2 ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y DƯỢC PHẠM CHU LONG GIA ĐÁNH GIÁ THỰC TRẠNG KIẾN THỨC, THÁI ĐỘ VÀ HÀNH VI CỦA CHA MẸ TRẺ EM CÓ TẬT KHÚC XẠ ĐẾN KHÁM TẠI BỆNH VIỆN MẮT TRUNG ƯƠNG NĂM 2022 LUẬN[.]
TỔNG QUAN
Tật khúc xạ
1.1.1 Chính thị và các loại tật khúc xạ
Mắt là một hệ thống quang học phức tạp, trong đó ánh sáng đi qua các lớp như nước mắt, giác mạc, thủy dịch, thể thủy tinh và dịch kính trước khi hội tụ trên võng mạc Khả năng điều tiết của thể thủy tinh, giúp thay đổi độ dày, đóng vai trò quan trọng trong việc điều chỉnh khả năng nhìn rõ các vật ở gần.
Mắt chính thị là trạng thái khi các tia sáng đi từ vô cực qua các môi trường trong suốt của mắt sẽ hội tụ chính xác lên võng mạc, mang lại hình ảnh rõ nét khi mắt không điều tiết Trong khi đó, ở mắt không chính thị hoặc có tật khúc xạ, hình ảnh sẽ không rơi chính xác lên võng mạc mà rơi vào phía trước hoặc sau võng mạc, gây giảm thị lực và nhạy cảm với các tật khúc xạ.
Có hai loại mắt không chính thị:
- Không chính thị hình cầu: cận thị, viễn thị
- Không chính thị không hình cầu: loạn thị
Mắt cận thị là tình trạng khi các tia sáng từ vật ở xa đi song song và hội tụ trước võng mạc, gây ra hình ảnh nhòe trên võng mạc Tật cận thị còn được gọi là tật nhìn gần, vì người mắc cận thị thường nhìn gần rõ hơn nhìn xa ở mọi lứa tuổi.
Hình 1.2 Mắt cận thị khi không điều tiết [7]
Trẻ em bị cận thị thường có biểu hiện nheo mắt, chảy nước mắt hoặc ngoái đầu để nhìn rõ hơn khi học tập Một số trẻ còn gặp phải triệu chứng nhức mắt, đau đầu do cận thị kèm theo loạn thị, lệch khúc xạ hoặc thiểu năng điều tiết, ảnh hưởng đến khả năng thị lực và sinh hoạt hàng ngày.
Phân loại cận thị theo mức độ [7],[8]:
- Cận thị trung bình: -3,25D đến -6,00D;
Phân loại cận thị theo thể lâm sàng [6]:
- Cận thị đơn thuần: do sự bất cân xứng giữa công suất quang hệ và chiều dài trục trước sau của nhãn cầu (thường thấp hơn -6,00D);
Cận thị ban đêm xảy ra khi ánh sáng yếu và độ tương phản không tốt khiến mắt không nhận đủ điểm kích thích để điều tiết, dẫn đến viễn điểm của mắt nằm ở khoảng cách trung gian thay vì vô cực như trong điều kiện ánh sáng đầy đủ.
- Cận thị giả: khi mắt gia tăng điều tiết hay do co quắp cơ thể mi;
- Cận thị thoái hóa: cận thị nặng và thoái hóa bán phần sau nhãn cầu;
Cận thị thứ phát thường xuyên xuất hiện do tác dụng của thuốc hoặc biến động đường huyết trong đái tháo đường Tình trạng này thường tồn tại trong một khoảng thời gian nhất định và hoàn toàn có khả năng đảo ngược khi nguyên nhân được kiểm soát tốt.
1.1.1.3 Viễn thị và quá trình chính thị hóa
Mắt viễn thị là tình trạng mắt khi các tia sáng từ vật ở xa đi tới mắt song song và hội tụ tại một điểm phía sau võng mạc khi mắt không điều tiết This condition causes blurry vision for objects that are nearby, while distant objects are seen rõ nét Để khắc phục, người bị viễn thị có thể cần đeo kính, kính áp tròng hoặc thực hiện phẫu thuật để điều chỉnh tiêu cự Viễn thị thường xuất hiện do eyeball ngắn hơn bình thường hoặc khả năng điều tiết của mắt yếu đi theo thời gian Điều trị phù hợp giúp cải thiện thị lực và giảm căng thẳng mắt khi nhìn gần.
Hình 1.3 Mắt viễn thị khi không điều tiết [7]
Khi mới sinh ra, đa số trẻ em có độ viễn thị từ +2,00D đến +3,00D, nhưng theo thời gian, nhãn cầu phát triển và thay đổi, giúp giảm độ viễn thị Quá trình này gọi là quá trình chính thị hóa (Emmetropization), đóng vai trò quan trọng trong việc điều chỉnh thị lực tự nhiên của trẻ.
Sự biến đổi về độ khúc xạ của nhãn cầu chủ yếu diễn ra trong năm đầu sau sinh, với tỷ lệ viễn thị cao nhất ở độ tuổi sơ sinh và giảm dần qua 10 năm đầu đời nhờ quá trình chính thị hóa Theo tác giả Mutti DO (2005), độ cầu trung bình của trẻ 3 tháng tuổi là +2,16±1,30D, giảm còn +1,36±1,06D khi 9 tháng tuổi; chiều dài trục nhãn cầu của trẻ từ 3 đến 9 tháng tuổi tăng trung bình 1,20mm Trẻ có độ viễn thị cao khi lớn lên có thể còn tồn dư, đặc biệt nếu đi kèm loạn thị nghịch, khiến nguy cơ tồn tại viễn thị trong quá trình chính thị hóa cao hơn so với trẻ không mắc loạn thị này Điều tiết đóng vai trò quan trọng trong quá trình chính thị hóa, giúp điều chỉnh và hình thành khúc xạ phù hợp cho sự phát triển của mắt trẻ.
Phân loại viễn thị theo mức độ [7]:
- Viễn thị trung bình: từ +3,25D đến dưới +5,00D;
Viễn thị nặng được định nghĩa là ≥+5,00D, trong khi viễn thị nhẹ có thể được cân bằng nhờ khả năng điều tiết của trẻ, giúp duy trì thị lực tốt ở khoảng cách xa Tuy nhiên, ở các trường hợp viễn thị trung bình và nặng, lực điều tiết không đủ để bù đắp, gây ra hiện tượng nhìn mờ ở gần hoặc cả hai khoảng cách gần và xa Các triệu chứng thường gặp bao gồm chảy nước mắt, nheo mắt, mỏi mắt, giảm chức năng thị giác hai mắt, làm ảnh hưởng đến khả năng nhìn nhận và sinh hoạt hàng ngày của trẻ.
Mắt chỉ có TKX cầu có cùng bán kính độ cong ở mọi kinh tuyến, trong khi mắt loạn thị có một kinh tuyến cong nhất với công suất khúc xạ cao nhất và một kinh tuyến ít cong nhất (gọi là kinh tuyến trục) với công suất khúc xạ thấp nhất Sự khác biệt về công suất giữa hai kinh tuyến chính khiến ảnh của quang hệ không còn là một điểm mà là hai đoạn thẳng gọi là tiêu tuyến.
Phân loại loạn thị theo nguyên nhân [7]:
- Loạn thị do giác mạc: gồm loạn thị đều và loạn thị không đều
Loạn thị đều là trạng thái trong đó các kinh tuyến thay đổi dần từ kinh tuyến có công suất khúc xạ cao nhất đến kinh tuyến có công suất khúc xạ thấp nhất Loạn thị đều gồm ba loại chính: loạn thị thuận, với kinh tuyến trục từ 0° đến 20° và 160° đến 180°, loạn thị nghịch, với kinh tuyến trục từ 70° đến 110°, và loạn thị chéo, với kinh tuyến trục từ 20° đến 70° và 110° đến 160°.
+ Loạn thị không đều: các kinh tuyến giác mạc có công suất khúc xạ không giống nhau ở các kinh tuyến, bề mặt giác mạc lồi lõm không đều
Loạn thị không do giác mạc bao gồm các loại loạn thị do thủy tinh thể và do võng mạc Loại loạn thị này thường đi kèm với cận thị nặng có hiện tượng giãn lồi cực sau Hiểu rõ nguyên nhân giúp chẩn đoán chính xác và lựa chọn phương pháp điều trị phù hợp để cải thiện thị lực hiệu quả.
Trẻ bị loạn thị thường gặp các triệu chứng như nhìn mờ, hình ảnh biến dạng và có thể ảnh hưởng đến cả thị lực gần và xa Ngoài ra, trẻ thường nheo mắt để cải thiện thị giác, kèm theo chảy nước mắt, mỏi mắt và đau đầu, là những dấu hiệu cảnh báo loạn thị cần được xử lý kịp thời.
1.1.2 Chẩn đoán tật khúc xạ
Chẩn đoán TKX chủ yếu dựa vào kết quả soi bóng đồng tử, trong đó, soi bóng đồng tử có tra thuốc liệt điều tiết là phương pháp quan trọng đặc biệt đối với trẻ nhỏ hoặc những trẻ không thể hợp tác để kiểm tra thị lực Phương pháp này giúp đánh giá chính xác tình trạng đồng tử và phát hiện sớm các vấn đề về thị lực ở đối tượng trẻ em, đóng vai trò then chốt trong việc chẩn đoán bệnh lý thị giác.
Soi bóng đồng tử sẽ cho chúng ta kết quả khúc xạ bao gồm độ cầu, trục loạn thị và độ trụ của từng mắt
Kiến thức, thái độ và hành vi về tật khúc xạ
1.2.1 Khái niệm kiến thức, thái độ, hành vi
Kiến thức là những hiểu biết có được nhờ học tập và trải nghiệm, giúp con người đưa ra những suy nghĩ đúng đắn và hành xử phù hợp trong từng tình huống Trong thời đại công nghệ số phát triển, việc tiếp cận kiến thức về chăm sóc sức khỏe, đặc biệt về Tật Khúc Xavier (TKX), ngày càng dễ dàng hơn Kiến thức về TKX bao gồm phân loại tật khúc xạ, yếu tố nguy cơ, triệu chứng, biến chứng và các phương pháp điều trị, giúp mọi người hiểu rõ bản chất và tầm quan trọng của việc phòng chống TKX Điều này góp phần nâng cao nhận thức và thúc đẩy thái độ, hành vi tích cực trong việc bảo vệ thị lực của bản thân.
Thái độ phản ánh tổng thể những biểu hiện bên ngoài như nét mặt, cử chỉ, lời nói và hành động thể hiện suy nghĩ, cảm xúc của một người đối với ai hoặc sự việc nào đó, cũng như cách nhìn nhận và hành xử theo một hướng nhất định trước một vấn đề hoặc tình huống Thái độ chịu ảnh hưởng từ kiến thức và kinh nghiệm sống trong xã hội, góp phần hình thành cách nghĩ và hành động của con người Đặc biệt, thái độ của cha mẹ đối với trẻ em bị tật khúc xạ (TKX) gồm việc đưa con đi khám mắt, tuân thủ điều trị, quan tâm đến ảnh hưởng của TKX, và thái độ đối với việc đeo kính Thái độ quyết định hành vi của con người, do đó, khi phát hiện thái độ tiêu cực về sức khỏe hoặc bệnh tật như TKX, cần phân tích nguyên nhân để từ đó áp dụng các hình thức truyền thông phù hợp nhằm thúc đẩy thái độ tích cực hơn.
Hành vi là cách phản ứng và cư xử bên ngoài của một người trong các hoàn cảnh nhất định, hình thành dựa trên kiến thức và thái độ của họ Khi thiếu kiến thức phù hợp, con người thường hành động theo thói quen hoặc cảm tính, dẫn đến những hành vi không đúng, đặc biệt trong lĩnh vực sức khỏe như phòng chống chứng TKX cho trẻ Những hành vi của cha mẹ trẻ liên quan đến phòng chống TKX rất đa dạng, bao gồm việc xây dựng góc học tập, hướng dẫn tư thế sinh hoạt, sắp xếp thời gian vui chơi, và thăm khám mắt định kỳ cho con.
1.2.2 Thực trạng kiến thức, thái độ và hành vi phòng chống tật khúc xạ trong cộng đồng
1.2.2.1 Các nghiên cứu ở học sinh và sinh viên
Nghiên cứu của Assefa NL (2021) trên 390 học sinh trung học tại Gondar, Ethiopia cho thấy tỷ lệ học sinh không hiểu rõ về định nghĩa, các yếu tố nguy cơ và triệu chứng của bệnh TKX lần lượt là 38,7%, 41,7% và 64,1% Ngoài ra, có đến 31,3% học sinh tin rằng đeo kính có thể gây hại cho mắt, trong khi chỉ 44,1% đồng ý rằng việc chỉnh kính là cần thiết cho người mắc TKX.
Một nghiên cứu của Nyamai LA (2016) trên 1.390 học sinh THCS tại Kenya cho thấy, có tới 39,0% học sinh đã từng đi khám mắt nhưng 30,1% trong số họ không biết liệu thị lực của mình có bình thường hay không Đồng thời, 22,7% học sinh không biết khám mắt ở đâu, và 37,8% cho rằng thiếu dinh dưỡng là nguyên nhân phổ biến gây giảm thị lực Trong số 427 học sinh đã được tư vấn đeo kính, chỉ có 148 em thừa nhận đã sử dụng kính, chủ yếu do sợ bị trêu chọc (38,1%) hoặc vì chi phí đắt đỏ (35,1%) Ngoài ra, kiến thức không đầy đủ về tật khúc xạ là một trong những nguyên nhân chính gây giảm thị lực ở các em học sinh.
Tại Al Hassa, Ả Rập Xê Út, nghiên cứu của Al Wadaani FA (2013) cho thấy chỉ 9,4% trẻ có thị lực kém được đeo kính để điều chỉnh TKX [52]
Theo Wang H (2022), trong số 373.459 học sinh Trung Quốc mắc cận thị, tỷ lệ học sinh không đeo kính lên tới 60,0%, đặc biệt tại cấp tiểu học là 74,9%, THCS 53,9% và THPT 35,5%, qua đó kiến nghị nâng cao giáo dục cộng đồng về chăm sóc mắt cho học sinh Khảo sát của Hoàng Văn Tiến (2004) tại ba trường tiểu học ở Hà Nội cho thấy 28,9% học sinh ngồi học sai tư thế, mặc dù các trường đã tổ chức hoạt động y tế học đường nhưng chất lượng còn hạn chế.
Nghiên cứu của Lê Thị Thanh Xuyên (2009) tại TP.Hồ Chí Minh cho thấy chỉ có 67,0% học sinh mắc tật khúc xạ đeo kính, mặc dù tỷ lệ mắc tật khá cao (39,4%), nhưng thái độ và hành vi của học sinh về tật khúc xạ còn chưa tốt, với 98,8% học sinh có thái độ và hành vi dưới mức khá Tại Hà Nội, Nguyễn Thị Thúy Hạnh (2015) ghi nhận tỷ lệ học sinh ngồi sai tư thế là 15,89% ở tiểu học và 26,50% ở trung học cơ sở, trong đó phần lớn nguồn cung cấp kiến thức cho các em là phụ huynh (77,88% ở tiểu học và 60,27% ở THCS) và giáo viên (55,45% ở tiểu học và 72,27% ở THCS) Vankudre GS (2021) cho biết chỉ có 54% sinh viên tại đại học Buraimi, Oman có thái độ tích cực đối với việc đeo kính, còn lại đầu thái độ tiêu cực (36%) và trung lập (10%).
Phái Vĩnh Bảo (2017) khảo sát 1.050 học viên tại ba trường đại học ở thành phố Hồ Chí Minh cho thấy chỉ có 16,5% học viên có kiến thức đúng về phòng chống TKX, trong khi chỉ có 16,8% thực hành đúng các biện pháp này Các học viên có thực hành chưa đúng có tỷ lệ mắc TKX cao gấp 33,5 lần so với những người thực hành đúng, cho thấy tầm quan trọng của việc nâng cao kiến thức và kỹ năng thực hành đúng trong phòng chống TKX để giảm thiểu nguy cơ mắc bệnh.
1.2.2.2 Các nghiên cứu ở cha mẹ trẻ
Nhiều nghiên cứu về cha mẹ trẻ chỉ ra những sai sót trong kiến thức, thái độ và hành vi liên quan đến bệnh tật về mắt (TKX) Theo nghiên cứu của McCrann S (2018) tại Ireland, chỉ 46,0% cha mẹ nhận thức được tầm ảnh hưởng của cận thị đến sức khỏe con, trong khi 31,0% xem đó là gánh nặng về chi phí và 14,0% coi việc đeo kính là mất thẩm mỹ Mặc dù 76,0% cha mẹ nhận thức được tác động của công nghệ số đối với mắt trẻ, đặc biệt là nguyên nhân gây mỏi mắt và cần đeo kính, nhưng chỉ 14,0% trong số họ lo lắng về việc con bị chẩn đoán cận thị.
Nghiên cứu của Desalegn A (2016) tại Ethiopia cho thấy 90,4% người dân sẵn sàng đeo kính khi được chuyên gia chăm sóc mắt kê đơn, và 87,7% tin rằng mọi lứa tuổi đều có thể đeo kính Tuy nhiên, có những trở ngại như lo sợ tình trạng mắt nặng hơn (24,0%) và định kiến xã hội (17,3%) khiến người dân không đeo kính Mặc dù 70,8% đồng ý rằng việc đeo kính không theo chỉ định có thể gây hại cho mắt, nhưng vẫn có tới 56,2% người đã đeo kính mà không đi khám bác sĩ Tại Gondar, người dân có thái độ tích cực về kính nhưng thực hành sử dụng kính còn hạn chế, phản ánh về sự cần thiết nâng cao kiến thức và ý thức chăm sóc mắt.
Nghiên cứu của Zhou S (2017) cho thấy rằng, học sinh ở Vũ Hán, Trung Quốc, có nguy cơ mắc cận thị cao gấp 2,12 lần nếu cha mẹ chỉ quan tâm đến thị lực sau tuổi đi học, so với những trẻ được cha mẹ chăm sóc từ trước tuổi đi học Trẻ được đảm bảo ngủ đủ giấc có nguy cơ mắc cận thị thấp hơn, với tỷ lệ 0,45 lần so với những trẻ không ngủ đủ Ngoài ra, hành vi điều chỉnh các thiết bị điện tử của cha mẹ ảnh hưởng đáng kể đến nguy cơ cận thị của trẻ: trẻ có cha mẹ thường xuyên điều chỉnh thiết bị có nguy cơ mắc cận thị cao gấp 0,53 lần so với trẻ có cha mẹ không bao giờ điều chỉnh Thái độ và hành vi của cha mẹ đóng vai trò quan trọng trong việc giảm nguy cơ cận thị ở trẻ trong độ tuổi đi học [47].
Nghiên cứu của Bassul C (2021) cho thấy trẻ em có cha mẹ xem TV nhiều hơn (≥1 giờ/ngày) có khả năng xem TV cùng mức độ cao hơn 1,65 lần so với trẻ có cha mẹ xem TV ít hơn (5 tuổi đeo kính khi mắc TKX Đồng tình/
Sẵn sàng cho trẻ dưới 5 tuổi đeo kính khi mắc TKX
Lo ngại trẻ đeo kính thường xuyên sẽ bị phụ thuộc kính
Lo ngại trẻ đeo kính thường xuyên sẽ làm TKX nặng hơn Dùng chung kính với trẻ khác tạm thời
Thái độ tuân thủ điều trị (đối với trẻ đã từng được chẩn đoán TKX)
Tần suất thực hiện các hành vi phòng chống
TKX Đảm bảo đèn học
Thường xuyên/ Đôi khi/ Không
Phỏng vấn Đảm bảo đèn phòng Hướng dẫn giải lao Hướng dẫn tư thế - khoảng cách Bàn ghế học phù hợp
Hoàn cảnh – không gian làm việc hợp lý Hạn chế đọc chữ nhỏ
Tham gia hoạt động ngoài trời
Bố trí xem TV hợp lý
Giới hạn thời gian sử dụng thiết bị điện tử Cài đặt thông số màn hình điện tử Khám mắt định kỳ
Mức kiến thức, thái độ, hành vi
Mức thái độ Mức hành vi
Các biến định lượng Điểm kiến thức Điểm Phân tích số liệu Điểm thái độ Điểm hành vi
Mục tiêu 2 Phân tích một số yếu tố liên quan đến kiến thức, thái độ, hành vi về TKX của cha mẹ trẻ em có TKX
Bảng 2.2 Biến số đặc điểm của cha mẹ trẻ
Biến số nghiên cứu Chỉ số Kỹ thuật thu thập
Giới tính Nam/ Nữ Quan sát và phỏng vấn Khu vực sinh sống* Nông thôn/ Thành thị Phỏng vấn Trình độ học vấn
≤THPT (tiểu học/ THCS/ THPT)/
>THPT (sơ cấp, trung cấp, đại học, cao đẳng, sau đại học)
Phỏng vấn và phân tích số liệu Tiền sử gia đình mắc TKX** Có/ Không Phỏng vấn
Khác (Truyền hình/ Sách vở, báo in/
Người thân, người quen, bạn bè/ Nhà trường, Bệnh viện)
Phỏng vấn và phân tích số liệu
Lần thứ 2 trở đi Phỏng vấn
Trong nghiên cứu của chúng tôi, nông thôn được hiểu là phần lãnh thổ không thuộc nội thành, nội thị các thành phố, thị xã, thị trấn, do Ủy ban nhân dân xã quản lý Thành thị là khu vực tập trung đông dân cư sinh sống, hoạt động chủ yếu trong các lĩnh vực phi nông nghiệp, và đóng vai trò trung tâm về kinh tế, chính trị, văn hoá, xã hội, du lịch, dịch vụ của cả nước, gồm thị trấn, thị xã, thành phố Các đơn vị hành chính nông thôn gồm xã, huyện, tỉnh, còn các đơn vị hành chính thành thị bao gồm thành phố, quận, phường, thị xã, thị trấn, theo Tiêu chuẩn của đơn vị hành chính do Nghị quyết của Ủy ban thường vụ Quốc hội ban hành ngày 25 tháng 5 năm 2016.
** Có thể là chính là cha/mẹ trẻ hoặc trẻ khác trong gia đình
*** Kênh tiếp nhận thông tin chính về TKX và chăm sóc mắt
**** Lần khám là lần đưa con đi khám mắt tại các cơ sở y tế trước đây
2.2.5 Phương pháp thu thập thông tin
- Phiếu nghiên cứu (bộ câu hỏi tham gia nghiên cứu);
- Phiếu chấp thuận tham gia nghiên cứu;
- Bản cung cấp thông tin nghiên cứu;
- Phương tiện khám và chẩn đoán TKX: bảng thị lực LogMAR 3m, thuốc liệt điều tiết (Atropin 0,5%, Cyclogyl 1%), đèn soi bóng đồng tử, hộp kính và gọng thử
● Khám và chẩn đoán TKX ở trẻ
- Đón tiếp trẻ và cha mẹ trẻ tại phòng khám;
- Khai thác bệnh sử, tiền sử Xác định lý do đến khám, các triệu chứng cơ năng, thời gian bị bệnh, những chẩn đoán và điều trị trước đây,
- Thử thị lực không kính cho trẻ, bắt đầu với mắt trái Chú ý đảm bảo bảng thị lực sạch và đủ ánh sáng;
- Tiến hành thử thị lực qua kính lỗ nếu thị lực