạng vi phạm bản quyền
1 Thực trạng
Ở Việt Nam, bản quyền/ quyền tác giả được quy định chi tiết trong Bộ Luật Dân sự 2005, Luật Sở hữu trí tuệ và Nghị định của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Bộ luật Dân sự, Luật Sở hữu trí tuệ về quyền tác giả và quyền liên quan Theo đó, bản quyền (quyền tác giả) là quyền của tổ chức, cá nhân đối với tác phẩm
do mình sáng tạo hoặc sở hữu, bao gồm các quyền: quyền nhân thân, quyền tài sản Những năm qua, tình trạng vi phạm bản quyền diễn ra
ở hầu hết các lĩnh vực với nhiều hình thức và mức độ khác nhau như trong lĩnh vực báo chí, xuất bản, âm nhạc, phát thanh truyền hình, biểu diễn, trên mạng internet… Có thể nói, sự phát triển nhanh chóng của công nghệ số và Internet đã mang đến sự tiện lợi cho người sử dụng nhưng đồng thời mở ra các lối đi khác cho nạn xâm phạm bản quyền ngày càng tinh vi và phức tạp hơn Mặc dù pháp luật Việt Nam hiện hành về cơ bản đã đáp ứng được các yêu cầu về bảo hộ quyền tác giả trong các điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên cũng như yêu cầu thực tiễn của Việt Nam, nhưng trên thực tế tình trạng xâm phạm quyền tác giả đặc biệt trong môi trường Internet tại Việt Nam hiện nay vẫn còn ở mức độ rất phổ biến
Ông Trần Văn Minh – Phó Chánh Thanh tra, Bộ Văn hóa – Thể thao
và Du lịch cho biết, “Tình trạng vi phạm quyền tác giả vẫn diễn ra phổ
biến, mặc dù Việt Nam đã đạt được nhiều bước tiến trong việc giảm tỷ lệ
vi phạm phần mềm máy tính tuy nhiên theo báo cáo của BSA vẫn còn đến 78% vi phạm” Không chỉ Việt Nam đây là vấn đề khắp nơi trên thế giới Theo báo cáo Điều tra Phần mềm Toàn cầu của BSA năm 2016, năm
Trang 132015, có tới 430 triệu mã độc được phát hiện, tăng so với 36% của năm
2014 Cứ 7 phút một lần, các tổ chức lại phải hứng chịu một hình thức tấn công bằng mã độc nào đó Hơn một nửa tỉ hồ sơ thông tin các nhân
bị đánh cắp hay bị mất do hành vi xâm phạm dữ liệu Tình trạng lách luật
vi phạm bản quyền không phải là tình trạng cá biệt ở Việt Nam mà còn
là tình trạng chung tại rất nhiều quốc gia Ví dụ tại Hàn Quốc, trong năm 2011, có khoảng 2,7 tỷ nội dung các loại hình sao chép lậu (online
và truyền thống), thất thoát khoảng 2,400 tỷ won Trong năm 2013, chỉ riêng việc sao chép lậu online đã chiếm khoảng 4000 tỷ won Tại Liên bang Nga, ước tính mỗi năm ngành công nghiệp điện ảnh Nga tổn thất hơn 4 tỷ USD do những hành vi vi phạm bản quyền cũng như phổ biến trái phép các bộ phim trên internet Nói đến chủ đề phim ảnh, đợt vừa qua Công an TP Hồ Chí Minh vừa khởi tố hình sự vụ án xâm phạm quyền tác giả liên quan đến trang web phimmoi.net Vụ việc gây rúng động bởi phimmoi.net không chỉ là trang web ngang nhiên vi phạm quyền sở hữu trí tuệ hàng nghìn bộ phim mà còn vì tầm ảnh hưởng là trang web đứng thứ 17 về lưu lượng truy cập tại Việt Nam Với 60-80 triệu lượt truy cập hàng tháng, những kẻ tổ chức và vận hành trang web này đã thu lợi bất chính từ quảng cáo (chủ yếu là trang web cờ bạc trực tuyến, khiêu dâm) lên đến hàng trăm tỷ đồng suốt chục năm trời tồn tại Thông qua số liệu trên có thể thấy được mức độ cung và cầu đối với vi phạm bản quyền đang ngày càng tăng cao Vậy lí do gì khiến cho việc vi phạm bản quyền tăng cao như vậy?
Trang 14Thứ hai, do điều kiện kinh tế – xã hội Những hộ kinh doanh nhỏ lẻ đều
có tư tưởng sử dụng sách lậu không vi phạm bản quyền tác giải, hay đa phần là đều vì lợi luận của mình Lợi dụng tình trạng ngày càng có nhiều cá nhân, tổ chức vi phạm pháp luật, không tôn trọng người tạo
ra tác phẩm, chủ sở hữu, tất cả đều vì mục tiêu lợi nhuận, sẵn sàng sao chép, xuất bản lậu các tác phẩm văn học, sách giáo khoa, giáo
Trang 15trình…Đây là một trong những nguyên nhân chính dẫn đến tình trạng xâm phạm quyền tác giả.Ngoài ra, đối với Việt Nam thì việc giá cả sử dụng hợp pháp bản quyền là khá cao so với thu nhập bình quân Thu nhập bình quân đầu người ở nước ta còn thấp, điều kiện kinh tế còn nhiều khó khăn, đặc biệt là những bạn học sinh, sinh viên, thường tìm đến những cuốn sách có giá thành thấp, sử dụng sách photocopy, sách lậu Đã tạo điều kiện cho các cá nhân tổ chức vi phạm pháp luật
Thứ ba, vấn đề thanh tra, kiểm tra cơ sở kinh doanh chưa được gắt gao Hay nếu có cũng chỉ là phạt hành chính nên việc sao chép vẫn tiếp tục diễn ra
Thứ tư, người tạo ra tác phẩm của mình chưa thực sự quan tâm bảo vệ tác phẩm của mình Hiện nay rất ít doanh nghiệp có bộ phận chuyên chăm lo về sở hữu trí tuệ, hầu như chưa có doanh nghiệp nào có chiến lược về sở hữu trí tuệ, coi trọng vấn đề sở hữu trí tuệ là bộ phận trong chiến lược phát triển của mình Tài sản trí tuệ chưa trở thành đối tượng quản lý như quản lý tài sản thông thường để cho tình trạng này ngày một tăng cao, gây ra nhiều tổn thất, thiệt hại
Thứ tư, việc bảo hộ quyền tác giả, quyền liên quan với những đối tượng trên môi trường internet cũng gặp một số khó khăn chung như các môi trường khác như người được pháp luật bảo hộ (tác giả/chủ sở hữu quyền tác giả) không có đủ chứng cứ để chứng minh mình là tác giả/chủ
sở hữu tác phẩm được bảo hộ, không có hiểu biết cụ thể về quyền của mình cũng như cách thức bảo vệ cho quyền của mình hoặc chưa thật sự quyết tâm bảo vệ quyền của mình; tổ chức, cá nhân thực thi pháp luật cũng chưa thực sự có trách nhiệm cao trong việc thực thi nghĩa vụ của mình trong phát hiện, trong ngăn chặn hoặc trong việc giải quyết yêu