ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI KHOA LUẬT TIỂU LUẬN TƯ PHÁP QUỐC TẾ Đề tài Mối quan hệ giữa thẩm quyền riêng biệt của Tòa án Việt Nam và thẩm quyền của Trọng tài thương mại (trong nước và nước ngoài) Thẩm quy[.]
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT
TIỂU LUẬN
TƯ PHÁP QUỐC TẾ
Đề tài: Mối quan hệ giữa thẩm quyền riêng biệt của Tòa án Việt Nam
và thẩm quyền của Trọng tài thương mại (trong nước và nước ngoài) Thẩm quyền riêng biệt của Tòa án Việt Nam có loại trừ thẩm quyền
của trọng tài không?
Giảng viên chính: PGS.TS Ngô Quốc Chiến
Họ tên sinh viên: Nguyễn Đức Hoàng
Mã sinh viên: 18061334
Lớp học phần: INL2006 4
Hà Nội - Năm 2022
Trang 2Mục lục
MỞ ĐẦU 2
NỘI DUNG 3
I.Khái niệm thẩm quyền 3
II.Thẩm quyền riêng biệt của Tòa án Việt Nam 4
III.Thẩm quyền của Trọng tài thương mại Việt Nam và trọng tài thương mại quốc tế 7
1.Khái niệm trọng tài thương mại quốc tế 7
2.Thẩm quyền trọng tài thương mại 7
3.Cơ chế pháp lý giải quyết tranh chấp bằng trọng tài thương mại 8
IV Mối quan hệ giữa thẩm quyền riêng biệt của Tòa án Việt Nam và thẩm quyền của Trọng tài thương mại 10
KẾT LUẬN 13
TÀI LIỆU THAM KHẢO 14
Trang 3MỞ ĐẦU 1.Lý do lựa chọn đề tài
Hội nhập kinh tế quốc tế là một quá trình hợp tác và phân công mang tính quốc tế hoá cao Có hợp tác và có phân công thì cũng có những sự kiện làm gián đoạn, làm phát sinh tranh chấp và phải dùng đến quyền lực của cơ quan tư pháp của mỗi quốc gia để xem xét, giải quyết các tranh chấp (xét xử), là tiền đề và tất yếu dẫn đến sự hợp tác giữa các quốc gia trong lĩnh vực tư pháp Đối tượng điều chỉnh của Tư pháp quốc tế là những quan hệ dân sự
có yếu tố nước ngoài Những vụ việc có sự liên quan của hai hay nhiều nước khác nhau đều
có sự tham gia của Trọng tài thương mại và Tòa án Toà án, Trọng tài thương mại là các phương thức giải quyết tranh chấp thương mại bổ sung lẫn nhau Thực tế hoạt động của các Trung tâm Trọng tài thương mại cần có sự phối hợp của Toà án Điều này dẫn đến một mối quan hệ mật thiết giữa Tòa án và Trọng tài thương mại
2.Mục đích
Mục đích của bài nghiên cứu dưới đây nhằm làm rõ hơn mối quan hệ giữa thẩm quyền riêng biệt của Tòa án Việt Nam và thẩm quyền của Trọng tài thương mại quốc tế cũng như Trọng tài thương mại Việt Nam
3.Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu chính là thẩm quyền riêng biệt của Tòa án Việt Nam và thẩm
quyền của Trọng tài thương mại quốc tế, Trọng tài thương mại Việt Nam
4.Phương pháp nghiên cứu
Bài nghiên cứu dưới đây có sử dụng những phương pháp nghiên cứu sau:
Phương pháp phân tích
Phương pháp tổng hợp
Phương pháp so sánh
Trang 4NỘI DUNG I.Khái niệm thẩm quyền
Theo từ điển luật học của Pháp thuật ngữ thẩm quyền được hiểu là khả năng mà pháp luật trao cho cơ quan công quyền (autorite publique) hoặc cơ quan tài phán (Juridiction) thực hiện công việc nhất định hoặc thẩm cứu và xét xử một vụ kiện
Theo từ điển của Mỹ thẩm quyền được hiểu là một khả năng cơ bản và tối thiểu để cơ quan công quyền xem xét và giải quyết một việc gì theo pháp luật
Thẩm quyền gắn liền với quyền và nhiệm vụ mà pháp luật quy định cho cơ quan nhà nước, người nắm giữ những chức vụ lãnh đạo, quản lí trong các cơ quan đó để thực hiện chức năng và nhiệm vụ của họ Thẩm quyền của mỗi cơ quan và cá nhân được phân định theo lĩnh vực, ngành, khu vực hành chính, cấp hành chính Trong mỗi ngành, thẩm quyền được phân định theo chức năng, nhiệm vụ của ngành như thẩm quyền của Toà án nhân dân
là xét xử Tuy nhiên, một loại việc có thể thuộc thẩm quyền của một hoặc nhiều cơ quan, cá nhân trong các ngành, cấp khác nhau
Trong pháp luật hiện hành của Việt Nam, thuật ngữ “thẩm quyền” thường được sử dụng trong các cụm từ như: “thẩm quyền xét xử”, “thẩm quyền điều tra” “cơ quan có thẩm quyền”, “người có thẩm quyền”, “cấp có thẩm quyền”, “thẩm quyền của Toà án nhân dân”,
“thẩm quyền của Viện kiểm sát nhân dân”, thẩm quyền của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân”
Thẩm quyền là tổng thể các quyền và nghĩa vụ được trao cho các chủ thể nhất định để
áp dụng giải quyết các vấn đề cụ thể nào đó trong phạm vi quản lý của họ Mỗi chủ thể là cá nhân hoặc tổ chức chỉ được giao những thẩm quyền và được thực hiện các thẩm quyền đó trong phạm vi nhất định Và nội dung thẩm quyền của tất cả các chủ thể trong tất cả các lĩnh vực thì đều phải do pháp luật quy định, không một chủ thể nào được quyền tạo ra “thẩm quyền riêng” mà vượt ra khỏi phạm vi pháp luật quy định Đây không chỉ là quyền của các chủ thể mà nó còn là nghĩa vụ, bắt buộc phải thực hiện bằng hành vi trên thực tế
Trang 5Việc xác định thẩm quyền giải quyết rất quan trọng, tránh gây chồng chéo, giải quyết sai thẩm quyền Tuy đây được coi là những quyền đã được pháp luật công nhận và được đảm bảo thực hiện mà không ai được hạn chế, nhưng không phải vì vậy mà các chủ thể có thẩm quyền được thực hiện các quyền này một cách bừa bãi, thực hiện với mục đích riêng Việc thực hiện các quyền này phải nằm trong khuôn khổ mà pháp luật cho phép
Trong khoa học pháp lý: Thẩm quyền là một khái niệm quan trọng, trung tâm Thẩm quyền được hiểu là tổng hợp các quyền và nghĩa vụ hành động, quyết định của các cơ quan,
tổ chức thuộc hệ thống bộ máy Nhà nước do pháp luật quy định.1
II.Thẩm quyền riêng biệt của Tòa án Việt Nam
Thông thường, những vụ việc thuộc thẩm quyền riêng biệt của toà án cũng là những vụ việc có mối quan hệ gắn bó với hệ thống cơ quan tài phán đó, quy định này nhằm bảo vệ không chỉ lợi ích công dân, pháp nhân mà phải tính tới lợi ích quốc gia, bảo vệ trật tự công cũng như trật tự pháp lý cùa quốc gia trong quan hệ dân sự quốc tế
Khoản 1 Điều 470 Bộ luật tố tụng dân sự 2015 đã quy định những vụ án dân sự có yếu
tố nước ngoài thuộc thẩm quyền giải quyết riêng biệt của toà án Việt Nam bao gồm:
“a) Vụ án dân sự đó có liên quan đến quyền đối với tài sản là bất động sản có trên lãnh thổ Việt Nam;
b) Vụ án ly hôn giữa công dân Việt Nam với công dân nước ngoài hoặc người không quốc tịch, nếu cả hai vợ chồng cư trú, làm ăn, sinh sống lâu dài ở Việt Nam;
c) Vụ án dân sự khác mà các bên được lựa chọn Tòa án Việt Nam để giải quyết theo pháp luật Việt Nam hoặc điều ước quốc tế mà Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên
và các bên đồng ý lựa chọn Tòa án Việt Nam.”
Bên cạnh các quy định về xác định thẩm quyền của toà án đối với các tranh chấp dân sự
có yếu tố nước ngoài, Bộ luật tố tụng dân sự cũng có quy định về thẩm quyền riêng của toà
án Việt Nam đối với những việc dân sự có yếu tố nước ngoài
1 Lê Minh Trường sưu tầm, Thẩm quyền là gì ? Quy định của pháp luật về thẩm quyền, 14/05/2021
Trang 6Theo khoản 2 Điều 470 Bộ luật tố tụng dân sự 2015, những việc dân sự có yếu tố nước ngoài sau đây thuộc thẩm quyền giải quyết riêng biệt của toà án Việt Nam:
“a) Các yêu cầu không có tranh chấp phát sinh từ quan hệ pháp luật dân sự quy định tại khoản 1 Điều này;
b) Yêu cầu xác định một sự kiện pháp lý xảy ra trên lãnh thổ Việt Nam;
c) Tuyên bố công dân Việt Nam hoặc người nước ngoài cư trú tại Việt Nam bị mất tích, đã chết nếu việc tuyên bố đó có liên quan đến việc xác lập quyền, nghĩa vụ của họ trên lãnh thổ Việt Nam, trừ trường hợp điều ước quốc tế mà Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên có quy định khác;
d) Tuyên bố người nước ngoài cư trú tại Việt Nam bị hạn chế năng lực hành vi dân sự, mất năng lực hành vi dân sự nếu việc tuyên bố đó có liên quan đến việc xác lập quyền, nghĩa vụ của họ trên lãnh thổ Việt Nam;
đ) Công nhận tài sản có trên lãnh thổ Việt Nam là vô chủ, công nhận quyền sở hữu của người đang quản lý đối với tài sản vô chủ trên lãnh thổ Việt Nam.”
Nghĩa vụ tố tụng dân sự quốc tế của người nước ngoài, pháp nhân nước ngoài trước hết
được thực hiện trên cơ sở nguyên tắc đối xử quốc gia nhằm đảm bảo sự bình đẳng cho các
bên chủ thể khi tham gia tố tụng tại toà án một quốc gia trong việc bảo vệ quyền và lợi ích của mình trong các tranh chấp dân sự quốc tế Nguyên tắc này được thừa nhận tại khoản 2 Điều 465 Bộ luật tố tụng dân sự 2015 như sau: “Khi tham gia tố tụng dân sự, người nước ngoài, cơ quan, tố chức nước ngoài, chi nhánh, văn phòng đại diện tạỉ Việt Nam của cơ quan, tổ chức nước ngoài, tổ chức quốc tế, cơ quan đại diện của tố chức quốc tế tại Việt Nam, nhà nước nước ngoài có quyền, nghĩa vụ tố tụng như công dân, cơ quan, tổ chức Việt Nam.”
Đồng thời, Nhà nước Việt Nam có thể áp dụng nguyên tắc có đi có lại để hạn chế quyền
tố tụng dân sự tương ứng của người nước ngoài, cơ quan, tổ chức nước ngoài, chi nhánh, văn phòng đại diện tại Việt Nam của cơ quan, tổ chức nước ngoài mà toà án của nước đó đã
Trang 7hạn chế quyền tố tụng dân sự đối với công dân, cơ quan, tổ chức Việt Nam, chi nhánh, văn phòng đại diện tại nước ngoài của cơ quan, tổ chức Việt Nam (khoản 3 Điều 465 Bộ luật tố tụng dân sự 2015)
Trên cơ sở các nguyên tắc chung, các quyền của bên nước ngoài trong lĩnh vực tố tụng
đã được cụ thể hoá, theo đó người nước ngoài, cơ quan, tổ chức nước ngoài, tổ chức quốc tế,
cơ quan đại diện của tổ chức quốc tế tại Việt Nam có quyền khởi kiện đến toà án Việt Nam
để yêu cầu bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình khi bị xâm phạm hoặc có tranh chấp Chi nhánh, văn phòng đại diện tại Việt Nam của cơ quan, tổ chức nước ngoài theo ủy quyền
có quyền khởi kiện đến toà án Việt Nam để yêu cầu bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình khi bị xâm phạm hoặc có tranh chấp
Để đảm bảo nguyên tắc thực hiện quyền “được bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp ” của đương sự là cá nhân, cơ quan, tổ chức nước ngoài khi tham gia tố tụng tại toà án Việt Nam, pháp luật Việt Nam kết ký kết sự bảo hộ pháp lý về các quyền nhân thân và tài sản mà nước
ký kết kia dành cho công dân nước mình: "Công dân, pháp nhân của nước ký kết này có quyền tự do liên hệ với cơ quan tư pháp và các cơ quan khác có thẩm quyền về các vẩn đề dân sự và hình sự của nước ký kết kia Họ có quyền trình bày ý kiến của mình, khởi kiện trước toà án theo cùng những điều kiện như công dân của nước ký kết kia ” Công dân của nước ký kết này không phải nộp một khoản tiền cược án phí nào chỉ vì họ là nguyên đơn hoặc là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ việc hoặc là người đại diện hợp pháp của những người đó trước toà án của nước ký kết kia mà không cư trú tại lãnh thổ của nước
ký kết đó
Bên cạnh các quy định của điều ước quốc tế, các quy định về địa vị tố tụng của chù thể nước ngoài còn nằm trong một số văn bản pháp luật trong nước khác như tại Bộ luật tố tụng dân sự, Luật đầu tư, Luật hôn nhân và gia đình.2
2 Lê Minh Trường sưu tầm,Cách xác định thẩm quyền xét xử dân sự quốc tế, 12/04/2021
Trang 8III.Thẩm quyền của Trọng tài thương mại Việt Nam và trọng tài thương mại quốc tế 1.Khái niệm trọng tài thương mại quốc tế
Trọng tài thương mại quốc tế là phương thức giải quyết tranh chấp phát sinh từ các quan
hệ Tư pháp quốc tế, nhất là các quan hệ thương mại quốc tế mà pháp luật cho phép giải quyết được bằng trọng tài Theo phương thức này, các bên nhất trí thỏa thuận với nhau là sẽ đưa vụ tranh chấp ra giải quyết tại một cơ quan trọng tài nhất định nào đó
2.Thẩm quyền trọng tài thương mại
Trọng tài không phải có thẩm quyền đương nhiên giải quyết các vụ việc tranh chấp mà chỉ có thẩm quyền giải quyết tranh chấp khi các bên thỏa thuận và chỉ định Để trọng tài thương mại quốc tế có thẩm quyền giải quyết, các bên cần lập một thỏa thuận trọng tài Dựa theo Luật Trọng tài thương mại Việt Nam 2010, thỏa thuận trọng tài là sự thỏa thuận giữa các bên về việc giải quyết tranh chấp bằng trọng tài có thể phát sinh hoặc đã phát sinh
Sau khi lập thỏa thuận, trọng tài thương mại quốc tế sẽ có thẩm quyền giải quyết tranh chấp giữa các bên chủ thể trừ khi thỏa thuận trọng tài vô hiệu hoặc bị một trong các bên hủy
bỏ Như vậy, thỏa thuận giữa các bên là căn cứ để xác lập thẩm quyền của trọng tài thương mại quốc tế
Thỏa thuận trọng tài có ý nghĩa vô cùng quan trọng:
Là cơ sở để trọng tài thương mại quốc tế giải quyết các tranh chấp phát sinh
Thỏa thuận trọng tài loại bỏ thẩm quyền của tòa án Pháp luật Việt Nam ghi nhận, khi các bên thỏa thuận giải quyết bằng trọng tài thì tòa án sẽ không có thẩm quyền giải quyết nữa
Tuy nhiên, cơ quan trọng tài thương mại và tòa án là hai cơ quan bổ trợ cho nhau khi giải quyết tranh chấp Tòa án có thẩm quyền:
Chỉ định trọng tài viên;
Thay đổi trọng tài viên;
Áp dụng, thay đổi hoặc hủy bỏ các biện pháp khẩn cấp tạm thời;
Hủy bỏ phán quyết trọng tài
Trang 9Thẩm quyền của trọng tài thương mại quốc tế không mang tính đương nhiên, sẽ phụ thuộc vào thỏa thuận trọng tài Ngoài ra, còn bị ảnh hưởng bởi phạm vi tranh chấp: hạn chế xét xử trong một số quan hệ thương mại, hoặc các tranh chấp phát sinh trong hôn nhân, gia đình, thừa kế3
3.Cơ chế pháp lý giải quyết tranh chấp bằng trọng tài thương mại
Luật áp dụng để xét xử tranh chấp là luật mà trọng tài dùng để xem xét việc thực hiện nghĩa vụ của các bên tranh chấp trong quá trình thực hiện hợp đồng Luật này được gọi là luật áp dụng cho hợp đồng
Đối với các tranh chấp thương mại nội địa, đương nhiên, luật áp dụng trong hợp đồng là luật quốc gia, chẳng hạn như ở Việt Nam thì căn cứ vào luật thương mại, pháp lênh hợp đồng kinh tế, luật đất đai… Vấn đề chọn luật áp dụng trong hợp đồng không đặt ra với các hợp đồng nội
Trong thương mại quốc tế, luật của rất nhiều nước liên quan đến quan hệ của các bên trong hợp đồng và cùng có khả năng điều chỉnh hợp đồng ngang nhau Giữa các nguồn luật
đó luôn tồn tài hiện tượng xung đột luật, vì thế khi đưa tranh chấp ra trong tài, các bên đương sự phải thoả thuận thống nhất về luật áp dụng trong hợp đồng Các nguồn luật áp dụng trong thương mại quốc tế bao gồm: Các điều ước quốc tế, các tập quán thương mại quốc tế và luật quốc gia
Điều ước quốc tế: là những văn bản có chứa những quy phạm pháp luật được các quốc
gia và các chủ thể khác xây dựng, ký kết, công nhận và có hiệu lực pháp lý đối với chủ thể của các quốc gia thành viên Nó có thể là: Hiệp ước, Hiệp định, Nghị định thư, công hàm trao đổi… khi có tranh chấp phát sinh từ hợp đồng nhưng không được quy định hoặc quy định không đầy đủ thì các bên có thể đưa điều ước quốc tế vào để xử lý vấn đề đó Các điều ước này không có giá trị bắt buộc đối với các quan hệ thương mại quốc tế nếu như nó chưa được quốc gia đó phê chuẩn Khi quốc gia đã phê chuẩn, tất cả những trường hợp mà hợp đồng không dẫn chiếu thì điều ước đó vẫn đương nhiên được áp dụng
3 Lê Minh Công, Trọng tài thương mại quốc tế là gì? Thẩm quyền và các hình thức ra sao? 14/04/2021
Trang 10Tập quán thương mại: là những quy tắc xử sự có hệ thống, những thói quen thương
mại phổ biến được áp dụng một cách thường xuyên, liên tục trong một thời gian dài và phải
có nội dung rõ ràng mà qua đó có thể xác định được quyền và nghĩa vụ đối với nhau Các tập quán thương mại quốc tế chỉ có giá trị pháp lý và có hiệu lực bắt buộc đối với các chủ thể ký kết khi nó được quy định hoặc dẫn chiếu vào hợp đồng Điều 135 quy tắc ICC về trọng tài quy định “Các trọng tài không chỉ áp dụng luật áp dụng mà còn phải dùng tới các điều khoản trong hợp đồng và những “Tập quán thương mại” thích hợp để giải quyết vụ việc” Trong những luật trọng tài của các quốc gia cũng quy định như vậy
Luật quốc gia: Nói đến luật quốc gia như một nguồn luật của thương mại quốc tế
không có nghĩa là tất cả các luật đều được áp dụng mà chỉ có một số luật, văn bản pháp luật
có liên quan đến thương mại quốc tế được áp dụng, bởi vì luật quốc gia không chỉ điều chỉnh các quan hệ thương mại quốc tế mà nó còn điều chỉnh rất nhiều mối quan hệ khác
Luật quốc gia áp dụng cho hợp đồng mua bán hàng hoá thông thường là luật của nước nào có quan hệ gần nhất với hợp đồng, tuy theo cách xác định, nhưng phải là luật đặc trưng, thường là luật của nước bên bán, luật của nước nơi hợp đồng được ký kết, nhưng cũng có thể
là luật của bên mua, có thể là luật của nước thứ ba, luật quốc tịch, luật nơi nghĩa vụ của hợp đồng được thực hiện…
Trong quá trình đàm phán hợp đồng mua bán hàng hoá quốc tế điều khoản luật áp dụng thường được ghi một cách rõ ràng trong hợp đồng để tránh tình trạng khó xác đinh luật quốc gia điều chỉnh các quan hệ hợp đồng Việc thoả thuận luật quốc gia áp dụng cho hợp đồng mua bán hàng hoá quốc tế là một vấn đề phức tạp, cho nên các chủ thể ký kết không những phải thông thạo luật của nước mình mà còn phải tìm hiểu kỹ luật của nước khác quan hệ với hợp đồng để đảm bảo quyền lợi của mình, tránh được những thiệt thòi do sự thiếu hiểu biết pháp luật gây ra
Tuy nhiên việc áp dụng luật của quốc gia nào để giải quyết tranh chấp trong hợp đồng đôi khi không chỉ phụ thuộc vào ý chỉ chủ quan của một chủ thể mà thường bị chi phối bởi nhiều yếu tố khác như: tương quan lực lượn giữa các bên tham gia hợp đồng, do điều kiện đặc thù khi triển khai hợp đồng đó… Trường hợp phải áp dụng luật của nước thứ ba, ít nhất