BỘ XÂY DỰNG TRƯỜNG ĐẠI HỌC ĐẠI HỌC KIẾN TRÚC THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH KHOA MỸ THUẬT CÔNG NGHIỆP TIỂU LUẬN KẾT THÚC HỌC PHẦN LUẬT BẢN QUYỀN Đề tài HỢP ĐỒNG CHUYỂN QUYỀN SỬ DỤNG QUYỀN TÁC GIẢ VÀ QUYỀN LIÊN[.]
Trang 1BỘ XÂY DỰNG TRƯỜNG ĐẠI HỌC ĐẠI HỌC KIẾN TRÚC
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH -KHOA MỸ THUẬT CÔNG NGHIỆP-
-
TIỂU LUẬN KẾT THÚC HỌC PHẦN LUẬT BẢN QUYỀN Đề tài HỢP ĐỒNG CHUYỂN QUYỀN SỬ DỤNG QUYỀN TÁC GIẢ VÀ QUYỀN LIÊN QUAN NHỮNG VẤN ĐỀ PHÁP LÝ VÀ THỰC TIỄN GIÁO VIÊN HƯỚNG DẪN
ThS Đỗ Tuấn Việt
Trang 2
MỤC LỤC
PHẦN MỞ ĐẦU
1 Đặt vấn đề
2 Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4 Ý nghĩa đề tài
CHƯƠNG I : CƠ SỞ PHÁP LÝ
1.1 Luật sở hữu trí tuệ
1.2 Quyền tác giả, quyền liên quan đến quyền tác giả
1.3 Chuyển quyền sử dụng quyền tác giả, quyền liên quan
1.4 Hợp đồng sử dụng quyền tác giả, quyền liên quan
1.4.1 Hợp đồng sử dụng quyền tác giả, quyền liên quan
2.2 Thực trạng khai thác, sử dụng quyền tác giả, quyền liên quan
2.3 Thực trạng khai thác sử dụng quyền tác giả của các tổ chức quản lý
Trang 3PHẦN MỞ ĐẦU
1 Đặt vấn đề
Trong bối cảnh hội nhập kinh tế và cạnh tranh toàn cầu hiện nay, vấn đề bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ trở nên đặc biệt quan trọng và trở thành mối quan tâm hàng đầu trong quan hệ kinh tế quốc tế Từ khi Việt Nam trở thành thành viên chính thức của Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO), vấn đề bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ, chống sản xuất, buôn bán hàng giả ngày càng được quan tâm, chú ý hơn Tuy nhiên, thực tế cũng cho thấy, tình trạng xâm phạm sở hữu trí tuệ ở nước ta hiện nay vẫn khá phổ biến và ngày càng phức tạp Công tác tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật về quyền sở hữu trí tuệ nói chung và quyền tác giả, quyền liên quan nói riêng còn chưa sâu rộng, chưa kịp thời, không thường xuyên; việc thực thi pháp luật trong lĩnh vực này còn nhiều bất cập
Rất nhiều người chưa hiểu rõ, chưa biết về sở hữu trí tuệ nói chung và quyền tác giả, quyền liên quan nói riêng Thống kê của cơ quan quản lý chuyên môn cho thấy rất ít tác phẩm văn hoá - nghệ thuật của các tác giả trên cả nước được đăng ký bản quyền sở hữu trí tuệ Đây cũng là hạn chế khiến cho các tác giả muốn “đi kiện” đòi quyền lợi khi bản quyền bị xâm phạm thì sẽ gặp khó về cơ sở pháp lý
Bất cứ ai sáng tác ra một tác phẩm bằng công sức và sự sáng tạo của mình đều
có quyền chính đáng đối với sản phẩm đó và được pháp luật tôn trọng Khi tác phẩm được sáng tạo ra thì mong muốn của tác giả, chủ sở hữu là những sản phẩm do họ làm
ra được truyền tải tới công chúng càng nhiều càng tốt Điều này không những mang lại cho họ lợi ích về vật chất mà còn mang lại một lợi ích tinh thần vô cùng lớn lao
Để thực hiện được điều đó một cách thuận lợi và hiệu quả lại không làm mất đi quyền độc quyền sử dụng đối với các quyền tài sản, chủ sở hữu quyền tác giả, quyền liên quan có thể thông qua những người khác để thực hiện việc sử dụng đối tượng của mình Và phải tuân thủ dựa trên cơ sở thỏa thuận giữa chủ sở hữu quyền tác giả, quyền liên quan với bên sử dụng quyền tác giả, quyền liên quan thông qua “Hợp đồng sử dụng quyền tác giả, quyền liên quan”
“Hợp đồng sử dụng quyền tác giả, quyền liên quan” là một loại hợp đồng quan trọng được quy định trong luật Sở hữu trí tuệ sẽ tạo một môi trường thuận lợi để cá nhân, tổ chức tham gia vào hoạt động sáng tạo các tác phẩm văn học, nghệ thuật, khoa học, tổ chức cuộc biểu diễn, sản xuất băng ghi âm, ghi hình, chương trình phát sóng… Ngoài ra, hợp đồng sử dụng quyền tác giả, quyền liên quan còn góp phần bảo vệ quyền lợi cho bên sử dụng, cũng như tăng cường hoạt động kiểm tra, giám sát của Nhà nước đối với hoạt động sử dụng các đối tượng của quyền tác giả nói riêng và quyền sở hữu trí tuệ nói chung
Bài tiểu luận nghiên cứu về Hợp đồng chuyển quyền sử dụng quyền tác giả, quyền liên quan gồm những vấn đề pháp lý, những điều cần nắm rõ về việc ký kết hợp đồng cũng như lợi ích và hạn chế mà hợp đồng mang lại Và một số vấn đề thực tiễn
về quyền tác giả, quyền liên quan Việt Nam Từ đó có những giải pháp và rút ra bài học để có thể bảo vệ quyền lợi của bản thân trong quyền sở hữu trí tuệ nói chung và
Trang 4quyền tác giả, quyền liên quan nói riêng
2 Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu
Mục đích nghiên cứu: Trên cơ sở pháp lý về luật Sở hữu trí tuệ để có những hiểu biết toàn diện và bảo vệ quyền lợi của bản thân trong quyền sở hữu trí tuệ nói chung và quyền tác giả, quyền liên quan nói riêng
Nhiệm vụ nghiên cứu: Tiểu luận nêu rõ những vấn đề pháp lý về hợp đồng chuyển quyền sử dụng quyền tác giả, quyền liên quan và một số vấn đề liên quan khác
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu: Hợp đồng chuyển quyền sử dụng quyền tác giả, quyền liên quan trong luật Sở hữu trí tuệ
Phạm vi nghiên cứu: Luật sở hữu trí tuệ 2005 đã sửa đổi, bổ sung 2009 và thực trạng về vấn đề quyền tác giả, quyền liên quan tại Việt Nam
4 Ý nghĩa đề tài
Qua đề tài giúp ta có những hiểu biết toàn diện hơn về hợp đồng sử dụng quyền tác giả, quyền liên quan nói riêng và quyền sở hữu trí tuệ nói chung Từ đó, có những biện pháp bảo vệ quyền lợi của cá nhân, tập thể
CHƯƠNG I : CƠ SỞ PHÁP LÝ 1.1 Luật sở hữu trí tuệ
Luật sở hữu trí tuệ Việt Nam, được Quốc hội Việt Nam khóa XI trong kỳ họp thứ 8 thông qua ngày 29 tháng 11 năm 2005 và có hiệu lực vào ngày 1 tháng
7 năm 2006, là luật quy định về quyền tác giả, quyền liên quan đến quyền tác giả; quyền sở hữu công nghiệp; quyền đối với giống cây trồng và việc bảo hộ các quyền đó
1.2 Quyền tác giả, quyền liên quan đến quyền tác giả
“Quyền tác giả”, “quyền liên quan đến quyền tác giả” là hai đối tượng riêng biệt trong quyền sở hữu trí tuệ
1.2.1 Khái niệm
Theo quy định tại Khoản 2 Điều 4 Luật Sở hữu trí tuệ năm 2005 đã sửa đổi, bổ sung 2009: “Quyền tác giả là quyền của tổ chức, cá nhân đối với tác phẩm do mình sáng tạo ra hoặc sở hữu.” Tác giả là người trực tiếp sáng tạo ra một phần hoặc toàn bộ tác phẩm văn học, nghệ thuật và khoa học
Theo quy định tại Khoản 3 Điều 4 Luật Sở hữu trí tuệ năm 2005 đã sửa đổi, bổ sung 2009: “Quyền liên quan đến quyền tác giả (được gọi là quyền liên quan) là quyền của tổ chức, cá nhân đối với buổi biểu diễn, bản ghi âm, ghi hình, tín hiệu vệ tinh, chương trình phát sóng được mã hóa.”
Quyền tác giả bảo hộ tác phẩm của tác giả đó, trong khi quyền liên quan là quyền được trao cho một nhóm người vì vai trò quan trọng của họ đối với việc truyền
bá, và làm phổ biến một số loại hình tác phẩm đến với công chúng
Ví dụ: Đối với một bài hát, quyền tác giả bảo hộ phần nhạc của nhạc sĩ, cũng như phần ca từ của người viết lời và quyền liên quan sẽ được áp dụng đối với:
Trang 5- Phần biểu diễn của nhạc công, ca sỹ trình bày bài hát đó
- Bản ghi âm/ghi hình bài hát đó của nhà sản xuất
- Chương trình phát sóng của nhà sản xuất chương trình chứa bài hát đó
1.2.2 Chủ thể
Đối với quyền tác giả gồm:
- Người sáng tạo trực tiếp ra tác phẩm (tác giả)
- Tác giả của tác phẩm phái sinh
- Chủ sở hữu của quyền tác giả
Đối với quyền liên quan đến quyền tác giả gồm:
- Diễn viên, nhạc công, vũ công, ca sĩ và những người khác trình bày tác phẩm nghệ thuật, văn học (người biểu diễn)
- Tổ chức, cá nhân là chủ sở hữu buổi biểu diễn
- Tổ chức và cá nhân định hình lần đầu hình ảnh, âm thanh của cuộc biểu diễn hoặc các âm thanh, hình ảnh khác (nhà sản xuất bản ghi âm, ghi hình)
- Tổ chức khởi xướng, thực hiện việc phát sóng (tổ chức phát sóng)
1.2.3 Đối tượng
Đối với quyền tác giả gồm:
- Tác phẩm sáng tạo trong lĩnh vực nghệ thuật, văn học và khoa học như sách, bài giảng, tác phẩm âm nhạc, tác phẩm sân khấu, tác phẩm điện ảnh, tác phẩm tạo hình và mỹ thuật ứng dụng, tác phẩm nhiếp ảnh, tác phẩm kiến trúc, phần mềm máy tính hay tác phẩm thể hiện bằng bất kỳ phương tiện hay hình thức nào khác
- Tác phẩm phái sinh: là tác phẩm được dịch từ ngôn ngữ này sang ngôn ngữ
khác, tác phẩm phóng tác, chuyển thể, cải biên, biên soạn, chú giải, tuyển chọn
Mọi cá nhân đều có quyền sáng tạo văn học, nghệ thuật, khoa học và khi cá nhân tạo ra tác phẩm trí tuệ, không phụ thuộc vào giá trị nội dung và nghệ thuật đều có quyền tác giả đối với tác phẩm
Pháp luật về quyền tác giả không bảo hộ hình thức thể hiện dưới dạng nào đó mà không phản ánh hay không chứa đựng nội dung nhất định Tác phẩm phải do tác giả trực tiếp thực hiện bằng lao động trí tuệ của mình mà không phải sao chép từ tác phẩm của người khác
Những nội dung thể hiện trong tác phẩm đi ngược lại lợi ích dân tộc, bôi nhọ vĩ nhân, xúc phạm danh dự, nhân phẩm của người khác, có nội dung trái pháp luật, đạo đức xã hội… sẽ không được bảo hộ
Đối với quyền liên quan đến quyền tác giả gồm:
- Cuộc biểu diễn:
+ Do người nước ngoài thực hiện tại Việt Nam
+ Được nhà sản xuất bản ghi âm, ghi hình định hình trên bản ghi âm, ghi hình + Chưa được định hình trên bản ghi âm, ghi hình mà đã được phát sóng bởi tổ chức phát sóng hoặc người khác nếu được tổ chức phát sóng đồng ý
Trang 6+ Được bảo hộ theo điều ước quốc tế mà Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam
là thành viên
- Bản ghi âm, ghi hình:
+ Của nhà sản xuất bản ghi âm, ghi hình được bảo hộ theo điều ước quốc tế mà Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên
- Chương trình phát sóng, tín hiệu vệ tinh mang chương trình đã được mã hóa:
+ Của tổ chức phát sóng được bảo hộ theo điều ước quốc tế mà Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên
Lưu ý: Cuộc biểu diễn, bản ghi âm, ghi hình, chương trình phát sóng, tín hiệu
vệ tinh mang chương trình được mã hoá trong các trường hợp trên chỉ được bảo hộ với điều kiện không gây phương hại đến quyền tác giả
1.2.4 Căn cứ phát sinh, xác lập quyền
- Đối với quyền tác giả:
Quyền tác giả có phát sinh kể từ khi tác phẩm được sáng tạo và được thể hiện dưới hình thức vật chất nhất định, không phân biệt nội dung, hình thức, cải biên, phương tiện, ngôn ngữ, đã công bố hay chưa công bố, đã đăng ký hay chưa được đăng
Tuy nhiên, trên thực tế vẫn còn tồn tại thủ tục đăng ký, việc đăng ký hay không
sẽ do những chủ thể của quyền đó lựa chọn Ý nghĩa của đăng ký đem lại đó là đây sẽ
là chứng cứ rõ ràng và thuyết phục khi có tranh chấp xảy ra Việc đăng kí quyền tác giả không phải là căn cứ làm phát sinh quyền tác giả, mà chỉ có giá trị là chứng cứ chứng minh của đương sự khi có tranh chấp về quyền tác giả và một bên khởi kiện tại toà án nhân dân hoặc yêu cầu cơ quan nhà nước có thẩm quyền giải quyết
- Đối với quyền liên quan đến quyền tác giả:
Quyền liên quan đến quyền tác giả có phát sinh kể từ khi cuộc biểu diễn, bản ghi âm, ghi hình, tín hiệu vệ tinh, chương trình phát sóng, mang chương trình được mã hoá được định hình hoặc là thực hiện mà không gây phương hại đến quyền tác giả
Quyền liên quan cũng được bảo hộ mà không cần đăng ký Tuy nhiên, đối tượng quyền liên quan đến tác giả không phải là các tác phẩm văn học nghệ thuật giống như quyền tác giả
1.2.5 Đặc điểm
Quyền tác giả:
- Bảo hộ hình thức sáng tạo
Trang 7- Bảo hộ dựa theo cơ chế tự động (không cần phải làm thủ tục đăng ký như các đối tượng quyền sở hữu trí tuệ khác)
- Bảo hộ cần mang tính nguyên gốc, tức tự sáng tạo ra chứ không phải tạo nên do
sao chép,
Quyền liên quan đến quyền tác giả:
- Đây là quyền phái sinh vì quyền liên quan đến quyền tác giả được dựa trên quyền gốc đó là quyền tác giả (tạo ra dựa trên tác phẩm đã tồn tại trước đó)
- Bảo hộ mang tính nguyên gốc, tức tự bản thân sáng tạo ra chứ không phải tạo nên do sao chép,
- Tồn tại song song với quyền tác giả, đảm bảo điều kiện là không gây phương hại đến quyền tác giả
1.2.6 Nội dung quyền
Quyền tác giả bao gồm 2 quyền là quyền nhân thân và quyền tài sản:
- Quyền nhân thân gồm các quyền:
Tác giả không đồng thời là chủ sở hữu tác phẩm có các quyền nhân thân đối với tác phẩm mà mình sáng tạo gồm: đặt tên cho tác phẩm; đứng tên thật hoặc bút danh trên tác phẩm; bảo vệ sự toàn vẹn tác phẩm, cho phép hoặc không cho phép người khác sửa đổi nội dung của tác phẩm
Chủ sở hữu tác phẩm không đồng thời là tác giả có các quyền nhân thân đối với tác phẩm gồm: công bố, phổ biến hoặc cho người khác công bố, phổ biến tác phẩm thuộc
sở hữu của mình, trừ trường hợp giữa tác giả và chủ sở hữu có thỏa thuận khác; cho hoặc không cho người khác sử dụng tác phẩm thuộc quyền sở hữu của mình, trừ trường hợp giữa tác giả và chủ sở hữu có thoả thuận khác (Điều 19 Luật Sở hữu trí tuệ
2005 sửa đổi, bổ sung 2009, Điều 21 Nghị định 22/2018/NĐ-CP)
- Quyền tài sản gồm:
+ Đối với tác giả đồng thời là chủ sở hữu tác phẩm có các quyền như được hưởng nhuận bút; được hưởng thù lao khi tác phẩm được sử dụng; được hưởng lợi ích vật chất từ việc cho người khác sử dụng tác phẩm dưới các hình thức như xuất bản, tái bản, trưng bày, triễn lãm, biểu diễn, phát thanh, truyền hình, ghi âm, ghi hình, chụp ảnh; dịch, phóng tác, cải biên, chuyển thể, cho thuê; được nhận giải thuởng đối với tác phẩm mà mình là tác giả
+ Đối với tác giả không đồng thời là chủ sở hữu tác phẩm có các quyền tài sản
Trang 8đối với tác phẩm mà mình là tác giả gồm: được hưởng nhuận bút; được hưởng thù lao khi tác phẩm được sử dụng; được nhận giải thưởng đối với tác phẩm mà mình là tác giả
+ Chủ sở hữu không đồng thời là tác giả được hưởng lợi ích vật chất từ việc sử dụng tác phẩm dưới các hình thức xuất bản, tái bản, trưng bày, triển lãm, biểu diễn, phát thanh, truyền hình, ghi âm, ghi hình, chụp ảnh; dịch, phóng tác, cải biên, chuyển thể, cho thuê (Điều 22 Luật Sở hữu trí tuệ 2005 sửa đổi, bổ sung năm 2009, Điều 21 Nghị định 22/2018/NĐ-CP)
Quyền liên quan đến quyền tác giả:
năm 2009):Người biểu diễn đồng thời là chủ đầu tư thì có các quyền nhân thân
và các quyền tài sản đối với cuộc biểu diễn; trong trường hợp người biểu diễn không đồng thời là chủ đầu tư thì người biểu diễn có các quyền nhân thân và chủ đầu tư có các quyền tài sản đối với cuộc biểu diễn
+ Quyền nhân thân của người biểu diễn: Được giới thiệu tên khi có biểu diễn, khi phát hành bản ghi âm, phát sóng, ghi hình, cuộc biểu diễn; bảo vệ sự toàn vẹn hình tượng biểu diễn, không cho người khác cắt xén, sửa chữa hoặc xuyên tạc dưới bất kỳ hình thức nào gây phương hại đến danh dự, uy tín của người biểu diễn
+ Quyền tài sản, gồm có độc quyền thực hiện hoặc cho phép người khác thực hiện các quyền sau đây: Định hình cuộc biểu diễn trực tiếp của mình trên bản
đến công chúng cuộc biểu diễn của mình chưa được định hình mà công chúng
có thể tiếp cận được, trừ trường hợp cuộc biểu diễn đó nhằm mục đích phát
thông qua hình thức bán, cho thuê hoặc phân phối bằng bất kỳ phương tiện kỹ thuật nào mà công chúng có thể tiếp cận được
Lưu ý: Tổ chức, cá nhân khai thác, sử dụng các quyền tài sản phải trả tiền thù lao cho người biểu diễn theo quy định của pháp luật hoặc theo thoả thuận trong trường hợp pháp luật không quy định
- Quyền của nhà sản xuất bản ghi âm, ghi hình (Điều 30 Luật Sở hữu trí tuệ 2005sửa đổi, bổ sung năm 2009):
+ Nhà sản xuất bản ghi âm, ghi hình có độc quyền thực hiện hoặc cho phép người khác thực hiện các quyền sau: Sao chép trực tiếp hoặc gián tiếp bản ghi
âm, ghi hình của mình; Nhập khẩu, phân phối đến công chúng bản gốc và bản sao bản ghi âm, ghi hình của mình thông qua hình thức bán, cho thuê hoặc phân phối bằng bất kỳ phương tiện kỹ thuật nào mà công chúng có thể tiếp cận được
Trang 9Lưu ý: Nhà sản xuất bản ghi âm, ghi hình được hưởng quyền lợi vật chất khi bản ghi âm, ghi hình của mình được phân phối đến công chúng
- Quyền của tổ chức phát sóng (Điều 31 Luật Sở hữu trí tuệ 2005 sửa đổi, bổ sung năm 2009):
+ Tổ chức phát sóng có độc quyền thực hiện hoặc cho phép người khác thực hiện các quyền sau đây: Phát sóng, tái phát sóng chương trình phát sóng của mình; Phân phối đến công chúng chương trình phát sóng của mình; Định hình chương trình phát sóng của mình; Sao chép bản định hình chương trình phát sóng của mình
Lưu ý: Tổ chức phát sóng được hưởng quyền lợi vật chất khi chương trình phát sóng của mình được ghi âm, ghi hình, phân phối đến công chúng
1.2.7 Thời hạn bảo hộ
Quyền tác giả:
- Quyền nhân thân: vô thời hạn bảo hộ
- Quyền nhân thân về công bố tác phẩm:
+ Tác phẩm điện ảnh, mỹ thuật ứng dụng, nhiếp ảnh tác phẩm khuyết danh: Trường hợp 1: Đã công bố, có thời hạn bảo hộ là 75 năm, kể khi tác phẩm được công bố lần đầu tiên
Trường hợp 2: Chưa công bố, đối với tác phẩm chưa được công bố trong thời hạn 25 năm, kể từ khi tác phẩm được định hình thì thời hạn bảo hộ là 100 năm và kể từ khi tác phẩm được định hình
+ Tác phẩm có loại hình còn lại có thời gian bảo hộ là suốt cuộc đời tác giả và
50 năm tiếp theo năm tác giả chết; trường hợp tác phẩm có đồng tác giả thì thời hạn được bảo hộ chấm dứt vào năm thứ 50 sau năm đồng tác giả cuối cùng chết
Lưu ý: Thời hạn bảo hộ chấm dứt vào thời điểm 24 giờ ngày 31/12 của năm chấm dứt thời hạn bảo hộ các quyền tác giả
Quyền liên quan đến quyền tác giả:
- Quyền của người biểu diễn được bảo hộ 50 năm được tính từ năm tiếp theo năm cuộc biểu diễn được định hình
- Quyền nhà sản xuất bản ghi âm, ghi hình được:
+ Bảo hộ 50 năm tính từ năm tiếp theo của năm công bố
+ Bảo hộ 50 năm kể từ năm tiếp theo năm bản ghi âm, ghi hình được định hình nếu là bản ghi âm, ghi hình chưa được công bố
- Quyền của tổ chức phát sóng được bảo hộ 50 năm tính từ năm tiếp theo của
năm chương trình phát sóng được thực hiện
Lưu ý: Thời hạn bảo hộ chấm dứt vào thời điểm 24 giờ ngày 31/12 của năm chấm dứt thời hạn bảo hộ các quyền liên quan
Thời hạn bảo hộ quyền liên quan ngắn hơn so với quyền tác giả Quyền tác giả và quyền liên quan sẽ được bảo hộ có thời hạn Khi hết hạn chúng sẽ không được bảo hộ nữa và được xem là thuộc về sở hữu công cộng
Trang 101.3 Chuyển quyền sử dụng quyền tác giả, quyền liên quan
Chuyển quyền sử dụng quyền tác giả, quyền liên quan là việc chủ sở hữu quyền tác giả, chủ sở hữu quyền liên quan cho phép tổ chức, cá nhân khác sử dụng có thời hạn một, một số hoặc toàn bộ các quyền:
- Quyền công bố tác phẩm hoặc cho phép người khác công bố tác phẩm
- Quyền tài sản đối với tác phẩm
- Quyền tài sản của người biểu diễn
- Quyền tài sản bao gồm độc quyền thực hiện hoặc cho phép người khác thực hiện các quyền sau đây:
+ Làm tác phẩm phái sinh
+ Định hình cuộc biểu diễn trực tiếp của mình trên bản ghi âm, ghi hình
+ Sao chép trực tiếp hoặc gián tiếp cuộc biểu diễn của mình đã được định hình trên bản ghi âm, ghi hình
+ Phát sóng hoặc truyền theo cách khác đến công chúng cuộc biểu diễn của mình chưa được định hình mà công chúng có thể tiếp cận được, trừ trường hợp cuộc biểu diễn đó nhằm mục đích phát sóng
+ Phân phối đến công chúng bản gốc và bản sao cuộc biểu diễn của mình thông qua hình thức bán, cho thuê hoặc phân phối bằng bất kỳ phương tiện kỹ thuật nào mà công chúng có thể tiếp cận được
- Quyền của nhà sản xuất bản ghi âm, ghi hình
2 Tác giả không được chuyển quyền sử dụng các quyền nhân thân quy định tại Điều 19, trừ quyền công bố tác phẩm; người biểu diễn không được chuyển quyền sử dụng các quyền nhân thân quy định tại khoản 2 Điều 29 của Luật này
3 Trong trường hợp tác phẩm, cuộc biểu diễn, bản ghi âm, ghi hình, chương trình phát sóng có đồng chủ sở hữu thì việc chuyển quyền sử dụng quyền tác giả, quyền liên quan phải có sự thoả thuận của tất cả các đồng chủ sở hữu; trong trường hợp có đồng chủ sở hữu nhưng tác phẩm, cuộc biểu diễn, bản ghi âm, ghi hình, chương trình phát sóng có các phần riêng biệt có thể tách ra sử dụng độc lập thì chủ sở hữu quyền tác giả, chủ sở hữu quyền liên quan có thể chuyển quyền sử dụng quyền tác giả, quyền liên quan đối với phần riêng biệt của mình cho tổ chức, cá nhân khác
4 Tổ chức, cá nhân được chuyển quyền sử dụng quyền tác giả, quyền liên quan
có thể chuyển quyền sử dụng cho tổ chức, cá nhân khác nếu được sự đồng ý của chủ
Trang 11sở hữu quyền tác giả, chủ sở hữu quyền liên quan
Như vậy, chuyển quyền sử dụng quyền tác giả, quyền liên quan theo quy định của pháp luật thì quyền sử dụng quyền tác giả, quyền liên quan phải tuân thủ theo quy định của pháp luật hiện hành để đảm bảo quyền lợi và thực hiện đầy đủ nghĩa vụ khi chuyển giao quyền liên quan cho người khác Việc chuyển quyền sử dụng quyền tác giả, quyền liên quan phải có sự đồng ý của tác giả để tránh những tranh chấp về sau thì nên thực hiện tuân thủ đúng quy định này
1.4 Hợp đồng sử dụng quyền tác giả, quyền liên quan
1.4.1 Hợp đồng sử dụng quyền tác giả, quyền liên quan
Hợp đồng sử dụng quyền tác giả, quyền liên quan là sự thỏa thuận giữa các bên
mà theo đó bên chuyển giao cho phép cá nhân, tổ chức (bên sử dụng) sử dụng một hoặc một số quyền nhân thân, quyền tài sản thuộc quyền tác giả, quyền liên quan trong một thời hạn nhất định
Cũng như hợp đồng chuyển nhượng quyền tác giả, quyền liên quan, hợp đồng
sử dụng quyền tác giả, quyền liên quan cũng phải có sự thỏa thuận thống nhất ý chí giữa các bên Tuy nhiên, nếu trong hợp đồng chuyển nhượng quyền tác giả, quyền liên quan, bên được chuyển nhượng trở thành chủ sở hữu của các quyền được chuyển giao
và có quyền chuyển nhượng các quyền đó cho người khác thì trong hợp đồng sử dụng quyền tác giả mục đích thỏa thuận của các bên là nhằm chuyển giao một hoặc một số quyền nhân thân, quyền tài sản cho bên sử dụng được sử dụng trong thời hạn nhất định
Hợp đồng sử dụng quyền tác giả, quyền liên quan sẽ tạo một môi trường thuận lợi để cá nhân, tổ chức tham gia vào hoạt động sáng tạo các tác phẩm văn học, nghệ thuật, khoa học, tổ chức cuộc biểu diễn, sản xuất băng ghi âm, ghi hình, chương trình phát sóng… Ngoài ra, hợp đồng sử dụng quyền tác giả, quyền liên quan còn góp phần bảo vệ quyền lợi cho bên sử dụng, cũng như tăng cường hoạt động kiểm tra, giám sát của Nhà nước đối với hoạt động sử dụng các đối tượng của quyền tác giả nói riêng và quyền sở hữu trí tuệ nói chung
Để chuyển quyền sử dụng quyền tác giả, quyền liên quan thì chủ sở hữu cần
lập Hợp đồng sử dụng quyền tác giả hoặc Hợp đồng sử dụng quyền liên quan Các
quy định chung về hợp đồng sử dụng quyền tác giả, quyền liên quan được quy định tại Điều 48, Luật sở hữu trí tuệ 2005 đã sửa đổi, bổ sung 2009
Điều 48 Hợp đồng sử dụng quyền tác giả, quyền liên quan
1 Hợp đồng sử dụng quyền tác giả, quyền liên quan phải được lập thành văn bản gồm những nội dung chủ yếu sau đây:
a) Tên và địa chỉ đầy đủ của bên chuyển quyền và bên được chuyển quyền b) Căn cứ chuyển quyền
c) Phạm vi chuyển giao quyền
d) Giá, phương thức thanh toán
đ) Quyền và nghĩa vụ của các bên
e) Trách nhiệm do vi phạm hợp đồng