1. Trang chủ
  2. » Tất cả

Bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của tác giả,

23 1 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của tác giả
Trường học Trường Đại Học Kiến Trúc TP. Hồ Chí Minh
Chuyên ngành Luật Bản Quyền
Thể loại bài tiểu luận
Năm xuất bản 2023
Thành phố Hồ Chí Minh
Định dạng
Số trang 23
Dung lượng 676,32 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KIẾN TRÚC TP HỒ CHÍ MINH KHOA MỸ THUẬT CÔNG NGHIỆP BÀI TIỂU LUẬN KẾT THÚC HỌC PHẦN LUẬT BẢN QUYỀN Câu hỏi Những vấn đề pháp lý và thực tiễn về vi phạm pháp luật bản quyền BỘ GIÁO DỤC VÀ[.]

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KIẾN TRÚC TP HỒ CHÍ MINH

KHOA MỸ THUẬT CÔNG NGHIỆP

BÀI TIỂU LUẬN KẾT THÚC HỌC PHẦN

LUẬT BẢN QUYỀN

Câu hỏi: Những vấn đề pháp lý và thực tiễn về vi phạm

pháp luật bản quyền

Trang 2

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KIẾN TRÚC

TP HỒ CHÍ MÌNH

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

BÀI TIỂU LUẬN KẾT THÚC HỌC PHẦN LUẬT BẢN QUYỀN

ĐIỂM CỦA BÀI TIỂU LUẬN

Họ tên và chữ ký của cán bộ chấm thi thứ 1

Họ tên và chữ ký của cán bộ chấm thi thứ 2 Ghi bằng số Ghi bằng chữ

Sinh viên nộp bài

Ký tên

Trang 3

MỤC LỤC

I PHẦN MỞ ĐẦU……… 1

1 Mục đích nghiên cứu……… 1

2 Đối tượng nghiên cứu……… 1

II PHẦN NỘI DUNG……… 2

1 Khái quát chung……… 2

1.1 Khái niệm……… 2

1.2 Bản chất……… 3

1.3 Chức năng……… 3

1.4 Mối liên hệ……… 4

2 Quy định pháp lý và thực tiễn………

2.1 Quy định pháp lý………

4 4 a Biện pháp dân sự………

b Biện pháp hành chính………

c Biện pháp hình sự………

2.2 Thực tiễn………

3 Kết luận và giải pháp………

3.1 Kết quả nghiên cứu………

3.2 Giải pháp………

III PHẦN KẾT LUẬN………

6

7

9

11

14

14

15

17

Trang 4

I PHẦN MỞ ĐẦU:

Ngày nay đi kèm với sự phát triển của xã hội và khoa học công nghệ là những nhu cầu ngày càng tăng về hàm lượng trí tuệ trong sản phẩm và dịch vụ Tài sản trí tuệ là những sản phẩm của bộ não con người, do chính con người sáng tạo ra thông qua hoạt động tư duy, sáng tạo và tuy là tài sản vô hình nhưng lại có giá lớn nên cần phải được chú trọng bảo vệ Một sản phẩm hay tác phẩm khi được tạo ra đều cần rất nhiều thời gian, chất xám

và để tránh việc xâm phạm, tránh những hành vi thiếu tôn trọng đến tác giả và tác phẩm của họ thì cần phải có pháp luật, cụ thể hơn là luật bản quyền Pháp luật là hệ thống những quy tắc xử xự mang tính bắt buộc chung do Nhà nước ban hành hoặc thừa nhận và đảm bảo thực hiện Pháp luật đảm bảo sự vận hành của toàn xã hội, tạo lập, duy trì sự bình đẳng trong cộng đồng và cũng là phương tiện quan trọng để người dân bảo vệ quyền

và lợi ích hợp pháp của mình Đối với các tác giả, chủ sở hữu thì luật bản quyền có vai trò đặc biệt quan trọng trong việc bảo vệ tác phẩm do họ sáng tạo ra, cũng như bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của họ Cho đến nay đã có những sửa đổi, bổ sung trong luật

sở hữu trí tuệ để đảm bảo tác phẩm của người sáng tác, chủ sở hữu không bị xâm phạm,

sử dụng trái phép và có những hình phạt thích đáng, tùy theo mức độ vi phạm với các đối tượng có hành vi vi phạm pháp luật bản quyền Tuy nhiên trong thực tế vẫn còn tồn tại nhiều tình trạng vi phạm pháp luật bản quyền, xâm phạm đến quyền tài sản và quyền nhân thân của chủ sở hữu với các thủ đoạn ngày càng tinh vi, khó lường mà lại chưa được

xử lý một cách đúng mức dẫn đến việc hành vi xâm phạm này ngày càng trở nên phổ biến trong xã hội

1 Mục đích nghiên cứu

Tìm hiểu, đưa ra cái nhìn cụ thể về luật bản quyền cũng như các cách xử lý hành vi phạm pháp luật bản quyền Nghiên cứu về tình trạng thực tiễn của việc xâm phạm bản quyền, phân tích những mặt hạn chế, đưa ra nguyên nhân và đề xuất hướng giải quyết

2 Đối tượng nghiên cứu

Trang 5

Tác phẩm và chủ sở hữu tác phẩm gốc, những hành vi vi phạm pháp luật bản quyền, xâm phạm đến quyền, lợi ích của chủ sở hữu và các hình phạt, cách xử lý

Tham khảo từ nhiều nguồn khác nhau kết hợp với việc nghiên cứu Luật sở hữu trí tuệ

2005 (sửa đổi và bổ sung năm 2009, 2019), nghiên cứu tình hình thực tiễn tại Việt Nam

II PHẦN NỘI DUNG:

1 Khái quát chung:

1.1 Khái niệm:

Bản quyền chính là quyền tác giả và là một phần của luật sở hữu trí tuệ, là quyền của tổ chức, cá nhân đối với tác phẩm do chính mình sáng tạo ra hoặc sở hữu Bản quyền là một hình thức bảo hộ của pháp luật đối với tác giả của các tác phẩm gốc, trong đó bao gồm các tác phẩm văn học, sân khấu, âm nhạc, nghệ thuật và các tác phẩm trí tuệ khác

Vi phạm bản quyền có thể được hiểu là việc sử dụng tác phẩm của người khác đã đăng ký bản quyền và được pháp luật bảo vệ bởi luật bản quyền một cách trái phép, xâm phạm vào một số quyền chỉ dành cho tác giả, chủ sở hữu tác phẩm Sẽ có những hình phạt tùy thuộc mức độ vi phạm, từ xử phạt vi phạm hành chính đến nặng hơn là bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo quy định của pháp luật Vi phạm dân sự, vi phạm hành chính, vi phạm hình sự có sự khác nhau về đối tượng cho đến chế tài xử lý vi phạm

Vi phạm dân sự là sự xâm phạm đến các quan hệ nhân thân và tài sản được quy định trong bộ luật dân sự và quan hệ pháp luật dân sự khác được pháp luật bảo vệ, như là quyền tác giả, quyền sở hữu công nghiệp

Vi phạm hành chính là hành vi có lỗi do cá nhân, tổ chức thực hiện, vi phạm quy định của pháp luật về quản lý nhà nước mà không phải là tội phạm và theo quy định của pháp luật phải bị xử phạt vi phạm hành chính

Vi phạm hình sự là sự xâm hại đến các quan hệ pháp luật hình sự phát sinh giữa Nhà nước và người phạm tội, pháp nhân thương mại phạm tội liên quan đến việc họ có hành động thực hiện tội phạm, các hành vi được quy định trong bộ luật hình sự

Trang 6

1.2 Bản chất:

Chủ thể của quyền tác giả là người sáng tạo trực tiếp ra tác phẩm (tác giả), tác giả của tác phẩm phái sinh, chủ sở hữu của quyền tác giả và đối tượng của quyền tác giả là tác phẩm nghệ thuật, văn học và khoa học (sản phẩm sáng tạo trong lĩnh vực văn học, nghệ thuật

và khoa học thể hiện bằng bất kỳ phương tiện hay hình thức nào) với tác phẩm tái sinh (tác phẩm được dịch từ ngôn ngữ này sang ngôn ngữ khác, tác phẩm phóng tác, chuyển thể, cải biên, biên soạn, chú giải và tuyển chọn) Theo quy định tại Điều 14 Luật Sở hữu trí tuệ 2005 (sửa đổi, bổ sung năm 2009,2019) thì các tác phẩm được bảo hộ quyền tác giả bao gồm tác phẩm văn học, khoa học, sách giáo khoa, giáo trình và tác phẩm khác được thể hiện dưới dạng chữ viết hoặc ký tự khác; Bài giảng, bài phát biểu và bài nói khác; Tác phẩm báo chí; Tác phẩm âm nhạc; Tác phẩm sân khấu; Tác phẩm điện ảnh và tác phẩm được tạo ra theo phương pháp tương tự; Tác phẩm tạo hình, mỹ thuật ứng dụng; Tác phẩm nhiếp ảnh; Tác phẩm kiến trúc; Bản họa đồ, sơ đồ, bản đồ, bản vẽ liên quan đến địa hình, công trình khoa học; Tác phẩm văn học, nghệ thuật dân gian; Chương trình máy tính, sưu tập dữ liệu

1.3 Chức năng:

Quyền tác giả bao gồm hai quyền là quyền nhân thân và quyền tài sản, trong đó:

Quyền nhân thân bao gồm việc đặt tên cho tác phẩm, đứng tên thật hoặc bút danh trên tác phẩm; Được nêu tên thật hoặc bút danh khi tác phẩm được công bố, sử dụng; Công bố, phổ biến hoặc cho người khác công bố, phổ biến tác phẩm của mình; Bảo vệ sự toàn vẹn của tác phẩm, không cho người khác sửa chữa, cắt xén hoặc xuyên tạc tác phẩm dưới bất

kỳ hình thực nào gây phương hại đến danh dự và uy tín của tác giả

Trong khi quyền tài sản thì bao gồm làm tác phẩm phái sinh; Biểu diễn tác phẩm trước công chúng; Phân phối, nhập khẩu bản gốc hoặc bản sao tác phẩm; Cho thuê bản gốc hoặc bản sao tác phẩm điện ảnh, chương trình máy tính; Truyền đạt tác phẩm đến công chúng bằng phương tiện hữu tuyến, vô tuyến, mạng thông tin điện tử hoặc bất kỳ phương tiện kỹ thuật nào khác

Trang 7

Quyền tác giả là quyền người sáng tạo, chủ sở hữu được kiểm soát khả năng tác phẩm của mình được công bố, cắt, ghép, trích dẫn, truyền đạt, sao chép, biểu diễn hoặc cải biên, giúp ngăn chặn việc người khác sử dụng hoặc làm bản sao những tác phẩm văn học, nghệ thuật, khoa học ấy mà chưa được sự cho phép của mình Chính vì vậy cá nhân, tổ chức nào khi muốn khai thác, sử dụng tác phẩm đều phải xin phép và trả tiền thù lao, nhuận bút hoặc các quyền lợi vật chất khác cho chủ sở hữu, trường hợp sử dụng mà không được sự chấp thuận sẽ được xem là hành vi xâm phạm đến quyền nhân thân, quyền tài sản của tác giả, chủ sở hữu

1.4 Mối liên hệ:

Theo khoản 1 Điều 6 Luật Sở hữu trí tuệ 2005 (sửa đổi và bổ sung năm 2009, 2019) thì quyền tác giả phát sinh kể từ khi tác phẩm được sáng tạo và được thể hiện dưới một hình thức vật chất nhất định, không phân biệt nội dung, chất lượng, hình thức, phương tiện, ngôn ngữ, đã công bố hay chưa công bố, đã đăng ký hay chưa đăng ký (việc đăng ký hay không sẽ do chủ thể lựa chọn do trên thực tế vẫn tồn tại thủ tục đăng ký, đăng ký bản quyền để ghi nhận quyền sở hữu trí tuệ đối với tác phẩm đăng ký và đây sẽ là chứng cứ

rõ ràng, thuyết phục nhất khi xảy ra tranh chấp) Việc sử dụng, sao chép hay lưu truyền trái phép tác phẩm của chủ sỡ hữu hoặc không xin phép, ghi rõ nguồn và tên tác giả sẽ được xem là vi phạm pháp luật bản quyền

2 Quy định pháp lý và thực tiễn:

2.1 Quy định pháp lý

Theo Điều 28 của Luật Sở hữu trí tuệ năm 2005 (sửa đổi và bổ sung năm 2009, 2019) thì những hành vi được coi là xâm phạm quyền tác giả bao gồm việc chiếm đoạt quyền tác giả đối với tác phẩm văn học, nghệ thuật, khoa học; Mạo danh tác giả; Công bố, phân phối tác phẩm mà không được phép của tác giả; Công bố, phân phối tác phẩm có đồng tác giả mà không được phép của đồng tác giả đó; Sửa chữa, cắt xén hoặc xuyên tạc tác phẩm dưới bất kỳ hình thức nào gây phương hại đến danh dự và uy tín của tác giả; Sao chép tác phẩm mà không được phép của tác giả, chủ sở hữu quyền tác giả, trừ trường hợp

Trang 8

quy định tại điểm a và điểm đ khoản 1 Điều 25 của Luật này; Làm tác phẩm phái sinh mà không được phép của tác giả, chủ sở hữu quyền tác giả đối với tác phẩm được dùng để làm tác phẩm phái sinh, trừ trường hợp quy định tại điểm i khoản 1 Điều 25 của Luật này; Sử dụng tác phẩm mà không được phép của chủ sở hữu quyền tác giả, không trả tiền nhuận bút, thù lao và quyền lợi vật chất khác theo quy định của pháp luật, trừ trường hợp quy định tại khoản 1 Điều 25 của Luật này; Cho thuê tác phẩm mà không trả tiền nhuận bút, thù lao và quyền lợi vật chất khác cho tác giả hoặc chủ sở hữu quyền tác giả; Nhân bản, sản xuất bản sao, phân phối, trưng bày hoặc truyền đạt tác phẩm đến công chúng qua mạng truyền thông và các phương tiện kỹ thuật số mà không được phép của chủ sở hữu quyền tác giả; Xuất bản tác phẩm mà không được phép của chủ sở hữu quyền tác giả; Cố

ý hủy bỏ hoặc làm vô hiệu các biện pháp kỹ thuật do chủ sở hữu quyền tác giả thực hiện

để bảo vệ quyền tác giả đối với tác phẩm của mình; Cố ý xóa, thay đổi thông tin quản lý quyền dưới hình thức điện tử có trong tác phẩm; Sản xuất, lắp ráp, biến đổi, phân phối, nhập khẩu, xuất khẩu, bán hoặc cho thuê thiết bị khi biết hoặc có cơ sở để biết thiết bị đó làm vô hiệu các biện pháp kỹ thuật do chủ sở hữu quyền tác giả thực hiện để bảo vệ quyền tác giả đối với tác phẩm của mình; Làm và bán tác phẩm mà chữ ký của tác giả bị giả mạo hoặc xuất khẩu, nhập khẩu, phân phối bản sao tác phẩm mà không được phép của chủ sở hữu quyền tác giả

Yếu tố xâm phạm quyền tác giả có thể thuộc một trong các dạng như bản sao tác phẩm được tạo ra một cách trái phép; Tác phẩm phái sinh được tạo ra một cách trái phép; Tác phẩm giả mạo tên, chữ ký của tác giả, mạo danh hoặc chiếm đoạt quyền tác giả; Phần tác phẩm bị trích đoạn, sao chép, lắp ghép trái phép; Sản phẩm có gắn thiết bị kỹ thuật bảo

vệ quyền tác giả bị vô hiệu hóa trái phép Những sản phẩm có yếu tố xâm phạm này sẽ bị coi là sản phẩm xâm phạm đến quyền tác giả và để xác định một bản sao hoặc tác phẩm (hoặc bản định hình cuộc biểu diễn, bản ghi âm, ghi hình, chương trình phát sóng) có phải là yếu tố xâm phạm quyền tác giả hay không thì cần phải so sánh bản sao hoặc tác phẩm đó với tác phẩm gốc Điều 199 Luật Sở hữu trí tuệ năm 2005 (sửa đổi, bổ sung năm

2009, 2019) quy định về các biện pháp xử lý đối với hành vi xâm phạm quyền sở hữu trí

Trang 9

tuệ, tùy theo tính chất và mức độ xâm phạm, có thể bị xử lý bằng biện pháp dân sự, hành chính hoặc hình sự

a Biện pháp dân sự

Bộ luật dân sự quy định về bồi thường thiệt hại trong và ngoài hợp đồng, theo đó, những người vi phạm dân sự thuộc một trong các quy định đó sẽ phải chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại theo quy định của bộ luật dân sự Trách nhiệm dân sự là trách nhiệm pháp lý mang tính tài sản được áp dụng đối với người vi phạm pháp luật dân sự nhằm bù đắp về những tổn thất vật chất, tinh thần cho bên bị hại và hình thức xử lý trách nhiệm dân sự là chịu mức bồi thường thiệt hại và có các biện pháp khắc phục Căn cứ phát sinh sau khi thỏa thuận thành công thì người có lỗi sẽ phải bồi thường thiệt hại, trong trường hợp không thỏa thuận được thì được giải quyết tại tòa án dân sự, sau khi có quyết định của tòa án thì người có lỗi sẽ phải bồi thường thiệt hại và có những biện pháp khắc phục hậu quả Mục đích của việc xử lý này là nhằm răn đe những đối tượng có hành vi vi phạm pháp luật, đảm bảo không tái phạm và buộc họ phải có nghĩa vụ bồi thường thiệt hại cho người bị hại do hành vi vi phạm để khắc phục những tổn thất do họ tạo nên Năng lực hành vi dân sự của chủ thể bao gồm khả năng bằng hành vi của mình xác lập, thực hiện quyền dân sự và thực hiện nghĩa vụ dân sự cụ thể; Khả năng tự chịu trách nhiệm bằng tài sản về hành vi của mình, bao gồm cả hành vi hợp pháp và bất hợp pháp Năng lực hành vi dân sự của cá nhân không chỉ phụ thuộc vào lứa tuổi mà còn ở khả năng nhận thức và điều khiển hành vi của cá nhân đó Căn cứ vào khả năng này pháp luật dân sự phân biệt: người từ đủ 15 đến chưa đủ 18 tuổi có năng lực hành vi dân sự một phần; Người do bị bệnh nên không có nhận thức, làm chủ được hành vi của mình là người mất năng lực hành vi dân sự, bị hạn chế năng lực hành vi dân sự, người chưa đủ 6 tuổi không có năng lực hành vi dân sự; Theo Điều 20 của bộ luật dân sự thì người thành niên (là người từ đủ 18 tuổi trở lên) là người có năng lực hành vi dân sự đầy đủ, trừ người

bị bệnh tâm thần hoặc mắc những bệnh khác mà không thể làm chủ nhận thức, làm chủ được hành vi của mình

Trang 10

Biện pháp dân sự được áp dụng để xử lý hành vi xâm phạm theo yêu cầu của chủ thể quyền sở hữu trí tuệ hoặc của tổ chức, cá nhân bị thiệt hại do hành vi xâm phạm gây ra,

kể cả khi hành vi đó đã hoặc đang bị xử lý bằng biện pháp hành chính hoặc biện pháp hình sự Theo Điều 202 Luật Sở hữu trí tuệ 2005 (sửa đổi và bổ sung năm 2009, 2019) thì các biện pháp dân sự bao gồm việc buộc chấm dứt hành vi xâm phạm; Buộc xin lỗi, cải chính công khai; Buộc thực hiện nghĩa vụ dân sự; Buộc bồi thường thiệt hại; Buộc tiêu hủy hoặc buộc phân phối hoặc đưa vào sử dụng không nhằm mục đích thương mại đối với hàng hóa, nguyên liệu, vật liệu và phương tiện được sử dụng chủ yếu để sản xuất, kinh doanh hàng hóa xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ với điều kiện không làm ảnh hưởng đến khả năng khai thác quyền của chủ thể quyền sở hữu trí tuệ

Trong trường hợp cần thiết, cơ quan nhà nước có thẩm quyền có thể áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời, biện pháp kiểm soát hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu liên quan đến sở hữu trí tuệ, biện pháp ngăn chặn và bảo đảm xử phạt hành chính theo quy định của Luật

Sở hữu trí tuệ và các quy định khác của pháp luật có liên quan Các biện pháp khẩn cấp tạm thời theo Điều 207 Luật Sở hữu trí tuệ bao gồm việc thu giữ, kê biên, niêm phong, cấm thay đổi hiện trạng, cấm di chuyển, cấm chuyển dịch quyền sở hữu và các biện pháp khẩn cấp tạm thời khác được áp dụng theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự

b Biện pháp hành chính

Xử phạt vi phạm hành chính là việc người có thẩm quyền xử phạt áp dụng hình thức xử phạt, biện pháp khắc phục hậu quả đối với những cá nhân, tổ chức thực hiện hành vi vi phạm hành chính theo quy định của pháp luật về xử phạt vi phạm hành chính Vi phạm hành chính là loại vi phạm khá phổ biến trong đời sống xã hội và tính nguy hiểm cho xã hội thấp hơn tội phạm được quy định ở bộ luật hình sự nhưng hành vi vi phạm hành chính vẫn gây ra thiệt hại hoặc đe dọa đến lợi ích của Nhà nước cũng như lợi ích của cộng đồng Hành vi vi phạm hành chính nếu không được ngăn chặn và xử lý kịp thời sẽ dẫn đến tình trạng tội phạm nảy sinh trên các lĩnh vực của đời sống xã hội

Trang 11

Theo điểm a khoản 1 Điều 5 Luật xử lý vi phạm hành chính thì người từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi sẽ bị xử phạt vi phạm hành chính về vi phạm hành chính do cố ý và người từ

đủ 16 tuổi trở lên bị xử phạt vi phạm hành chính về mọi vi phạm hành chính Đối với trường hợp người từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi vi phạm hành chính thì không áp dụng hình thức phạt tiền, đối với người từ đủ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi vi phạm hành chính bị phạt tiền thì mức phạt không quá một nửa mức tiền phạt áp dụng đối với người thành niên Trong trường hợp đối tượng vi phạm không có tiền nộp phạt hoặc không có khả năng thực hiện biện pháp khắc phục hậu quả thì phụ huynh hoặc người giám hộ của đối tượng phải thực hiện thay Trường hợp có hành vi xâm phạm bản quyền tác giả thì cá nhân hoặc tổ chức sẽ bị xử phạt hành chính theo quy định tại Điều 10 Nghị định

kỹ thuật số hoặc buộc tiêu hủy tang vật vi phạm đối với hành vi quy định tại khoản 1 và khoản 2 Điều này

Bên cạnh đó, Điều 18 Nghị định 131/2013/NĐ-CP cũng quy định về hành vi xâm phạm quyền sao chép tác phẩm, cụ thể là phạt tiền từ 15.000.000 đồng đến 35.000.000 đồng đối với hành vi sao chép tác phẩm mà không được phép của chủ sở hữu quyền tác giả và biện pháp khắc phục hậu quả là buộc dỡ bỏ bản sao tác phẩm vi phạm dưới hình thức điện tử, trên môi trường internet và kỹ thuật số hoặc buộc tiêu hủy tang vật vi phạm đối với hành

vi quy định tại khoản 1 Điều này

Ngày đăng: 24/02/2023, 12:17

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w