1 TRƯỜNG ĐẠI HỌC KIẾN TRÚC TP HCM KHOA MỸ THUẬT CÔNG NGHIỆP TIỂU LUẬN KẾT THÚC HỌC PHẦN IIIIXX MÔN LUẬT BẢN QUYỀN ĐỀ TÀI NHỮNG VẤN ĐỀ PHÁP LÝ VÀ THỰC TIỄN VỀ TRÁCH EWWNHIỆM PHÁP LÝ TRONG LUẬT BẢN QUYỀ[.]
Trang 11
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KIẾN TRÚC TP.HCM
KHOA MỸ THUẬT CÔNG NGHIỆP
Trang 3
3
MỤC LỤC
A MỞ ĐẦU 1
B NỘI DUNG 1
I KHÁI NIỆM TRÁCH NHIỆM PHÁP LÝ 1
1 Định nghĩa trách nhiệm pháp lý 1
2 Đặc điểm của trách nhiệm pháp lý 1
3 Ý nghĩa của trách nhiệm pháp lý……… 2
4 Phân loại trách nhiệm pháp lý 2
5 Năng lực trách nhiệm pháp lý 3
6 Truy cứu trách nhiệm pháp lý 4
II NHỮNG VẤN ĐỀ PHÁP LÝ TRONG LUẬT BẢN QUYỀN 5
1 Định nghĩa luật bản quyền 5
2 Đối tượng áp dụng của luật bản quyền 6
3 Đối tượng bảo hộ của luật bản quyền 6
4 Quy định về xâm phạm luật bản quyền 6
5 Đối tượng điều chỉnh của luật bản quyền 6
6 Phạm vi điều chỉnh của luật bản quyền 6
7 Phương pháp điều chỉnh của luật bản quyền 6
7.1 Khái niệm phương pháp điều chỉnh 6
7.2 Đặc điểm phương pháp điều chỉnh 7
8 Xử lý xâm phạm bản quyền 7
8.1 Xử lý xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ bằng biện pháp dân sự 7
8.2 Xử lý xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ bằng biện pháp hành chính và hình sự 10
III THỰC TIỄN VỀ TRÁCH NHIỆM PHÁP LÝ TRONG LUẬT BẢN QUYỀN 12
1 Thực trạng vi phạm bản quyền hiện nay 12
2 Vấn đề pháp lý phát sinh ở thực tiễn 14
IV KIẾN NGHỊ GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN NHỮNG VẤN ĐỀ PHÁP LÝ TRONG LUẬT BẢN QUYỀN 17
C KẾT LUẬN 19
D TÀI LIỆU THAM KHẢO 19
Trang 41
A MỞ ĐẦU
Giữa thời đại hội nhập quốc tế hiện nay, vấn đề luật bản quyền đang ngày càng thể hiện rõ tầm quan trọng trong sự phát triển chung của nhân loại, chỉ những quốc gia nào bảo vệ được quyền Sở hữu trí tuệ thì nền kinh tế mới phát triển ổn định, vững mạnh Từ đó, việc bảo hộ bản quyền đã trở thành vấn đề trọng tâm trong nội bộ của nhiều quốc gia trước thực trạng xâm phạm bản quyền đang trở thành vấn nạn mang tính toàn cầu Hơn ai hết, các tác giả, chủ sở hữu quyền tác giả cần thiết phải trang bị cho mình các kiến thức về quyền tác giả theo luật pháp để có các biện pháp ngăn chặn, bảo vệ quyền lợi trước vấn nạn xâm phạm bản quyền đang diễn biến ngày một nghiêm trọng hơn Dựa trên thế giới quan và việc kết hợp các phương pháp nghiên cứu như: phân tích, bổ sung, tổng hợp, so sánh, thống kê, chọn lọc nguồn tư liệu… tôi mong muốn có được nhận thức đúng đắn, khách quan và tổng thể; qua đó tích lũy kiến thức và liên hệ được với những quyền lợi và trách nhiệm của bản thân trong lĩnh vực sáng tạo
Bài tiểu luận này sẽ tập trung vào các vấn đề pháp lý và thực tiễn của trách nhiệm pháp lý trong luật bản quyền qua việc nghiên cứu về luật bản quyền, xác định rõ những hành vi vi phạm luật bản quyền, thực trạng vi phạm bản quyền và các quy định về truy cứu trách nhiệm pháp lý đối với hành
vi vi phạm luật bản quyền theo pháp luật Việt Nam, từ đó đề xuất một số giải pháp nhằm đóng góp hoàn thành quy định của pháp luật để việc bảo vệ luật bản quyền bằng biện pháp pháp lý trở thành
cơ chế phổ biến và hữu hiệu nhất
ta cũng có thể hiểu trách nhiệm pháp lý là việc chủ thể phải chấp hành các biện pháp cưỡng chế của Nhà nước do trước đó họ đã vi phạm pháp luật hoặc có thiệt hại xảy ra do những nguyên nhân khác
2 Đặc điểm của trách nhiệm pháp lý:
- Trách nhiệm pháp lý là một loại trách nhiệm do luật pháp quy định Đây chính là khác biệt lớn nhất giữa loại trách nhiệm đặc biệt này với các loại trách nhiệm xã hội khác như: trách nhiệm đạo đức, trách nhiệm chính trị, trách nhiệm tôn giáo…
- Trách nhiệm pháp lý luôn gắn liền với các biện pháp cưỡng chếđược Nhà nước Việt Nam quy định rõ ràng trong phần chế tài của các quy phạm pháp luật Đây cũng được coi là 1 điểm khác biệt lớn giữa trách nhiệm pháp lý và các biện pháp cưỡng chế khác của Nhà nước như: bắt buộc chữa bệnh, giải phóng mặt bằng…
- Trách nhiệm pháp lý luôn là hậu quả pháp lý bất lợi đối với chủ thể, nó thể hiện rõ qua việc chủ thể phải chịu những thiệt hại nhất định về tài sản, về tự do… theo đúng như quy định của Nhà nước khi họ vi phạm pháp luật
Trang 5có vi phạm pháp luật hoặc có thiệt hại xảy ra do những nguyên nhân khác được pháp luật quy định
3 Ý nghĩa của trách nhiệm pháp lý:
- Trách nhiệm pháp lý giúp ngăn ngừa, giáo dục và cải tạo những hành vi vi phạm pháp luật, chủ thể phải chịu hậu quả về trách nhiệm hình sự, trách nhiệm dân sự, trách nhiệm hành chính, trách nhiệm kỉ luật trước pháp luật
- Trách nhiệm pháp lý sẽ giáo dục mọi người có ý thức tôn trọng, chấp hành đúng theo quy định pháp luật và tin tưởng pháp luật
4 Phân loại trách nhiệm pháp lý:
Đối với mỗi loại hành vi vi phạm khác nhau tùy thuộc vào hành vi đó là gì, hậu quả do hành vi
đó gây ra là như thế nào sẽ là cơ sở để xem xét người thực hiện hành vi phải chịu trách nhiệm hình
sự, trách nhiệm dân sự hay là trách nhiệm hành chính, xử lý kỷ luật theo quy định Các loại trách nhiệm pháp lý này đều do đều do các chủ thể có thẩm quyền áp dụng đối với cá nhân hoặc tổ chức
có hành vi vi phạm pháp luật để nhằm mục đích giáo dục, trừng trị những người có hành vi vi phạm pháp luật đồng thời giáo dục ý thức tuân thủ pháp luật đối với những cá nhân, những tổ chức khác
từ đó sẽ hạn chế được những hành vi vi phạm pháp luật
- Trách nhiệm hình sự:
+ Loại trách nhiệm nghiêm khắc nhất do toà án áp dụng đối với người phạm tội
+ Trách nhiệm hình sự là một dạng trách nhiệm pháp lí, bao gồm: nghĩa vụ phải chịu sự tác động của hoạt động truy cứu trách nhiệm hình sự, chịu bị kết tội, chịu biện pháp cưỡng chế của trách nhiệm hình sự (hình phạt, biện pháp tư pháp) và chịu mang án tích
+ Trách nhiệm hình sự gồm có: cảnh cáo, phạt tiền, cải tạo không giam giữ, tù có thời hạn, tù chung thân, tử hình Ngoài các hình phạt trên còn có thể áp dụng một hoặc nhiều hình phạt bổ sung như cấm đảm nhiệm những chức vụ, làm những nghề hoặc công việc nhất định; cấm cư trú; quản chế; tước một số quyền công dân, tước danh hiệu quân nhân, tịch thu tài sẵn; phạt tiền khi không
áp dụng là hình phạt chính
+ Các hình thức xử lí: Phạt chính, phạt bổ sung, các biện pháp khắc phục
+ Ví dụ về trách nhiệm pháp lý hình sự: A vận chuyển ma túy và bị cơ quan công an bắt quả tang Do đó, A sẽ phải chịu trách nhiệm pháp lý hình sự
- Trách nhiệm dân sự:
Trang 63
+ Loại trách nhiệm pháp lí do toà án áp dụng đối với cá nhân, tổ chức có hành vi vi phạm pháp luật dân sự Trách nhiệm dân sự bao gồm buộc xin lỗi, cải chính công khai, buộc thực hiện nghĩa
vụ dân sự; buộc bổi thường thiệt hại, phạt vi phạm
+ Các hình thức xử lí: Bồi thường thiệt hại, các biện pháp khắc phục
+ Ví dụ về trách nhiệm pháp lý dân sự: A lái xe máy, do không để ý đã đâm đổ bờ tường của ủy ban nhân dân xã Do đó, A phải chịu trách nhiệm dân sự như xin lỗi và buộc phải bồi thường khắc phục lại bờ tường bị đổ do mình gây ra
- Trách nhiệm hành chính:
+ Là trách nhiệm của 1 cá nhân, cơ quan, tổ chức đã tạo ra 1 vi phạm hành chính và phải gánh chịu biện pháp cưỡng chế hành chính Loại hình cưỡng chế sẽ thay đổi tuỳ thuộc vào mức độ vi phạm của cá nhân/tổ chức ấy Biện pháp cưỡng chế sẽ do 1 cơ quan có thẩm quyền quyết định + Các hình thức xử lí: Cảnh cáo, phạt tiền
- Trách nhiệm hiến pháp là trách nhiệm mà 1 chủ thể phải gánh chịu khi họ vi phạm hiến pháp, chế tài đi kèm trách nhiệm này Trách nhiệm hiến pháp vừa là trách nhiệm pháp lý đồng thời cũng
là trách nhiệm chính trị Chủ thể phải chịu trách nhiệm hiến pháp thường là các cơ quan Nhà nước hoặc những quan chức cấp cao làm việc cho Nhà nước
+ Ví dụ về trách nhiệm hành chính: A điều khiển xe máy và bị cơ quan công an yêu cầu dừng lại
để kiểm tra nồng độ cồn Kết quả kiểm tra nồng độ cồn của A vượt quá mức quy định nên sẽ bị xử phạt hành chính theo quy định của pháp luật
- Đối với tổ chức, năng lực trách nhiệm pháp lí xuất hiện từ khi có quyết định thành lập tổ chức
và chấm dứt khi tổ chức đó giải thể Đối với cá nhân, năng lực trách nhiệm pháp lí được pháp luật của Nhà nước ta quy định như sau: người từ đủ mười sáu tuổi trở lên phải chịu trách nhiệm hình sự
về mọi tội phạm, chịu trách nhiệm hành chính về mọi vi phạm hành chính; người từ đủ mười bốn tuổi trở lên phải chịu trách nhiệm hình sự về những tội phạm nghiêm trọng do cố ý, phải chịu trách
Trang 74
nhiệm hành chính do cố ý thực hiện vi phạm hành chính Ngoài điều kiện về độ tuổi, người có năng lực chịu trách nhiệm pháp lí phải là người có trạng thái thần kinh bình thường, không mắc bệnh tâm thần hay căn bệnh khác mà không điều chỉnh được hành vi của mình
- Trách nhiệm pháp lý còn là việc cá nhân, tổ chức cần phải thực hiện nghĩa vụ của mình trước pháp luật, tùy theo tính chất, mức độ hành vi gây ra cá nhân, tổ chức phải gánh chịu trách nhiệm hình sự, hành chính và bồi thường dân sự
6 Truy cứu trách nhiệm pháp lý:
Truy cứu trách nhiệm pháp lý là hoạt động thể hiện quyền lực nhà nước do cơ quan nhà nước hay nhà chức trách có thẩm quyền tiến hành nhằm cá biệt hoá bộ phận chế tài của quy phạm pháp luật đối với các chủ thể vi phạm pháp luật
- Ví dụ: Khi cảnh sát giao thông ra quyết định xử phạt người vi phạm pháp luật giao thông có nghĩa là cảnh sát đã truy cứu trách nhiệm pháp lý đối với người vi phạm đó
- Truy cứu trách nhiệm pháp lý là hoạt động thể hiện quyền lực nhà nước Điều đó được thể hiện ở những điểm sau:
+ Hoạt động truy cứu trách nhiệm pháp lý do các cơ quan nhà nước, nhà chức trách có thẩm quyền hoặc chủ thể được pháp luật trao quyền tiến hành theo quy định của pháp luật và mỗi chủ thể
đó cũng chỉ được truy cứu trách nhiệm pháp lý trong một phạm vi nhất định theo quy định của pháp luật Chủ thể bị truy cứu trách nhiệm pháp lý là chủ thể vi phạm pháp luật
+ Truy cứu trách nhiệm pháp lý là sự tiếp tục thể hiện ý chí của nhà nước Thông qua hoạt động này, ý chí của nhà nước thể hiện qua việc quy định các biện pháp cưỡng chế nhà nước cần áp dụng đối với chủ thể vi phạm pháp luật sẽ trở thành hiện thực trong thực tế
+ Nội dung các quyết định được ban hành trong quá trình truy cứu trách nhiệm pháp lý luôn thể hiện ý chí đơn phương của chủ thể tiến hành truy cứu trách nhiệm pháp lý trên cơ sở nhận thức và niềm tin nội tâm của họ về bản chất của vụ việc và các quy định của pháp luật mà không phụ thuộc vào ý chí của chủ thể vi phạm pháp luật Các quyết định này có ý nghĩa bắt buộc thực hiện đối với các chủ thể vi phạm pháp luật và các chủ thể khác có liên quan
- Truy cứu trách nhiệm pháp lý là việc cá biệt hoá các biện pháp cưỡng chế nhà nước được quy định trong bộ phận chế tài của các quy phạm pháp luật đối với chủ thể vi phạm pháp luật, tức là áp dụng một biện pháp cưỡng chế nhà nước cụ thể được quy định trong phần chế tài của quy phạm pháp luật đối với chủ thể vi phạm pháp luật tuỳ theo mức độ vi phạm của họ
- Truy cứu trách nhiệm pháp lý là hoạt động có trình tự, thủ tục chặt chẽ do pháp luật quy định
để có thể bảo đảm tính nghiêm minh của pháp luật và tính đúng đắn, chính xác của hoạt động truy cứu trách nhiệm pháp lý, hạn chế đến mức thấp nhất những sai lầm có thể xảy ra, tránh hiện tượng oan sai, bỏ lọt vi phạm
- Truy cứu trách nhiệm pháp lý là hoạt động đòi hỏi phải sáng tạo Vì các vụ việc vi phạm pháp luật xảy ra trong thục tế rất đa dạng và phức tạp, trong khi đó pháp luật thường chỉ dự liệu nhũng tình tiết có tính chất phổ biến, điển hình mà không mô tả tỉ mỉ từng tình tiết của vụ việc
Do vậy, khi truy cứu trách nhiệm pháp lý, các cơ quan nhà nước, nhà chức trách có thẩm quyền phải thu thập và xử lí thông tin một cách đầy đủ, chính xác, xem xét một cách toàn diện và kĩ lưỡng nhằm xác định sự thật khách quan của vụ việc, so sánh, đối chiếu với các quy định của pháp luật,
Trang 85
lựa chọn quy phạm pháp luật phù hợp để áp dụng sao cho đúng chủ thể, đúng tính chất, mức độ vi phạm
1 Định nghĩa luật bản quyền:
Bản quyền là quyền của tổ chức, cá nhân, bao gồm quyền tác giả và quyền liên quan đến quyền tác giả Bản quyền bảo vệ một loạt thể loại tác phẩm gốc, bao gồm sách, chương trình truyền hình, bài hát, ảnh chụp, tranh vẽ và nhiều tác phẩm khác Nói chung, những thứ như tên, tiêu đề, khẩu hiệu hoặc cụm từ ngắn thường không được coi là đủ tính nguyên bản để bảo vệ bản quyền Tuy nhiên, chúng có thể được bảo vệ dưới dạng quyền sở hữu trí tuệ khác, ví dụ như thương hiệu Bản quyền thường cũng không bảo vệ các sự thật hoặc ý tưởng cơ bản, nhưng nó có thể bảo vệ các từ ngữ hoặc hình ảnh cụ thể dùng để truyền đạt sự thật hoặc ý tưởng đó
Luật bảo hộ bản quyền hay được nói chính xác hơn là “Luật sở hữu trí tuệ” “Luật sở hữu trí tuệ” ở Việt Nam được ban hành đầu tiên vào ngày 29/11/2005, có hiệu lực ngày 01/7/2006 Luật bảo hộ đối với bản quyền quy định về quyền tác giả, các quyền liên quan đến quyền tác giả, quyền sở hữu công nghiệp, quyền đối với giống cây trồng và việc bảo hộ các quyền đó
Theo điều 14 Luật Sở hữu trí tuệ 2005 được sửa đổi, bổ sung 2009, các loại hình tác phẩm được bảo hộ quyền tác giả bao gồm:
- Tác phẩm văn học, khoa học, sách giáo khoa, giáo trình và tác phẩm khác được thể hiện dưới dạng chữ viết hoặc ký tự khác;
- Bài giảng, bài phát biểu và bài nói khác;
- Bản hoạ đồ, sơ đồ, bản đồ, bản vẽ liên quan đến địa hình, kiến trúc, công trình khoa học;
- Tác phẩm văn học, nghệ thuật dân gian;
- Chương trình máy tính, sưu tập dữ liệu
Các đối tượng không thuộc phạm vi bảo hộ quyền tác giả bao gồm:
- Tin thức thời sự thuần tuý đưa tin;
- Văn bản quy phạm pháp luật, văn bản hành chính, văn bản khác thuộc lĩnh vực tư
pháp và bản dịch chính thức của văn bản đó;
- Quy trình, hệ thống, phương pháp hoạt động, khái niệm, nguyên lý, số liệu
2 Đối tượng áp dụng của luật bản quyền:
Tại Phần 1, Điều 2 của Luật Sở hữu trí tuệ số 50/2005/QH11năm 2005 sửa đổi bổ sung năm
2009 và năm 2019 có nêu: “Luật này áp dụng đối với tổ chức, cá nhân Việt Nam; tổ chức, cá nhân
Trang 96
nước ngoài đáp ứng các điều kiện quy định tại Luật này và điều ước quốc tế mà Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên.”
3 Đối tượng bảo hộ của luật bản quyền:
Tại Phần 1, Điều 3 của Luật Sở hữu trí tuệ số 50/2005/QH11 năm 2005 sửa đổi bổ sung năm
2009 và năm 2019 có nêu đối tượng quyền sở hữu trí tuệ bao gồm:
“Đối tượng quyền tác giả bao gồm tác phẩm văn học, nghệ thuật, khoa học; đối tượng quyền liên quan đến quyền tác giả bao gồm cuộc biểu diễn, bản ghi âm, ghi hình, chương trình phát sóng, tín hiệu vệ tinh mang chương trình được mã hoá
Đối tượng quyền sở hữu công nghiệp bao gồm sáng chế, kiểu dáng công nghiệp, thiết kế bố trí mạch tích hợp bán dẫn, bí mật kinh doanh, nhãn hiệu, tên thương mại và chỉ dẫn địa lý
Đối tượng quyền đối với giống cây trồng là vật liệu nhân giống và vật liệu thu hoạch.”
4 Quy định về xâm phạm luật bản quyền:
Căn cứ vào Điều 5 Nghị định 105/2006/NĐ-CP có quy định về việc xâm phạm như sau:
“Hành vi bị xem xét bị coi là hành vi xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ quy định tại các Điều 28,
35, 126, 127, 129 và 188 của Luật Sở hữu trí tuệ, khi có đủ các căn cứ sau đây:
1 Đối tượng bị xem xét thuộc phạm vi các đối tượng đang được bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ
2 Có yếu tố xâm phạm trong đối tượng bị xem xét
3 Người thực hiện hành vi bị xem xét không phải là chủ thể quyền sở hữu trí tuệ và không phải
là người được pháp luật hoặc cơ quan có thẩm quyền cho phép theo quy định tại các Điều 25, 26,
32, 33, khoản 2 và khoản 3 Điều 125, Điều 133, Điều 134, khoản 2 Điều 137, các Điều 145, 190 và
195 của Luật Sở hữu trí tuệ
4 Hành vi bị xem xét xảy ra tại Việt Nam.”
5 Đối tượng điều chỉnh của luật bản quyền:
Luật bản quyền áp dụng đối với tổ chức, cá nhân Việt Nam; tổ chức, cá nhân nước ngoài đáp ứng các điều kiện quy định tại Luật này và điều ước quốc gế mà Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên
6 Phạm vi điều chỉnh của luật bản quyền:
Luật sở hữu trí tuệ năm 2005 sửa đổi bổ sung 2009, 2019 quy định trong Điều 1 về phạm vi điều chỉnh bao gồm: quyền tác giả, quyền liên quan đến quyền tác giả, quyền sở hữu công nghiệp, quyền đối với giống cây trồng và việc bảo hộ các quyền đó
7 Phương pháp điều chỉnh của luật bản quyền:
7.1 Khái niệm phương pháp điều chỉnh:
Luật sở hữu trí tuệ điều chỉnh các quan hệ phát sinh trong quá trình sáng tạo, sử dụng, chuyển giao các sản phẩm là đối tượng của quyền sở hữu trí tuệ, theo đó các quyền nhân thân, quyền tài sản của các chủ thể được pháp luật bảo đảm thực hiện Luật sở hữu trí tuệ là hành lang pháp lý cho
cá nhân, tổ chức và các chủ thể khác thực hiện quyền tự định đoạt trong việc sáng tạo ra các sản phẩm trí tuệ, đáp ứng nhu cầu về vật chất và tinh thần ngày càng cao trong các lĩnh vực của đời sống xã hội
Trang 107
Phương pháp điều chỉnh của luật sở hữu trí tuệ được hiểu là tổng hợp những nguyên tắc, cách thức và biện pháp của Nhà nước nhằm tác động lên nhóm quan hệ xã hội phát sinh trong lĩnh vực sáng tạo, sử dụng và chuyển giao các sản phẩm là đối tượng của quyền sở hữu trí tuệ, bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ của các chủ thể đồng thời làm cho các quan hệ đó phát sinh, thay đổi, chấm dứt theo trật tự pháp lý nhất định
7.2 Đặc điểm phương pháp điều chỉnh:
Quan hệ về quyền sở hữu trí tuệ là loại quan hệ dân sự liên quan đến tài sản đặc biệt - “tài sản trí tuệ”, do vậy phương pháp điều chỉnh của luật sở hữu trí tuệ mang các đặc điểm phương pháp điều chỉnh của luật dân sự Tuy nhiên, đối tượng của quan hệ về quyền sở hữu trí tuệ là tài sản vô hình cho nên phương pháp điều chỉnh của luật sở hữu trí tuệ có mộtnsố đặc điểm riêng:
- Bảo đảm bình đẳng về địa vị pháp lý của các chủ thể
- Bảo đảm quyền tự định đoạt của chủ thể
- Bảo đảm sự cân bằng các lợi ích trong xã hội
- Trách nhiệm dân sự do xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ mang tính nhân thân và tính tài sản: Do đặc điểm của quyền sở hữu trí tuệ, hành vi xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ là những hành vi xâm phạm không những đến quyền nhân thân mà còn xâm phạm đến quyền tài sản của chủ thể của quyền sở hữu trí tuệ, theo đó trách nhiệm của người có hành vi xâm phạm đến quyền sở hữu trí tuệ là trách nhiệm vừa mang chất tài sản vừa mang tính nhân thân
+ Trách nhiệm về nhân thân: Quyền nhân thân trong quan hệ pháp luật về quyền sở hữu trí tuệ
là tiền đề của quyền tài sản Thiệt hại về tinh thần liên quan đến quyền sở hữu trí tuệ là những tổn thất về danh tự, nhân phẩm, uy tín, danh tiếng và những tổn thất khác về tinh thần của tác giả tác phẩm văn học, nghệ thuật, khoa học; người biểu diễn, tác giả của sáng chế, kiểu dáng công nghiệp, thiết kế bố trí mạch tích hợp bán dẫn và giống cây trồng Trách nhiệm dân sự do xâm phạm quyền nhân thân của chủ sở hữu các đối tượng thuộc quyền sở hữu trí tuệ thường là những hành vi xâm phạm quyền được bảo vệ trọn vẹn về nội dung của tác phẩm, công trình; xâm phạm đến quyền công
bố tác phẩm, công trình của tác giả, của chủ sở hữu quyền tác giả; xâm phạm đến danh dự, uy tính của các nhân, tổ chức trong sinh hoạt cũng như trong sản xuất, kinh doanh
+ Trách nhiệm mang tính tài sản: Là trách nhiệm bồi thường thiệt hại về vật chất do có tổn thất
về tài sản, mức giảm sút về thu nhập, lợi nhuận, tổn thất kinh tế, chi phí hợp lý để ngăn chặn, khắc phục thiệt hại Thiệt hại về tài sản được xác định dựa trên những lợi ích vật chất của chủ-thể có quyền sở hữu trí tuệ bị giảm sút hoặc bị mất sau khi có hành vi xâm phạm xảy ra so với khả năng đạt được lợi ích đó khi không có hành vi xâm phạm Hành vi xâm phạm là nguyên ngân gây ra sự mất hoặc giảm sút lợi ích đó Thiệt hại về tài sản là những tổn thất có thể được xác định theo giá chuyển nhượng quyền sở hữu hoặc giá chuyển nhượng quyền sử dụng hoặc giá góp vốn kinh doanh bằng quyền sở hữu trí tuệ
8 Xử lý xâm phạm bản quyền:
Luật sở hữu trí tuệ năm 2005 sửa đổi bổ sung 2009, 2019 có quy định như sau:
8.1 Xử lý xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ bằng biện pháp dân sự:
Điều 202 Các biện pháp dân sự
Trang 118
Tòa án áp dụng các biện pháp dân sự sau đây để xử lý tổ chức, cá nhân có hành vi xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ:
1 Buộc chấm dứt hành vi xâm phạm;
2 Buộc xin lỗi, cải chính công khai;
3 Buộc thực hiện nghĩa vụ dân sự;
4 Buộc bồi thường thiệt hại;
5 Buộc tiêu hủy hoặc buộc phân phối hoặc đưa vào sử dụng không nhằm mục đích thương mại đối với hàng hóa, nguyên liệu, vật liệu và phương tiện được sử dụng chủ yếu để sản xuất, kinh doanh hàng hóa xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ với điều kiện không làm ảnh hưởng đến khả năng khai thác quyền của chủ thể quyền sở hữu trí tuệ
Điều 203 Quyền và nghĩa vụ chứng minh của đương sự
1 Nguyên đơn và bị đơn trong vụ kiện xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ có quyền và nghĩa vụ chứng minh theo quy định tại Điều 79 của Bộ luật tố tụng dân sự và theo quy định tại Điều này
2 Nguyên đơn chứng minh mình là chủ thể quyền sở hữu trí tuệ bằng một trong các chứng cứ sau đây:
a) Bản sao Giấy chứng nhận đăng ký quyền tác giả, Giấy chứng nhận đăng ký quyền liên quan, văn bằng bảo hộ; bản trích lục Sổ đăng ký quốc gia về quyền tác giả, quyền liên quan, Sổ đăng ký quốc gia về sở hữu công nghiệp, Sổ đăng ký quốc gia về giống cây trồng được bảo hộ;
b) Chứng cứ cần thiết để chứng minh căn cứ phát sinh quyền tác giả, quyền liên quan trong trường hợp không có Giấy chứng nhận đăng ký quyền tác giả, Giấy chứng nhận đăng ký quyền liên quan; chứng cứ cần thiết để chứng minh quyền đối với bí mật kinh doanh, tên thương mại, nhãn hiệu nổi tiếng;
c) Bản sao hợp đồng sử dụng đối tượng sở hữu trí tuệ trong trường hợp quyền sử dụng được chuyển giao theo hợp đồng
3 Nguyên đơn phải cung cấp các chứng cứ về hành vi xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ hoặc hành
vi cạnh tranh không lành mạnh
4 Trong vụ kiện về xâm phạm quyền đối với sáng chế là một quy trình sản xuất sản phẩm, bị đơn phải chứng minh sản phẩm của mình được sản xuất theo một quy trình khác với quy trình được bảo hộ trong các trường hợp sau đây:
a) Sản phẩm được sản xuất theo quy trình được bảo hộ là sản phẩm mới;
b) Sản phẩm được sản xuất theo quy trình được bảo hộ không phải là sản phẩm mới nhưng chủ sở hữu sáng chế cho rằng sản phẩm do bị đơn sản xuất là theo quy trình được bảo hộ và mặc dù đã sử dụng các biện pháp thích hợp nhưng vẫn không thể xác định được quy trình do bị đơn sử dụng
5 Trong trường hợp một bên trong vụ kiện xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ chứng minh được chứng cứ thích hợp để chứng minh cho yêu cầu của mình bị bên kia kiểm soát do đó không thể tiếp cận được thì có quyền yên cầu Tòa án buộc bên kiểm soát chứng cứ phải đưa ra chứng cứ đó
6 Trong trường hợp có yêu cầu bồi thường thiệt hại thì nguyên đơn phải chứng minh thiệt hại thực tế đã xảy ra và nêu căn cứ xác định mức bồi thường thiệt hại theo quy định tại Điều 205 của Luật này
Điều 204 Nguyên tắc xác định thiệt hại do xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ
Trang 129
1 Thiệt hại do hành vi xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ bao gồm:
a) Thiệt hại về vật chất bao gồm các tổn thất về tài sản, mức giảm sút về thu nhập, lợi nhuận, tổn thất về cơ hội kinh doanh, chi phí hợp lý để ngăn chặn, khắc phục thiệt hại;
b) Thiệt hại về tinh thần bao gồm các tổn thất về danh dự, nhân phẩm, uy tín, danh tiếng và những tổn thất khác về tinh thần gây ra cho tác giả của tác phẩm văn học, nghệ thuật, khoa học; người biểu diễn; tác giả của sáng chế, kiểu dáng công nghiệp, thiết kế bố trí, giống cây trồng
2 Mức độ thiệt hại được xác định trên cơ sở các tổn thất thực tế mà chủ thể quyền sở hữu trí tuệ phải chịu do hành vi xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ gây ra
Điều 205 Căn cứ xác định mức bồi thường thiệt hại do xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ
1 Trong trường hợp nguyên đơn chứng minh được hành vi xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ đã gây thiệt hại về vật chất cho mình thì có quyền yêu cầu Tòa án quyết định mức bồi thường theo một trong các căn cứ sau đây:
a) Tổng thiệt hại vật chất tính bằng tiền cộng với khoản lợi nhuận mà bị đơn đã thu được do thực hiện hành vi xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ, nếu khoản lợi nhuận bị giảm sút của nguyên đơn chưa được tính vào tổng thiệt hại vật chất;
b) Giá chuyển giao quyền sử dụng đối tượng sở hữu trí tuệ với giả định bị đơn được nguyên đơn chuyển giao quyền sử dụng đối tượng đó theo hợp đồng sử dụng đối tượng sở hữu trí tuệ trong phạm vi tương ứng với hành vi xâm phạm đã thực hiện;
c) Thiệt hại vật chất theo các cách tính khác do chủ thể quyền sở hữu trí tuệ đưa ra phù hợp với quy định của pháp luật;
d) Trong trường hợp không thể xác định được mức bồi thường thiệt hại về vật chất theo các căn
cứ quy định tại các điểm a, b và c khoản này thì mức bồi thường thiệt hại về vật chất do Tòa án ấn định, tùy thuộc vào mức độ thiệt hại, nhưng không quá năm trăm triệu đồng
2 Trong trường hợp nguyên đơn chứng minh được hành vi xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ đã gây thiệt hại về tinh thần cho mình thì có quyền yêu cầu Tòa án quyết định mức bồi thường trong giới hạn từ năm triệu đồng đến năm mươi triệu đồng, tùy thuộc vào mức độ thiệt hại
3 Ngoài khoản bồi thường thiệt hại quy định tại khoản 1, khoản 2 Điều này, chủ thể quyền sở hữu trí tuệ có quyền yêu cầu Tòa án buộc tổ chức, cá nhân có hành vi xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ phải thanh toán chi phí hợp lý để thuê luật sư
Điều 206 Quyền yêu cầu Tòa án áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời
1 Khi khởi kiện hoặc sau khi khởi kiện, chủ thể quyền sở hữu trí tuệ có quyền yêu cầu Tòa án
áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời trong các trường hợp sau đây:
a) Đang có nguy cơ xảy ra thiệt hại không thể khắc phục được cho chủ thể quyền sở hữu trí tuệ; b) Hàng hóa bị nghi ngờ xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ hoặc chứng cứ liên quan đến hành vi xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ có nguy cơ bị tẩu tán hoặc bị tiêu hủy nếu không được bảo vệ kịp thời
2 Tòa án quyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời theo yêu cầu của chủ thể quyền sở hữu trí tuệ quy định tại khoản 1 Điều này trước khi nghe ý kiến của bên bị áp dụng biện pháp đó
Điều 207 Các biện pháp khẩn cấp tạm thời