1. Trang chủ
  2. » Tất cả

Thẩm quyền xét xử và luật áp dụng đối với các giao dịch có đối tượng là bất động sản so sánh các quy định của pháp luật việt nam với một số nước trên thế giới

13 0 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Thẩm quyền xét xử và luật áp dụng đối với các giao dịch có đối tượng là bất động sản so sánh các quy định của pháp luật Việt Nam với một số nước trên thế giới
Tác giả Nguyễn Ngọc Phương Uyên
Người hướng dẫn PGS.TS Ngô Quốc Chiến
Trường học Đại Học Quốc Gia Hà Nội
Chuyên ngành Luật học
Thể loại Bài tiểu luận
Năm xuất bản 2021
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 13
Dung lượng 518,91 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

0 0 ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI KHOA LUẬT 0 0 BÀI TIỂU LUẬN MÔN HỌC TƯ PHÁP QUỐC TẾ ĐỀ TÀI THẨM QUYỀN XÉT XỬ VÀ LUẬT ÁP DỤNG ĐỐI VỚI CÁC GIAO DỊCH CÓ ĐỐI TƯỢNG LÀ BẤT ĐỘNG SẢN SO SÁNH CÁC QUY ĐỊNH CỦA PHÁ[.]

Trang 1

0

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

KHOA LUẬT -0-0 -

BÀI TIỂU LUẬN MÔN HỌC: TƯ PHÁP QUỐC TẾ

ĐỀ TÀI: THẨM QUYỀN XÉT XỬ VÀ LUẬT ÁP DỤNG ĐỐI

VỚI CÁC GIAO DỊCH CÓ ĐỐI TƯỢNG LÀ BẤT ĐỘNG SẢN

SO SÁNH CÁC QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT VIỆT NAM VỚI

MỘT SỐ NƯỚC TRÊN THẾ GIỚI

Họ và tên : Nguyễn Ngọc Phương Uyên

Giảng viên : PGS.TS Ngô Quốc Chiến

Hà Nội – 2021

Trang 2

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 2

I Tổng quan về giao dịch có đối tượng là bất động sản 2

1.1 Bất động sản là gì? 2

1.2 Giao dịch có đối tượng là bất động sản là gì? 3

II Thẩm quyền xét xử đối với giao dịch có đối tượng là bất động sản 3

2.1 Thế nào là “đối tượng là bất động sản” 3

2.2 Thẩm quyền xét xử đối với giao dịch có đối tượng là bất động sản theo pháp luật Việt Nam 5

2.3 So sánh pháp luật về thẩm quyền xét xử của Việt Nam với một số nước trên thế giới về giao dịch có đối tượng là bất động sản 7

2.4 Ý nghĩa của việc xác định thẩm quyền xét xử giao dịch có đối tượng là bất động sản 8

III Luật áp dụng đối với các giao dịch có đối tượng là bất động sản 9

3.1 Quy định của pháp luật Việt Nam về luật áp dụng đối với các giao dịch có đối tượng là bất động sản 9

3.2 So sánh quy định về luật áp dụng của Việt Nam đối với các giao dịch có đối tượng là bất động sản với một số nước trên thế giới 9

3.3 Ý nghĩa của việc xác định pháp luật áp dụng của giao dịch có đối tượng là bất động sản 10

KẾT LUẬN 11

TÀI LIỆU THAM KHẢO 12

Trang 3

MỞ ĐẦU

Hiện nay, với sự phát triển của nền kinh tế, thị trường kinh doanh bất động sản đã

và đang phát triển rất sôi động, mạnh mẽ Hoạt động này mang lại những tiềm năng lớn trong kinh doanh nhưng theo đó cũng ẩn chứa rất nhiều sự rủi ro Điển hình là các vụ án tranh chấp có đối tượng là bất động sản ngày càng nhiều, đa dạng Việc giải quyết cũng gặp nhiều khó khăn bởi giá trị giao dịch ở đây thường khá lớn và quan hệ giao dịch phức tạp Bên cạnh đó, vì tính chất đặc thù của tài sản là bất động sản mà thực tiễn xử lý cũng gặp nhiều trở ngại nhất định khi có tranh chấp xảy ra

Điều này đòi hỏi phải có cơ chế hữu hiệu về mặt pháp lí và những vấn đề liên quan đến thẩm quyền giải quyết tranh chấp để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của các bên khi tham gia vào các quan hệ tố tụng dân sự tại các cơ quan tài phán của nước mình Khi giải quyết các vụ việc dân sự có yếu tố nước ngoài thường xảy ra xung đột về thẩm quyền hay xung đột pháp luật là điều không thể tránh khỏi của mỗi quốc gia Và tranh chấp có đổi tượng là bất động sản cũng không ngoại lệ

Với mong muốn hiểu rõ hơn về thẩm quyền và luật áp dụng khi xảy ra tranh chấp

có đối tượng là bất đổng sản, em chọn đề tài “Thẩm quyền xét xử và luật áp dụng đối với

các giao dịch có đối tượng là bất động sản So sánh các quy định của pháp luật Việt Nam với một số nước trên thế giới” cho tiểu luận cuối kỳ môn học tư pháp quốc tế Bài

tiểu luận tập trung phân tích quy định pháp luật của Việt Nam về thẩm quyền xét xử và luật áp dụng đối với các giao dịch có đối tượng là bất động sản, đồng thời so sánh quy

định đó với hai nước trên thế giới

I Tổng quan về giao dịch có đối tượng là bất động sản

1.1 Bất động sản là gì?

“Bất động sản” là tài sản1 Bất động sản bao gồm đất đai, nhà ở, công trình xây dựng gắn liền với đất đai, kể cả các tài sản gắn liền với nhà ở, công trình xây dựng đó; các tài sản khác gắn liền với đất đai; các tài sản khác do pháp luật quy định.2

1 Điều 105 Bộ luật dân sự 2015

2 Khoản 1 Điều 107 Bộ luật dân sự 2015

Trang 4

Theo “Từ điển thuật ngữ tài chính” thì “Bất động sản là một miếng đất và tất cả

các tài sản vật chất gắn liền với đất” Như vậy, bất động sản trước hết là tài sản nhưng

khác với các tài sản khác là nó không di dời được Theo cách hiểu này, bất động sản bao gồm đất đai và những tài sản gắn liền với đất đai, không tách rời với đất đai, được xác định bởi vị trí địa lý của đất

1.2 Giao dịch có đối tượng là bất động sản là gì?

Các giao dịch về bất động sản hiện được quy định bởi nhiều Luật và Văn bản hướng dẫn khác nhau cho các đối tượng khác nhau, trong đó hai Luật liên quan nhất bao gồm Luật nhà ở số 65/2014/QH13 quy định về nhà ở, và Luật kinh doanh bất động sản số 66/2014/QH13 quy định về kinh doanh bất động sản Hai văn bản này đều có hiệu lực thi hành từ ngày 1/7/2015

Các tranh chấp về bất động sản là các tranh chấp có đối tượng là bất động sản hay

là tranh chấp về quyền của các bên đối với bất động sản như: Quyền chiếm hữu, quyền

sử dụng, quyền định đoạt đối với bất động sản Ví dụ như tranh chấp ai là người có quyền

sử dụng đất; Tranh chấp ai là chủ sở hữu nhà; Tranh chấp đòi lại nhà đất bị chiếm hữu trái phép; Tranh chấp về các quyền khác đối với bất động sản…

Nếu các đương sự tranh chấp với nhau về thừa kế quyền sử dụng đất, chia tài sản chung của vợ chồng là quyền sử dụng đất; về việc thực hiện hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất, hợp đồng mua bán nhà, hợp đồng cho thuê nhà như: Đòi tiền chuyển nhượng, tiền phạt vi phạm hợp đồng thì không phải là tranh chấp về bất động sản mà là tranh chấp có liên quan đến bất động sản.3

II Thẩm quyền xét xử đối với giao dịch có đối tượng là bất động sản

2.1 Thế nào là “đối tượng là bất động sản”

Có một ví dụ như sau: A cho B thuê nhà, trong hợp đồng, B cam kết sẽ trả tiền nhà đúng hạn và đầy đủ theo thỏa thuận của hợp đồng

3 Điểm b, Khoản 3, Điều 8 Nghị quyết số 05/2012/NQ-HĐTP

Trang 5

Trường hợp đầu tiên là B không trả tiền nhà đúng hạn cho A như đã cam kết dẫn đến hai bên xảy ra tranh chấp và đưa nhau ra tòa Như vậy, theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, đối tượng tranh chấp trong trường hợp này là việc thực hiện nghĩa vụ thanh toán của bên thuê đối với bên cho thuê trong hợp đồng Do đó, Tòa án nơi có bất động sản sẽ không có thẩm quyền xét xử trong trường hợp này

Trường hợp hai là sau khi đã hết thời hạn đăng ký, B không trả lại nhà cho A dẫn đến tranh chấp Hiện nay trên quốc tế tồn tại hai quan điểm: Quan điểm thứ nhất cho rằng cũng tương tự như trường hợp vi phạm nghĩa vụ thanh toán nêu trên, đây là vi phạm nghĩa vụ trả lại nhà nên đối tượng tranh chấp không phải là bất động sản mà đối tượng tranh chấp ở đây chỉ là hành vi trả lại nhà thuê cho người cho thuê Quan điểm thứ hai ngược lại xác định đây chính là trường hợp đối tượng tranh chấp là bất động sản - là căn nhà cho thuê.4

Em ủng hộ quan điểm thứ hai A và B đang xảy ra xung đột vì cả hai nghĩ mình đều có thẩm quyền với căn nhà này, vậy nên tranh chấp này liên quan trực tiếp đến đối tượng là căn nhà Vậy nên ở trường hợp thứ hai chính là tranh chấp mà có đối tượng là bất động sản

Có một quy định khá mới mẻ mà trước đây chưa tồn tại tại Bộ luật dân sự năm

2005 đã được quy định tại khoản 2 Điều 106 bộ luật dân sự năm 2015: “Tài sản bao gồm

bất động sản và động sản Bất động sản và động sản có thể là tài sản hiện có và tài sản hình thành trong tương lai” Bất động sản hình thành trong tương lai là những tài sản

đang trong quá trình xây dựng Tại thời điểm ký kết hợp đồng mua bán, người mua chỉ được tiếp cận hồ sơ pháp lý của dự án hoặc tham khảo qua nhà mẫu để hình dung về tài sản của mình.5 Ví dụ A cần mua một căn nhà, A ký với B một hợp đồng mua bán nhà, căn nhà này tại thời điểm ký hợp đồng chưa tồn tại Nếu A không thực hiện đúng nghĩa

vụ với B thì trường hợp này cũng chỉ coi là không thực hiện đúng nghĩa vụ với B Do

4 Th.S Thanh Hoa – Th.S Hồ Bích Hằng (2016), “Sửa đổi về thẩm quyền của Tòa án theo lãnh thổ quy định tại

Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015”, Tạp chí Khoa học pháp lý Việt Nam, 06(100)/2016, tr.42

5 Nhadathungthinh.net (2019), “Hiểu biết đúng về bất động sản hình thành trong tương lai?”,

http://nhadathungthinh.net/thong-tin-phap-ly/hieu-biet-dung-ve-bat-dong-san-hinh-thanh-trong-tuong-lai/ , truy cập ngày 17/1/2022

Trang 6

đây không phải là tranh chấp có đối tượng là bất động sản vì tại thời điểm xảy ra tranh chấp căn nhà còn chưa được hình thành Trong trường hợp này, Tòa án có thẩm quyền xét xử là tòa án nơi bị đơn cư trú (hoặc nguyên đơn nếu có thỏa thuận) chứ không phải Tòa án nơi có bất động sản

2.2 Thẩm quyền xét xử đối với giao dịch có đối tượng là bất động sản theo pháp luật Việt Nam

2.2.1 Thẩm quyền xét xử của Tòa án

Quy định của Điều 470 Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015 về vụ án dân sự có liên quan đến quyền đối với tài sản là bất động sản có trên lãnh thổ Việt Nam thì sẽ thuộc thẩm quyền riêng biệt của Tòa án Việt Nam

“Thẩm quyền xét xử riêng biệt” là việc quốc gia sở tại tuyên bố chỉ có Tòa án nước

họ mới có thẩm quyền xét xử đối với một số vụ án nhất định Nếu tòa án nước khác vẫn tiến hành xét xử đối với những vụ việc thuộc thẩm quyền xét xử riêng biệt, hậu quả là bản án, quyết định được tuyên bởi tòa án nước khác sẽ không được công nhận, cho thi hành tại quốc gia sở tại

Quy định này là hoàn toàn hợp lý và phù hợp với thông lệ quốc tế Hầu hết pháp luật các quốc gia và các Điều ước quốc tế đều quy định những vụ án dân sự có liên quan đến bất động sản đều thuộc thẩm quyền riêng biệt của quốc gia nơi có bất động sản Bởi

vì, theo nguyên tắc chung, tranh chấp về bất động sản sẽ thuộc thẩm quyền của Tòa án nơi có bất động sản Bởi lẽ, bất động sản là một tài sản gắn liền với đất không thể dịch chuyển được và thông thường các giấy tờ, tài liệu liên quan đến bất động sản sẽ do cơ quan nhà đất hoặc chính quyền địa phương nơi có bất động sản đó lưu giữ Hay có thể nói, bất động sản không chỉ liên quan đến lợi ích của các đương sự mà còn liên quan đến lợi ích cộng đồng quốc gia Mặt khác, bất động sản chịu sự quản lý nhà nước chặt chẽ

Do vậy, nhà làm luật quy định “chỉ có Tòa án nơi có bất động sản mới có thẩm

quyền giải quyết” là nhằm giúp cho Tòa án có điều kiện thuận lợi trong việc giải quyết

vụ án Rõ ràng, việc thu thập chứng cứ, xác minh nguồn gốc, giấy tờ về bất động sản, cũng như việc lấy ý kiến, triệu tập cơ quan nhà nước quản lý nhà đất trong cùng địa phương thì sẽ thuận lợi hơn nhiều so với thực hiện ở địa phương khác

Trang 7

Có thể tiếp tục với ví dụ trên, khi A và B xảy ra tranh chấp về căn nhà, chỉ có Tòa

án nơi có căn nhà cho thuê tọa lạc (nơi có bất động sản) có thẩm quyền giải quyết là thuận lợi nhất về lãnh thổ để giúp Tòa án xem xét chứng cứ, tài liệu liên quan đến căn nhà Hơn nữa cho đến khi bản án có hiệu lực và việc thi hành trên thực tế thuộc thẩm quyền của cơ quan thi hành án cùng cấp với Tòa án đã xét xử sơ thẩm là thuận lợi nhất

đề triển khai việc cưỡng chế thi hành án (nếu có)

2.2.2 Thẩm quyền xét xử của Trọng tài

Hoạt động hòa giải là là giai đoạn bắt buộc trong quá trình giải quyết vụ án dân sự

do chính Tòa án chủ trì và tiến hành Nếu hòa giải thành thì Tòa án sẽ lập biên bản hòa giải thành, hết 07 ngày mà các bên đương sự không thay đổi ý kiến thì tranh chấp chính thức kết thúc Nếu hòa giải không thành thì Tòa án quyết định đưa vụ án ra xét xử Với tính chất là một phương thức giải quyết tranh chấp lựa chọn, trọng tài sẽ có thẩm quyền giải quyết các loại tranh chấp phát sinh nếu các bên có thỏa thuận trọng tài

và tranh chấp đó thuộc phạm vi thẩm quyền giải quyết của trọng tài Theo Điều 2 Luật Trọng tài thương mại năm 2010 thì trọng tài có thẩm quyền giải quyết các tranh chấp như sau:

(1) Tranh chấp giữa các bên phát sinh từ hoạt động thương mại;

(2) Tranh chấp phát sinh giữa các bên trong đó ít nhất một bên có hoạt động thương mại;

(3) Tranh chấp khác giữa các bên mà pháp luật quy định được giải quyết bằng trọng tài

Có thể thấy, Điều 2 Luật Trọng tài thương mại năm 2010 đã tạo ra những cách hiểu khác nhau về phạm vi thẩm quyền của trọng tài Đối với quy định khoản 2 Điều 2 Luật Trọng tài thương mại năm 2010, tác giả có cùng quan điểm rằng, dù quan hệ tranh chấp không phát sinh từ hoạt động thương mại của cả hai bên, nhưng trong quan hệ tranh chấp có một bên hoạt động thương mại và hành vi trong giao dịch của chủ thể này là hành vi thương mại hoặc tranh chấp đó có liên quan đến hoạt động thương mại của họ thì mới

thuộc thẩm quyền của trọng tài, phù hợp với tên gọi là “Luật Trọng tài thương mại” Tức

Trang 8

là yếu tố “hoạt động thương mại” hướng đến nội dung quan hệ tranh chấp, mà không

hướng đến chủ thể quan hệ tranh chấp.6

Luật Nhà ở năm 2014 không ghi nhận thẩm quyền của trọng tài giải quyết các tranh chấp phát sinh liên quan đến nhà ở Theo khoản 2 Điều 177 Luật Nhà ở năm 2014:

“Tranh chấp về quyền sở hữu, quyền sử dụng nhà ở thuộc sở hữu của tổ chức, cá nhân,

tranh chấp liên quan đến hợp đồng về nhà ở, hợp đồng quản lý vận hành nhà chung cư

do Tòa án nhân dân giải quyết theo quy định của pháp luật” Tuy nhiên, Khoản 1 Điều

14 Bộ luật Dân sự năm 2015 mở rộng phạm vi thẩm quyền của trọng tài giải quyết các loại việc dân sự Cá nhân, tổ chức được quyền lựa chọn Tòa án hoặc trọng tài để yêu cầu bảo vệ quyền dân sự bị xâm phạm hoặc khi có tranh chấp phát sinh Điều này là phù hợp với pháp luật và thực tiễn trọng tài các nước vốn chỉ nhấn mạnh tiêu chí thỏa thuận, nghĩa là khi có thỏa thuận của các bên chọn trọng tài thì trọng tài sẽ có thẩm quyền giải quyết

2.3 So sánh pháp luật về thẩm quyền xét xử của Việt Nam với một số nước trên thế giới về giao dịch có đối tượng là bất động sản

Có thể nói, mỗi quốc gia đều có một nguyên tắc xác định thẩm quyền giải quyết của Tòa án riêng, nhưng về vấn đề giao dịch có đối tượng là bất động sản, các quốc gia đều quy định rằng tranh chấp này thuộc về thẩm quyền riêng biệt của tòa án quốc gia nơi

có bất động sản

Theo pháp luật Nhật Bản thì Tòa án Nhật Bản có thể thực hiện thẩm quyền đối với các yêu cầu khởi kiện liên quan đến bất động sản đặt tại Nhật Bản Đặc biệt, một khiếu nại liên quan đến việc đăng ký bất động sản tại Nhật Bản sẽ thuộc thẩm quyền riêng biệt của Tòa án Nhật Bản

Mặc dù nhìn qua hai điều luật của Việt Nam và Nhật Bản có vẻ đều giống nhau là bất động sản sẽ thuộc thẩm quyền riêng biệt của Tòa án nơi có bất động sản và cùng phù hợp với quốc tế, tuy nhiên thực chất pháp luật của Việt Nam có phạm vi điều chỉnh đối

6 ThS LS Cao Anh Nguyên (2019), “Thẩm quyền giải quyết tranh chấp của trọng tài trong lĩnh vực bất động

sản”, https://thegioiluat.vn/bai-viet-hoc-thuat/Tham-quyen-giai-quyet-tranh-chap-cua-trong-tai-trong-linh-vuc-bat-dong-san-11607/ , truy cập ngày 17/1/2022

Trang 9

tượng của giao dịch có đối tượng là bất động sản rộng hơn Trong khi, pháp luật Việt Nam quy định chỉ cần tranh chấp có đối tượng là bất động sản sẽ thuộc thẩm quyền riêng biệt của Tòa án nhưng pháp luật Nhật Bản lại có quy định hẹp hơn Chỉ những “khiếu nại liên quan đến việc đăng ký bất động sản” mới thuộc thẩm quyền riêng biệt của Tòa

án còn lại không được quy định

Cũng giống vậy, Bộ luật Tố tụng Dân sự Liên bang Nga quy định các trường hợp Tòa án Liên Bang Nga có thẩm quyền riêng biệt đối với các tranh chấp dân sự liên quan

đến bất động sản tại điểm 1 khoản 1 Điều 403 của Bộ luật quy định: “Vụ việc liên quan

đến quyền đối với bất động sản nằm trên lãnh thổ Liên Bang Nga” thuộc thẩm quyền

riêng biệt của Tòa án Liên bang Nga.7

2.4 Ý nghĩa của việc xác định thẩm quyền xét xử giao dịch có đối tượng là bất động sản

Thực tế cho thấy các môi giới bất động sản ít khi giao dịch tại nơi có bất động sản

mà thường giao dịch ở những nơi khác Khi xảy ra tranh chấp việc xác định thẩm quyền thụ lý, giải quyết của Tòa án là hết sức cần thiết, tránh để xảy ra tình trạng kéo dài thời gian giải quyết vụ, việc dân sự.8

Việc nghiên cứu thẩm quyền giải quyết vụ án dân sự tranh chấp về bất động sản có

ý nghĩa quan trọng Nó giúp nguyên đơn xác định được tòa án nào có thẩm quyền giải quyết tranh chấp bất động sản của họ Thông qua đó, vụ án dân sự tranh chấp về bất động sản sẽ được giải quyết nhanh chóng vì nguyên đơn không mất nhiều thời gian để nộp đơn khởi kiện

Trên hết, xác định về thẩm quyền giải quyết vụ án dân sự tranh chấp về bất động sản giúp tỏa án nhân dân ở các địa phương khác nhau, các cấp khác nhau phối hợp tốt trong việc giải quyết vụ án, không gây chồng chéo về thẩm quyền cũng như chức năng xét xử giữa các tòa án

7 Vũ Thị Hương (2019), “Thẩm quyền riêng biệt của tòa án Việt Nam đối với vụ việc dân sự có yếu tố nước ngoài

dưới góc nhìn so sánh”, Tạp chí pháp luật và thực tiễn số 40/2019

8 Tạp chí Tòa án nhân dân điện tử (2021), “Vướng mắc về thẩm quyền giải quyết tranh chấp hợp đồng của Tòa

án theo lãnh thổ”, https://tapchitoaan.vn/bai-viet/nghien-cuu/vuong-mac-ve-tham-quyen-giai-quyet-tranh-chap-hop-dong-cua-toa-an-theo-lanh-tho , truy cập ngày 17/1/2022

Trang 10

III Luật áp dụng đối với các giao dịch có đối tượng là bất động sản

3.1 Quy định của pháp luật Việt Nam về luật áp dụng đối với các giao dịch có đối tượng là bất động sản

Trường hợp giao dịch có đối tượng là bất động sản thì pháp luật áp dụng đối với việc chuyển giao quyền sở hữu, quyền khác đối với tài sản là bất động sản, thuê bất động sản hoặc việc sử dụng bất động sản để bảo đảm thực hiện nghĩa vụ là pháp luật của nước nơi có bất động sản Có thể hiểu đơn giản là bất động sản đang tồn tại ở nước nào thì pháp luật nước đó sẽ được áp dụng để điều chỉnh các quan hệ như trên

Sở dĩ như vậy bởi bất động sản là một loại tài sản đặc biệt, luôn gắn liền với đất đai, mà đất đai lại là một phần thiêng liêng của lãnh thổ, không thể sinh sôi vì vậy quy chế pháp lý dành cho loại tài sản này ở hầu hết các nước đều có sự chặt chẽ hơn và phần lớn các nước đều quy định các vấn đề liên quan đến bất động sản đều phải tuân thủ pháp luật của nước nơi có bất động sản

Quy định này của Việt Nam không mới so với các quy định truyền thống trong lĩnh vực này của thế giới cũng như với truyền thống lập pháp của Việt Nam Tuy nhiên cách tiếp cận rõ ràng, minh bạch và cụ thể của điều luật này lại là mới, trước đây trong quy

định tương tự của Điều 766 bộ luật dân sự 2005 trước đây quy định “hợp đồng liên quan

đến bất động sản ở Việt Nam phải tuân theo pháp luật Việt Nam” Việc sử dụng cụm từ

“hợp đồng liên quan đến bất động sản” thực sự rất chung chung và mơ hồ, thực tế để

chứng minh thế nào là liên quan chắc chắn không phải điều dễ dàng Nay Bộ luật dân sự

năm 2015 quy định rõ hợp đồng có “đối tượng là bất động sản” vừa cụ thể, chính xác,

vừa tránh gây tranh cãi

Quy định như vậy ngoài việc đảm bảo sự phù họp với thông lệ quốc tế, phù hợp với chính sách pháp luật chung của quốc gia, bảo vệ lợi ích của nhà nước và của các bên trong quan hệ mà còn đảm bảo việc thực thi các phán quyết của các cơ quan có thẩm quyền được thuận lợi, nhanh chóng

3.2 So sánh quy định về luật áp dụng của Việt Nam đối với các giao dịch có đối tượng là bất động sản với một số nước trên thế giới

Ngày đăng: 24/02/2023, 12:54

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w