1. Trang chủ
  2. » Tất cả

Xu hướng phát triển giáo dục đại học trên thế giới các khuyến nghị cho việt nam

7 6 0

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Xu hướng phát triển giáo dục đại học trên thế giới các khuyến nghị cho Việt Nam
Tác giả PGS.TS. Hoàng Minh Sơn, PGS.TS. Bùi Thị Thúy Hằng, TS. Nguyễn Thị Hương Giang
Trường học Trường Đại học Bách khoa Hà Nội
Chuyên ngành Giáo dục đại học
Thể loại Bài báo khoa học
Năm xuất bản 2023
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 7
Dung lượng 411,67 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

xu hƯớng phát triỂn giáo dụC đẠi họC trên thế giới CáC khuyến nghỊ Cho viỆt nam PGS TS Hoàng Minh Sơn1 PGS TS Bùi Thị Thúy Hằng2 TS Nguyễn Thị Hương Giang3 Tóm tắt Xu hướng toàn cầu hóa, sự phát triển[.]

Trang 1

xu hƯớng phát triỂn giáo dụC đẠi họC trên thế giới

- CáC khuyến nghỊ Cho viỆt nam

PGS.TS Hoàng Minh Sơn 1 PGS.TS Bùi Thị Thúy Hằng 2

TS Nguyễn Thị Hương Giang 3

Tóm tắt: Xu hướng toàn cầu hóa, sự phát triển nhanh chóng của công nghệ thông

tin, tri thức và những thay đổi trong cơ cấu dân số, những thách thức của nền kinh tế tri thức và bài toán toàn cầu sẽ dẫn tới những biến đổi tất yếu trong giáo dục nói chung và giáo dục đại học nói riêng Bài báo này sẽ đi sâu phân tích 6 xu hướng phát triển của giáo dục đại học trên thế giới liên quan đến: Quốc tế hóa; Hợp tác nghiên cứu; Sự di chuyển trong sinh viên; Đảm bảo chất lượng; Tìm kiếm việc làm cho sinh viên tốt nghiệp; Số hóa trong giáo dục đại học Từ đó chúng tôi sẽ đối chiếu chúng với thực trạng giáo dục đại học ở Việt Nam rồi đưa ra các khuyến nghị đối với Chính phủ, toàn ngành giáo dục cũng như các cơ sở giáo dục đại học của Việt Nam sẽ được đề xuất nhằm chuẩn bị và tiếp nhận tốt nhất những xu hướng đó

Từ khóa: Xu hướng phát triển, Giáo dục đại học, Việt Nam, Xu hướng quốc tế,

Các khuyến nghị.

Giáo dục đại học từ khi xuất hiện cho đến nay đã có những bước phát triển liên tục và mạnh mẽ, đặc biệt trong bối cảnh của cuộc cách mạng Công nghiệp 4.0 hiện nay, giáo dục đại học đã có nhiều động lực để phát triển: yêu cầu đa dạng, xu hướng quốc tế hóa, đại chúng hóa, đòi hỏi học tập suốt đời, công nghệ giáo dục, trách nhiệm xã hội trước những vấn đề lớn của thời đại và của nhân loại, sự thay đổi vai trò của chính phủ Có thể thấy giáo dục đại học ngày nay có tính phổ quát, vai trò

và trách nhiệm của trường đại học với xã hội ngày càng cao, ngày càng có những tác động mạnh mẽ cũng như chịu sự tác động mạnh mẽ của xu hướng phát triển kinh

tế xã hội của quốc gia và của thế giới Xu hướng toàn cầu hóa, sự phát triển nhanh chóng của công nghệ thông tin, của tri thức và những thay đổi trong cơ cấu dân số, những thách đố của kinh tế tri thức, những bài toán toàn cầu sẽ dẫn tới những biến đổi tất yếu trong giáo dục nói chung và giáo dục đại học nói riêng trên toàn thế giới

1, 2, 3 Trường Đại học Bách khoa Hà Nội.

Trang 2

1 Các xu hướng phát triển của giáo dục đại học trên thế giới

1.1 Quốc tế hóa

Bên cạnh nhiệm vụ phát triển nghiên cứu, giảng dạy và đổi mới, sự quốc tế hóa trong giáo dục ngày càng được xem là phương tiện để phát triển tầm nhìn và ảnh hưởng của cơ sở đào tạo và của quốc gia Báo cáo của Hội đồng Anh về các chính sách quốc gia liên quan đến sự tham gia quốc tế vào giáo dục đại học cho thấy, số lượng các quốc gia cam kết vào sự quốc tế hóa trong giáo dục đại học gia tăng Ví dụ,

23 trong số 26 quốc gia được nghiên cứu hiện đang có các chính sách hiệu quả nhằm thúc đẩy các chương trình du học; trao đổi học tập của sinh viên Các quốc gia được đánh giá là cởi mở nhất trong các chính sách ủng hộ việc trao đổi và quốc tế hóa là Australia, Đức, Anh, Malaysia và Trung Quốc ([5], trang 6)

Một số quốc gia khác, như Pháp cũng đang thúc đẩy xu hướng đó Năm 2013, các trường đại học tổng hợp, các trường đào tạo kỹ sư và các trung tâm nghiên cứu (như CNRS) đã hợp nhau lại thành các cụm nghiên cứu với các chính sách nghiên cứu, điều phối và đào tạo được quyết định ở phạm vi khu vực chứ không phải ở phạm vi cơ sở đào tạo (được gọi là COMUE) Các quy định mới về cấp thị thực nhập cảnh và yêu cầu đơn giản hóa thủ tục hành chính cho sinh viên quốc tế đã được thực hiện, thêm vào đó, việc gia tăng số lượng các khóa học bằng tiếng Anh và các lớp học tiếng Pháp cho sinh viên quốc tế không thuộc khối Pháp ngữ là một phần của

sự quốc tế hóa này

Giáo dục xuyên quốc gia (Transnational education, TNE) là một phần của sự quốc

tế hóa trong giáo dục đại học

Giáo dục xuyên quốc gia được hiểu là sự cung cấp giáo dục mà “người học ở một quốc gia khác với quốc gia đặt cơ sở giáo dục” [2], có thể gọi là xuất khẩu giáo dục

Trên bình diện toàn cầu, một cuộc khảo sát năm 2011 về các chương trình liên kết và cấp bằng quốc tế đã làm sáng tỏ mức độ phổ biến của chúng Phần lớn các chương trình đều ở trình độ thạc sĩ (53%), ngoại trừ Úc phần lớn ở trình độ tiến sĩ

và ở Mỹ phần lớn là các khóa đào tạo đại học Các lĩnh vực phổ biến nhất là kinh doanh, quản lý và kỹ thuật Các cơ sở đào tạo của Pháp, Đức và Ý có xu hướng đưa

ra các chương trình liên kết và chương trình song bằng từ những năm 1990, trong khi Anh và Úc bắt đầu gần đây hơn Hình thức mở các chi nhánh đại học quốc tế vẫn đang phát triển rộng rãi Có khoảng 200 chi nhánh đại học trên toàn thế giới, phục

vụ khoảng 120 000 sinh viên Tiểu vương quốc Ả rập Thống nhất là quốc gia chủ nhà phổ biến nhất với 37 chi nhánh đại học và Hoa Kỳ là nguồn cung cấp phổ biến nhất với 78 chi nhánh đại học trên toàn thế giới Úc là một trong những nước có các

Trang 3

chi nhánh đại học hiện diện ở bất kỳ quốc gia nào Khoảng một phần tư các trường đại học của Úc được đặt ngoài nước Úc Các đối tác hàng đầu của Úc là Trung Quốc, Singapore và Indonexia

1.2 Hợp tác nghiên cứu

Theo Số liệu của Scopus và Thomson Reuters ([1], trang 22), tổng số bài báo nghiên cứu toàn cầu chỉ tập trung vào một số ít các quốc gia: trong thời gian từ 1996

- 2010, chỉ có 5 quốc gia chiếm hơn một nửa tổng số (Hoa Kỳ, Trung Quốc, Anh, Nhật

và Đức) và 15 quốc gia chiếm hơn ba phần tư tổng số

Hợp tác quốc tế về nghiên cứu có sự khác biệt đáng kể giữa các quốc gia, tỉ lệ trung bình hiện nay khoảng 45% ở Anh, 30% ở Mỹ, 15% ở Trung Quốc, 45 - 50% ở Đức và Hà Lan, và cao nhất 65% ở Thụy Sĩ Năm 2010, các quốc gia hàng đầu về xuất bản các bài báo nghiên cứu học thuật thông qua hợp tác quốc tế là Mỹ (143.000), Anh (62.000), Đức (58.000), Trung Quốc (47.000), Pháp (44.000), Canada (35.000) và

Ý (30.000)

Có mối tương quan chặt chẽ giữa tỉ lệ hợp tác nghiên cứu quốc tế và trích dẫn tài liệu Mặc dù đó không phải là mối quan hệ nhân quả, nhưng mối liên hệ này là tích cực và có ý nghĩa thống kê (năm 2010, 80% sự thay đổi trong chỉ số trích dẫn tài liệu được lí giải bởi tỉ lệ hợp tác nghiên cứu quốc tế)

1.3 Xu hướng di chuyển trong sinh viên

Số lượng sinh viên lựa chọn học tập tại một trường đại học ở nước ngoài đã tăng mạnh trong những thập kỷ gần đây, tăng gần gấp bốn lần từ 1,3 triệu vào năm

1990 lên 5 triệu vào năm 2014 Báo cáo về xu hướng năm 2015 nhấn mạnh, sự di chuyển toàn cầu trong sinh viên đã thay đổi đáng kể từ hơn một thập kỷ qua, từ chỗ sinh viên di chuyển theo một hướng duy nhất từ đông sang tây sang một trào lưu

di chuyển đa hướng và bao gồm cả việc gửi đi và đón tiếp ở các quốc gia phi truyền thống 6% sinh viên đại học thuộc khối các quốc gia OECD là quốc tế, tỉ lệ này có sự khác biệt lớn giữa các quốc gia Hơn một phần năm (21,1%) sinh viên ở Anh là sinh viên quốc tế - nhiều hơn bất kỳ quốc gia lớn nào khác, tiếp đến là Úc với 20,7%, so với 8% ở Đức và 5% ở Hoa Kỳ ([5], trang 14)

Các con số đã khẳng định sự gia tăng của một xu hướng mới trong di chuyển của sinh viên, đó là xu hướng du học gần nhà Ở Mỹ La tinh, tỉ lệ sinh viên du học trong khu vực tăng từ 11% năm 1999 lên 23% năm 2007, trong khi tỉ lệ sinh viên Đông Á lựa chọn du học tại các nước ASEAN tăng từ 26% lên 42% trong cùng thời gian đó Không dưới 91% sinh viên quốc tế tại Nhật Bản đến từ châu Á ([5], trang 14)

Trang 4

1.4 Tập trung vào đảm bảo chất lượng

Trong thập kỷ qua, nhiều quốc gia đã nhấn mạnh việc mở rộng cơ hội tiếp cận giáo dục đại học, tăng trưởng mạnh về số lượng các trường đại học và chương trình đào tạo Tỉ lệ nhập học đại học toàn cầu (tỉ lệ dân số trong độ tuổi sinh viên tại trường đại học) tăng từ 14% lên 32% trong hai thập kỷ tính đến năm 2012 ([5], trang 8)

Sự đại chúng hóa nhanh chóng này đã tạo ra một động thái ở nhiều nước nhằm nâng cao chất lượng giáo dục đại học Ở Nam Á và châu Mỹ La tinh nói riêng, rất ít trường đại học xuất hiện trong các bảng xếp hạng quốc tế, thiếu giảng viên có trình

độ, phương pháp giảng dạy và kiểm soát chất lượng thường lạc hậu Mục tiêu cung cấp giảng dạy và nghiên cứu chất lượng cao thông qua một hệ thống giáo dục đại học được quốc tế công nhận để đào tạo ra những sinh viên tốt nghiệp được trang bị các kỹ năng theo yêu cầu của các nhà tuyển dụng địa phương và khu vực là trọng tâm của tất cả các cải cách giáo dục quốc gia Nhưng cách thức mà các quốc gia nhắm đến để đạt được mục tiêu đó rất khác nhau

Chúng ta sẽ tìm hiểu 2 ví dụ cụ thể về các chương trình cải tổ giáo dục đại học gần đây của Ecuador và Ấn Độ ([5], trang 8) Trong khi Ecuador tập trung vào việc

đo lường và đánh giá kết quả học tập của sinh viên thì Bộ Giáo dục Ấn Độ lại lựa chọn nâng cấp cơ sở hạ tầng giáo dục đại học Thực thi chính thức vào năm 2010, 71 trường đại học của Ecuador phục vụ 600 000 sinh viên trong nước được đánh giá

và xếp hạng, trong số đó 14 cơ sở bị yêu cầu đóng cửa, 26 trường khác cần được cải thiện nhiều Các cuộc cải tổ bao gồm một bài kiểm tra năng lực tuyển sinh đối với các trường đại học công lập - lần đầu tiên ở Ecuador - và yêu cầu đối với giảng viên

là phải có ít nhất trình độ thạc sĩ và ưu tiên trình độ tiến sĩ Để cải thiện chất lượng giảng dạy, học bổng chính phủ được cấp cho nghiên cứu sau đại học ở nước ngoài với 3000 học bổng được trao vào năm 2012 Kể từ khi bắt đầu cải cách giáo dục, xếp hạng giáo dục đại học của Ecuador trong bảng Chỉ số năng lực cạnh tranh toàn cầu trên Diễn đàn Kinh tế thế giới đã cải thiện đáng kể, từ 93-108 năm 2012 đến 73 năm

2016 - 2017

Tỉ lệ nhập học đại học ở Ấn Độ tăng rất cao trong thập kỷ vừa qua, gấp hai lần

từ 14 triệu năm 2007 lên 28 triệu năm 2013 Ấn Độ được dự báo là nước có dân số trong độ tuổi sinh viên lớn nhất thế giới vào năm 2025, khoảng 119 triệu Kiểm soát chất lượng giáo dục đại học ở Ấn Độ đi sau so với việc mở rộng các tổ chức giáo dục đại học Kế hoạch năm năm lần thứ mười hai của chính phủ Ấn Độ, được đưa ra vào năm 2012, nhấn mạnh sự cần thiết phải tập trung vào sự hiệu quả trong giảng dạy

và nghiên cứu để cải thiện chất lượng sinh viên tốt nghiệp và chất lượng nghiên cứu trong các trường đại học Một phần trong kế hoạch này là một cơ quan đảm bảo chất

Trang 5

lượng với ngân sách 1,5 tỷ USD được công bố vào tháng 2 năm 2016 để tăng cường

hệ thống kiểm định, nhân đôi số lượng giảng viên và sẽ chuyển hệ thống kiểm định của Ấn Độ sang hình thức đánh giá được quốc tế công nhận

1.5 Áp lực tìm kiếm việc làm cho sinh viên tốt nghiệp

Áp lực của sinh viên lên các trường đại học nhằm giúp họ có việc làm tốt không còn là điều mới mẻ, nó cũng đang trở thành ưu tiên lớn đối với các chính phủ Chính phủ ở nhiều nước trong những năm gần đây đã gây áp lực lên các trường đại học phải có ảnh hưởng và đáp ứng nhu cầu xã hội Điều này ban đầu tập trung vào nghiên cứu ứng dụng và mở rộng quyền học đại học, nhưng gần đây, việc cải thiện

cơ hội có công ăn việc làm cũng được bổ sung

Người ta có thể mong đợi các thị trường việc làm có tỉ lệ sinh viên tốt nghiệp đại học thấp để nhanh chóng tiếp nhận sinh viên mới tốt nghiệp Nhưng ở nhiều nước đang phát triển, một sự thật ngược lại là: nhà tuyển dụng nghi ngờ về mức độ sẵn sàng cho công việc của sinh viên tốt nghiệp, kết quả là mức thất nghiệp cao Ví

dụ, ở Ấn Độ, một cuộc khảo sát của các nhà tuyển dụng cho thấy chỉ có 7% sinh viên tốt nghiệp kỹ sư (một lĩnh vực có triển vọng việc làm cao) là sẵn sàng đối với công việc Các kỹ năng đặc biệt thiếu bao gồm kỹ năng tiếng Anh và khả năng áp dụng các vấn đề lý luận vào thực tiễn Một nghiên cứu quy mô của Hội đồng Anh về việc làm của sinh viên tốt nghiệp đại học ở châu Phi cho thấy “các nhà tuyển dụng trong khu vực phàn nàn về việc sinh viên thiếu kiến thức cơ bản, các kỹ năng kỹ thuật và

kỹ năng có thể chuyển giao’’ ([5], trang 10) Chất lượng giảng dạy không đồng đều

và kém là hậu quả của đội ngũ nhân viên kém chất lượng, quy mô lớp học lớn và phương pháp giảng dạy lỗi thời

Đáp lại mối quan tâm này, hai bảng xếp hạng đại học tập trung vào việc

làm đã xuất hiện Thời báo Giáo dục Đại học (The Times Higher Education, THE)

hiện công bố một bảng xếp hạng dựa trên việc khảo sát các nhà tuyển dụng trong khi QS đã xây dựng một bảng xếp hạng việc làm dựa trên năm tiêu chí: danh tiếng của nhà tuyển dụng, kết quả của cựu sinh viên, các đối tác tuyển dụng, mối quan hệ giữa sinh viên và nhà tuyển dụng và tỉ lệ sinh viên tốt nghiệp có việc làm Hai phương pháp này đưa ra một danh sách các trường đứng đầu có mối tương quan mạnh mẽ với các bảng xếp hạng đại học tổng thể (Stanford, MIT, Oxford, Princeton và Cambridge nằm trong top 10 của bảng) Đứng đầu về mục tiêu việc làm bao gồm Đại học Thanh Hoa (thứ 3 trong xếp hạng QS), Đại học Sydney (thứ 4 trong xếp hạng QS), Trường Đại học Bách Khoa Paris (thứ 6 trong xếp hạng QS) và

Đại học Kỹ thuật Munich (thứ 9 trong Thời báo Giáo dục đại học).

Trang 6

1.6 Số hóa trong giáo dục đại học

Sự xuất hiện các khóa học mở trực tuyến đại chúng (MOOCs) vào năm 2012,

đã đem lại sự chú ý đến học tập điện tử trong giáo dục đại học Số hóa trong học tập và giảng dạy đại học luôn là vấn đề được quan tâm trong các chương trình nghị

sự chính sách ở cả cấp độ châu Âu, cấp độ quốc gia và các tổ chức giáo dục đại học Năm 2015, các bộ trưởng giáo dục đại học ở Khu vực châu Âu đã kêu gọi khuyến khích và hỗ trợ các tổ chức giáo dục đại học khai thác triệt để lợi ích của công nghệ

số trong học tập và giảng dạy.Cho đến nay, các hành động cụ thể hơn của tiến trình Bologna về việc học tập kỹ thuật số vẫn đang được phát triển

Báo cáo triển khai tiến trình Bologna 2018 lần thứ nhất đã theo dõi sự phát triển của học tập kỹ thuật số: Trong số 50 hệ thống giáo dục đại học được điều tra, 38 hệ thống đã có chiến lược hoặc chính sách về việc sử dụng công nghệ số trong học tập

và giảng dạy Dạy học kết hợp (Blended learning) cũng được xác nhận là phổ biến

nhất trên khắp khu vực giáo dục đại học châu Âu: Mặc dù dạy học trực tuyến toàn phần mới được cung cấp ở 18 quốc gia, 39 quốc gia cho biết một số tổ chức giáo dục đại học của họ cung cấp các chương trình dạy học kết hợp

Kết quả thu được từ khảo sát về các xu hướng năm 2018 ([4], trang 59) cho thấy

sự hiện diện của học tập kỹ thuật số đã được củng cố tại các tổ chức giáo dục đại học trong những năm gần đây Các tổ chức này đã khẳng định mức độ chấp nhận cao đối với việc học kỹ thuật số nói chung (93%), sử dụng nó một cách chiến lược (87%), tích hợp vào các chiến lược của tổ chức (85%) và tăng cường sử dụng trong giảng dạy thường xuyên (87%) 93% công nhận học tập kỹ thuật số được sử dụng để đổi mới việc học và dạy Tất cả các quốc gia, các tổ chức đều có xu hướng nhìn nhận đổi mới trong học tập và giảng dạy liên quan chặt chẽ với học tập điện tử và số hóa Trong số các ví dụ về đổi mới học tập và giảng dạy, học tập điện tử và các biện pháp kỹ thuật

số khác (học tập kết hợp, học tập mã nguồn mở MOOCs, sử dụng các nền tảng học tập điện tử, v.v.) được nhắc đến nhiều nhất

Có thể thấy, ngày nay, sự phát triển của giáo dục đại học trên thế giới chịu ảnh hưởng của quá trình vận động kinh tế - xã hội cũng như xu thế toàn cầu hóa Mặc

dù mỗi quốc gia có những đặc điểm riêng về kinh tế, chính trị, xã hội và văn hóa, tuy nhiên các trường đại học tại mỗi quốc gia khác nhau đều đứng trước những thách thức và cơ hội cơ bản theo các xu hướng nêu trên Việc tổng hợp các xu hướng phát triển của giáo dục đại học trên thế giới giúp các trường đại học có những kế hoạch thực hiện thay đổi phù hợp với yêu cầu của sự phát kinh tế - xã hội và xu thế phát triển của thời đại, khẳng định giá trị đối với xã hội, là động lực có ý nghĩa định hướng đối với sự phát triển kinh tế, xã hội của mỗi quốc gia Các xu thế trên đây phản ánh những nỗ lực của các trường đại học nhằm đáp ứng với những thay đổi

Trang 7

mạnh mẽ đang diễn ra trên thế giới Các trường đại học, với tư cách là trung tâm trí tuệ của xã hội, đang “gồng mình” bước những bước dài để tránh sự tụt hậu so với sự biến đổi của thế giới, đáp ứng những đòi hỏi ngày càng cao và ngày càng đa dạng từ nhiều phía Họ đang tái khẳng định ý nghĩa của mình đối với xã hội, trong bối cảnh truyền thông xã hội dựa trên những tiến bộ của công nghệ thông tin đã làm biến đổi sâu sắc cách thức làm việc và giao tiếp của tất cả mọi người

2 Các khuyến nghị cho giáo dục đại học Việt Nam

Trên cơ sở phân tích xu hướng phát triển của giáo dục đại học trên thế giới, chúng tôi sẽ đối chiếu với thực trạng giáo dục đại học ở Việt Nam từ đó đưa ra các khuyến nghị đối với chính phủ, toàn ngành giáo dục và các trường đại học để chuẩn

bị và tiếp nhận những khuynh hướng đó

- Theo số liệu thống kê của Bộ Giáo dục và Đào tạo, năm học 2017-2018, cả nước có 235 trường đại học trong đó 175 trường công lập và 65 trường ngoài công lập Trong khi theo Quyết định 37 của Chính phủ về việc việc điều chỉnh Quy hoạch mạng lưới các trường đại học, cao đẳng, giai đoạn 2006-2020, đến năm 2020, cả nước

có 460 trường đại học, cao đẳng, trong đó bao gồm 224 trường đại học và 236 trường cao đẳng Như vậy, đến năm 2020, nước ta không thành lập, nâng cấp trường đại

học nào nữa thì vẫn vượt mục tiêu Quyết định 37 đề ra Vì vậy việc tái cấu trúc, quy hoạch lại mạng lưới các trường đại học trên cả nước là việc cấp thiết của Chính phủ và

toàn ngành giáo dục Để thực hiện việc quy hoạch mạng lưới các cơ sở GDĐH, cần

có các chuẩn, quy chuẩn đối với cơ sở GDĐH, các điều kiện đảm bảo chất lượng và kết quả đầu ra, kiểm định chất lượng giáo dục Đồng thời, xây dựng và ban hành các văn bản hướng dẫn triển khai phân tầng, xếp hạng các trường đại học

- Số lượng du học sinh Việt Nam gia tăng mạnh trong những năm gần đây, đặc biệt là học sinh thuộc các trường Trung học Phổ thông tốp trên, trường chuyên và năng khiếu ở các thành phố lớn như Hà Nội và Thành phố Hồ Chí Minh Theo thống kê của Cục Đào tạo nước ngoài (Bộ Giáo dục và Đào tạo), năm

2015, Việt Nam có khoảng 120.000 du học sinh, trong đó 90% là du học tự túc

Để đáp ứng nhu cầu tiếp cận với nền giáo dục hiện đại của con em các gia đình có

điều kiện du học tự túc và để hạn chế dòng chảy chất xám, giáo dục đại học trong nước cần nâng cao chất lượng, phát triển đội ngũ giảng viên, đầu tư cơ sở vật chất, cập nhật các chương trình đào tạo, giáo trình để “giữ chân” người học trong nước, nắm bắt một

phần kinh phí mà người Việt đã chi trả cho các cơ sở giáo dục nước ngoài, đầu tư trở lại giáo dục đại học Việt Nam

- Theo Cục Hợp tác quốc tế, Bộ Giáo dục và Đào tạo, đến nay cả nước đã có hơn

500 chương trình hợp tác và liên kết đào tạo với các trường đại học trên thế giới đã

Ngày đăng: 24/02/2023, 08:23

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w