1 LỜI NÓI ĐẦU Việc thực hiện đổi mới chương trình giáo dục phổ thông đòi hỏi phải đổi mới đồng bộ từ mục tiêu, nội dung, phương pháp, phương tiện dạy học đến cách thức đánh giá kết quả của quá trình d[.]
Trang 1LỜI NÓI ĐẦU
Việc thực hiện đổi mới chương trình giáo dục phổ thông đòi hỏi phải đổi mới đồng bộ từ mục tiêu, nội dung, phương pháp, phương tiện dạy học đến cách thức đánh giá kết quả của quá trình dạy học, trong đó khâu đột phá là đổi mới phương pháp dạy học
Mục đích của việc đổi mới phương pháp dạy học ở trường phổ thông là thay đổi lối dạy học truyền thụ một chiều một cách thụ động sang dạy học theo phương pháp dạy học tích cực nhằm phát huy khả năng tự giác, chủ động, sáng tạo của học sinh; luyện cho học sinh có kỹ năng tự học; tinh thần hợp tác; kỹ năng vận dụng kiến thức vào các tình huống khác nhau trong thực tiễn
Việc đổi mới phương pháp dạy học sẽ tạo niềm tin, niềm vui, hứng thú học tập của học sinh Học sinh say mê tìm tòi, khám phá, phát hiện, luyện tập,
kiến thức, năng lực và phẩm chất
Đổi mới phương pháp dạy học chú trọng hình thành các năng lực (tự học,
Học sinh học để đáp ứng những yêu cầu của cuộc sống trong tương lai nên những kiến thức cung cấp cho học sinh phải cần thiết và bố ích
Phần tài liệu này, chúng tôi giới thiệu một số kĩ thuật, phương pháp dạy và học tích cực theo lí thuyết dạy học hiện đại và tương tác sư phạm, mục đích giúp các học viên tiếp cận và tập áp dụng khi thực hiện tổ chức dạy học theo chuyên đề theo định hướng phát triển năng lực người học
Sau mỗi lần nghiên cứu, tiếp thu 1 kĩ thuật dạy, phương pháp dạy yêu cầu học viên làm bài tập vận dụng ứng với 1 bài dạy, một chủ đề học viên tự chọn theo chương trình THPT hiện thành Nếu có điều kiện, cần tổ chức cho học viên dạy minh họa trước một lớp học có học sinh tham gia để cả nhóm góp ý, thảo luận
BAN BIÊN TẬP
Trang 2Chuyên đề 2 (tài liệu dành cho địa phương) MỘT SỐ KĨ THUẬT, PHƯƠNG PHÁP DẠY VÀ HỌC TÍCH CỰC
Muốn đổi mới cách học thì phải đổi mới cách dạy Cách dạy quyết định cách học Tuy
nhiên cách học thụ động của học sinh đã ảnh hưởng không nhỏ đến cách dạy của thầy Do đó giáo viên cần được bồi dưỡng và phải kiên trì thực hiện theo các phương pháp dạy học tích cực, tổ chức các hoạt động nhận thức cho học sinh từ đơn giản đến phức tạp, từ thấp đến cao Trong đổi mới phương pháp phải có sự kết hợp chặt chẽ giữa thầy và trò, phải có sự phối hợp hoạt động dạy của thầy và hoạt động học của trò thì quá trình dạy học mới có kết quả
Người ta chia phương pháp dạy học theo ba cấp độ: cấp độ vi mô (Kĩ thuật dạy học), cấp
độ trung gian (Phương pháp dạy học cụ thể) và cấp độ vĩ mô (Quan điểm dạy học) Tuy nhiên, việc phân định chỉ mang tính tương đối Sự phân biệt giữa kĩ thuật dạy học và phương pháp dạy học, giữa phương pháp dạy học và quan điểm dạy học nhiều khi không thật rõ ràng Mối quan hệ của kĩ thuật, phương pháp, quan điểm dạy học có thể thể hiện ở sơ đồ dưới đây
20
Quan điểm DH
PHDH
Kĩ thuật DH
PP vĩ mô
PP vi mô
PP cụ thể
Bình diện
vĩ mô
Bình diện trung gian
Bình diện
vi mô
Kĩ thuật dạy học là những biện pháp, cách thức hành động của giáo viên và học sinh trong các tình huống hành động nhỏ nhằm thực hiện và điều khiển quá trình dạy học
Phương pháp dạy học là những hình thức và cách thức hoạt động của giáo viên và học sinh trong những điều kiện dạy học xác định nhằm đạt mục tiêu dạy học
Quan điểm dạy học là những định hướng mang tính chiến lược, cương lĩnh, là mô hình
lí thuyết của phương pháp dạy học (có thể hiểu quan điểm dạy học tương đương với các trào lưu sư phạm)
A MỘT SỐ KĨ THUẬT DẠY VÀ HỌC TÍCH CỰC
1 Kĩ thuật công não
1.1 Khái niệm
Động não (công não/tấn công não/tập kích não) là một kỹ thuật được sáng tạo từ năm
1941 bởi Alex Osborn nhằm huy động những ý tưởng mới mẻ, độc đáo về một chủ đề của các thành viên trong nhóm thảo luận Các thành viên được cổ vũ tham gia một cách tích cực, không hạn chế các ý tưởng (nhằm tạo ra “cơn lốc” các ý tưởng)
Trang 31.2 Đặc điểm phương pháp
- Các ý kiến/hình ảnh về vấn đề trước hết nêu ra không hạn chế và ngẫu nhiên theo dòng suy nghĩ não không cần tìm được chính xác một ý tưởng hoàn thiện chỉ cần càng nhiều, càng đủ ý tưởng càng tốt
- Có thể tiến hành bởi một hay nhiều người, tuy nhiên, số lượng HS tham gia nhiều sẽ giúp tìm ra lời giải được nhanh hơn hay toàn diện hơn nhờ vào nhiều góc nhìn khác nhau bởi các trình độ khác nhau
- Không đánh giá và phê phán trong quá trình thu thập ý tưởng của các thành viên
1.3 Các bước tiến hành
Bước 1: GV chia nhóm, các nhóm tự chọn nhóm trưởng và thư ký
Bước 2: Giao vấn đề cho nhóm
Bước 3: Nhóm trưởng điều hành hoạt động thảo luận chung của cả nhóm trong thời gian quy định, các ý kiến đều được thư ký ghi nhận, khuyến khích thành viên đưa càng nhiều
ý kiến càng tốt
Bước 4: Các nhóm cùng lựa chọn giải pháp tối ưu, thu gọn các ý tưởng trùng lặp, xóa những ý không phù hợp, sau cùng thư ký báo cáo kết quả
1.4 Ứng dụng
- Dùng trong giai đoạn nhập đề vào một chủ đề, tìm các phương án giải quyết vấn đề, thu thập các khả năng lựa chọn và ý nghĩ khác nhau
1.5 Ưu điểm
- Dễ thực hiện, không mất nhiều thời gian, không tốn kém
- Huy động tối đa trí tuệ của tập thể
- Do không được pháp đánh giá trong quá trình thu thập ý kiến, nên mọi ý kiến đều được ghi nhận, từ đó khuyến khích các thành viên trong nhóm tham gia hoạt động
1.6 Nhược điểm
- Có thể lạc đề, tản mạn nếu chủ đề không rõ ràng
- Có thể mất thời gian nhiều trong việc chọn các ý kiến tốt nhất
- Nếu nhóm trưởng không đủ năng lực quản lý nhóm có thể có một số HS quá tích cực, số khác thụ động
- Việc lưu trữ kết quả thảo luận là khó khăn và dễ gây lãng phí
2 Kĩ thuật động não viết
2.1 Khái niệm
Động não viết là một hình thức biến đổi của động não Trong động não viết thì những
ý tưởng không được trình bày miệng mà được từng thành viên tham gia trình bày ý kiến bằng cách viết trên giấy về một chủ đề.Trong động não viết, các đối tác sẽ giao tiếp với nhau bằng chữ viết Các em đặt trước mình một vài tờ giấy chung, trên đó ghi chủ đề ở dạng dòng tiêu
đề hoặc ở giữa tờ giấy Các em thay nhau ghi ra giấy những gì mình nghĩ về chủ đề đó, trong
im lặng tuyệt đối Trong khi đó, các em xem các dòng ghi của nhau và cùng lập ra một bài viết chung Bằng cách đó có thể hình thành những câu chuyện trọn vẹn hoặc chỉ là bản thu thập các từ khóa Các HS luyện tập có thể thực hiện các cuộc nói chuyện bằng giấy bút cả khi làm bài trong nhóm Sản phẩm có thể có dạng một bản đồ trí tuệ
Trang 42 2 Cách thực hiện
- Đặt trên bàn 1-2 tờ giấy để ghi các ý tưởng, đề xuất của các thành viên;
- Mỗi một thành viên viết những ý nghĩ của mình trên các tờ giấy đó
- Có thể tham khảo các ý kiến khác đã ghi trên giấy của các thành viên khác để tiếp tục phát triển ý nghĩ
-Sau khi thu thập xong ý tưởng thì đánh giá các ý tưởng trong nhóm
2.3 Ưu điểm
- Có thể huy động sự tham gia của tất cả HS trong nhóm
- Tạo sự yên tĩnh trong lớp học;
- Động não viết tạo ra mức độ tập trung cao Vì những HS tham gia sẽ trình bày những suy nghĩ của mình bằng chữ viết nên có sự chú ý cao hơn so với các cuộc nói chuyện bình thường bằng miệng;
- Các HS đối tác cùng hoạt động với nhau mà không sử dụng lời nói Bằng cách đó, thảo luận viết tạo ra một dạng tương tác xã hội đặc biệt;
- Những ý kiến đóng góp trong cuộc nói chuyện bằng giấy bút thường được suy nghĩ đặc biệt
kỹ
2.4 Nhược điểm
- Có thể HS sa vào những ý kiến tản mạn, xa đề
- Do được tham khảo ý kiến của nhau, có thể một số HS ít có sự độc lập
3 Sơ đồ tƣ duy
3.1 Khái niệm
Sơ đồ tư duy là phương tiện ghi chép đầy sáng tạo và rất hiệu quả theo đúng nghĩa của nó: “Sắp xếp” ý nghĩ
3.2 Sử dụng sơ đồ tư duy trong dạy học
- Cho HS làm quen với sơ đồ tư duy bằng cách giới thiệu cho HS một số “sơ đồ” cùng với dẫn dắt của GV để các em làm quen
- Tập “đọc hiểu” sơ đồ tư duy thiết kế sẵn
- Cho HS thực hành vẽ sơ đồ tư duy trên giấy dưới sự hướng dẫn của GV theo nhóm hoặc từng cá nhân
3.3 Một số gợi ý khi tạo sơ đồ tư duy
- Bắt đầu từ trung tâm với hình ảnh của chủ đề
- Nối các nhánh chính (cấp một) đến hình ảnh trung tâm, nối các nhánh cấp hai đến các
nhánh cấp một, … bằng các đường kẻ, đường cong với màu sắc khác nhau
- Bố trí thông tin đều quanh hình ảnh trung tâm
3.4 Ứng dụng của sơ đồ tư duy
Trang 5Lược đồ tư duy có thể ứng dụng trong nhiều tình huống khác nhau như: lên kế hoạch, làm dự án, tổ chức sự kiện, miêu tả, khái quát một vấn đề lớn, thuyết trình, tập trung ý tưởng, giải quyết vấn đề, lập danh sách cho công việc, …
3.5 Ưu điểm của sơ đồ tư duy
- Dễ nhìn, dễ viết, phát huy tối đa tiềm năng ghi nhớ của bộ não, giảm thiểu tối đa câu chữ, tập hợp và lưu trữ lượng lớn dữ liệu nhưng tiết kiệm thời gian
- Các hướng suy nghĩ được mở ra ngay từ đầu, luôn có thể bổ sung nội dung, rèn luyện cách xác định chủ đề và phát triển ý chính, ý phụ một cách logic, kích thích hứng thú học tập và giúp HS sáng tạo nhiều ý tưởng hơn
3.6 Nhược điểm
- Làm suy giảm khả năng ngôn ngữ và diễn đạt bằng ngôn từ của người thực hiện, phương pháp tư duy này phụ thuộc hiểu biết và khả năng diễn đạt tự có của mỗi người
- Có thể có một số HS bỏ ra quá nhiều thời gian vào việc vẽ các biểu tượng hay kí hiệu, trang trí cho những ghi chú mà không dành nhiều thời gian cho việc học
4 Kĩ thuật tia chớp
Kỹ thuật tia chớp là một kỹ thuật huy động sự tham gia của các thành viên đối với một câu hỏi nào đó, hoặc nhằm thu thông tin phản hồi nhằm cải thiện tình trạng giao tiếp và không khí học tập trong lớp học, thông qua việc các thành viên lần lượt nêu ngắn gọn và nhanh chóng (nhanh như chớp!) ý kiến của mình về câu hỏi hoặc tình trạng vấn đề
Quy tắc thực hiện:
- Có thể áp dụng bất cứ thời điểm nào khi các thành viên thấy cần thiết và đề nghị;
- Lần lượt từng người nói suy nghĩ của mình về một câu hỏi đã thoả thuận
Ví dụ: Khi dạy bài oxi, sử dụng kĩ thuật tia chớp trong hoạt động khởi động
Câu hỏi : Em biết gì về oxi?
Trang 6- GV gọi 2 HS lên bảng làm thư kí, viết những điều bạn nói lên ở góc bên trái của bảng, đồng thời giúp GV phát hiện bạn nào nói điều mình biết đã trùng với ý của bạn nói trước
- GV chỉ vào em nào thì ngay lập tức em đó phải nói 1 điều mình biết ( ngắn gọn), em sau không được nói ý trùng với em trước
- Từ những điều HS đã biết đã được ghi ở phía bên trái của bảng, GV bổ sung thêm và đưa vào bài dạỵ
5 Kĩ thuật “KWL”
(trong đó K - Những điều đã biết; W - Những điều muốn biết; L - Những điều đã học được) 5.1 Mục tiêu
- Rèn cho học sinh kĩ năng thu thập thông tin, quản lí thông tin, tự quản lí quá trình học tập và điều chỉnh quá trình học tập của chính mình
- Tăng cường tính độc lập của học sinh
- Phát triển mô hình có sự tương tác giữa học sinh với học sinh
5.2 Tác dụng đối với học sinh
- Kĩ thuật này có thể được sử dụng để giới thiệu mục tiêu bài học nhằm giúp học sinh
xác định trình độ kiến thức, kĩ năng đã có liên quan đến việc học bài mới và khoảng trống (lỗ hổng) kiến thức còn cần phải đạt trong quá trình học tập Qua việc nhìn lại những gì đã học được sau bài học, học sinh nhận thức được sự tiến bộ trong quá trình học, phân tích những thông tin nào mới được biết sau khi nghiên cứu
- Giúp người học nắm bắt được các thông tin và biết cách tự học thông qua việc đánh giá những gì đã có, xác định mục tiêu học tập cá nhân cũng như nhìn lại quá trình học tập
- Nếu kĩ thuật này được tiến hành theo nhóm cũng giúp nâng cao mối quan hệ, giao tiếp
sự cộng tác giữa các học sinh trong nhóm Học sinh học cách chia sẻ và tôn trọng lẫn nhau
5.3 Cách tiến hành
Sau khi giới thiệu bài học, mục tiêu cần đạt của bài học, giáo viên phát phiếu học tập
“KWL” sau:
K
(Những điều đã biết)
W
(Những điều muốn biết)
K
(Những điều đã học được)
- Yêu cầu học sinh viết vào cột K những gì mà họ cho là đã biết về nội dung bài học hoặc chủ đề
- Sau đó động viên, khuyến khích học sinh suy nghĩ và viết vào cột W những gì mà các
em cho là còn cần phải biết, phải học để có thể đạt được mục tiêu bài học
- Sau khi kết thúc bài học hoặc chủ đề, học sinh điền vào cột L của phiếu những gì vừa
học được Lúc này, học sinh xác nhận sự chính xác về những điều các em đã viết ở 2 cột và
so sánh với những điều các em vừa học được về bài học
5.4 Một số lưu ý khi tổ chức dạy học theo kĩ thuật KWL
Trang 7- Nếu sử dụng kĩ thuật này đối với nhóm học sinh thì trước khi yêu cầu học sinh hoàn thành cột K, giáo viên có thể cho học sinh sử dụng kĩ thuật khăn trải bàn để thống nhất
những gì cả nhóm đã biết về bài học Những gì được ghi vào giữa khăn trải bàn cũng chính là
nội dung ghi ở cột K
- Khi mới áp dụng kĩ thuật KWL, có thể dùng các câu hỏi gợi ý để học sinh có thể viết những gì các em đã biết, muốn học và đã học được vào các cột tương ứng
Ví dụ: SƠ ĐỒ KWL
Nội dung: Oxi
Em hãy liệt kê tất cả những gì em đã biết về oxi
Họ và tên HS:
Lớp:
Điều đã biết (Know) Điều muốn biết (Want) Điều học đƣợc (Learned)
6 Kĩ thuật khăn trải bàn
Kĩ thuật khăn trải bàn là kĩ thuật tổ chức hoạt động học tập mang tính hợp tác kết hợp giữa hoạt động cá nhân và nhóm
6.1 Mục tiêu
- Kích thích, thúc đẩy sự tham gia tích cực
- Tăng cường tính độc lập, trách nhiệm của cá nhân học sinh
- Phát triển mô hình có sự tương tác giữa học sinh với học sinh
6.2.Tác dụng đối với học sinh
- Học sinh học được cách tiếp cận với nhiều giải pháp và chiến lược khác nhau
- Rèn kĩ năng suy nghĩ, quyết định và giải quyết vấn đề
- Giúp học sinh đạt được mục tiêu học tập cá nhân cũng như làm việc cùng nhau
để đạt được mục tiêu chung của nhóm
- Sự phối hợp theo nhóm nhỏ giúp tạo cơ hội nhiều hơn cho học tập có sự phân
hóa
- Các nhiệm vụ này cũng giúp nâng cao mối quan hệ giữa các học sinh Tăng cường
sự hợp tác, giao tiếp, học cách chia sẻ kinh nghiệm và tôn trọng lẫn nhau
- Tăng cường hiệu quả học tập
6.3 Cách tiến hành
Trang 8Ý kiến chung của cả nhóm về chủ đề
Viết ý kiến cá nhân
1
3
2
Viết ý kiến cá nhân
Kĩ thuật “Khăn trải bàn”
- Chia học sinh thành các nhóm và phát giấy A0 cho các nhóm
- Chia giấy A0 thành phần chính giữa và phần xung quanh Chia phần xung quanh thành các phần theo số thành viên của nhóm (ví dụ nhóm 4 người) Mỗi người ngồi vào vị trí tương ứng với phần xung quanh
- Cá nhân học sinh tập trung vào câu hỏi, chủ đề, có thể trả lời câu hỏi hoặc xây dựng
chiến lược riêng, các giải pháp thực sự của mình và viết vào phần xung quanh Mỗi cá nhân làm việc độc lập trong khoảng vài phút
- Từ những quan điểm học tập và giải pháp riêng của mình, học sinh có thể thảo luận nhóm, thống nhất ý kiến và viết vào phần chính giữa
6.4 Một số lưu ý khi tổ chức dạy học theo kĩ thuật khăn trải bàn
- Câu hỏi thảo luận là câu hỏi mở
- Nếu số học sinh trong một nhóm quá đông, chiếm quá nhiều chỗ so với chu vi khăn phủ bàn, có thể phát cho học sinh những mảnh giấy nhỏ để học sinh ghi lại ý kiến cá nhân
Sau dó đính những ý kiến váo phần xung quanh khăn trải bàn
- Trong quá trình thảo luận thống nhất ý kiến, có thể đính những ý kiến thống nhất vào giữa khăn Những ý kiến trùng nhau có thể đính chồng lên nhau
- Những ý kiến không thống nhất của nhóm không để ở phần giữa của “khăn trải bàn”
Cá nhân có quyền bảo lưu những ý kiến chưa được thống nhất trong toàn nhóm và được giữ lại ở phần xung quanh của khăn trải bàn
Ví dụ: Hãy nêu 1 số cách làm để chống ăn mòn kim loại?
7 Kĩ thuật mảnh ghép
Kĩ thuật mảnh ghép là kĩ thuật tổ chức hoạt động học tập hợp tác kết hợp giữa cá nhân,
nhóm và liên kết giữa các nhóm
7.1 Mục tiêu
- Giải quyết một nhiệm vụ phức hợp
- Kích thích sự tham gia tích cực của học sinh
Trang 9- Nâng cao vai trò của cá nhân trong quá trình hợp tác (Không chỉ nhận thức hoàn thành nhiệm vụ ở giai đoạn 1 mà còn phải truyền đạt kết quả và hoàn thành nhiệm vụ ở giai đoạn 2)
- Tăng cường tính độc lập, trách nhiệm của cá nhân học sinh
7.2.Tác dụng đối với học sinh
- Giúp học sinh nắm bắt được các tài liệu bằng văn bản
- Giúp học sinh đạt được mục tiêu học tập cá nhân cũng như làm việc cùng nhau để
đạt được mục tiêu chung của nhóm
- Sự phối hợp theo nhóm nhỏ giúp tạo cơ hội nhiều hơn cho học tập có sự phân hóa
- Tăng cường sự hợp tác, giao tiếp, học cách chia sẻ kinh nghiệm và tôn trọng lẫn
nhau
- Tăng cường hiệu quả học tập
Cách tiến hành :
Nhóm
chuyên
sâu
Giai đoạn 2
Kĩ thuật dạy học “Các mảnh ghép”
HS…
HS…
HS… HSB HSB HSB HSA HSA HSA
HS… HSB HSA HS… HSB HSA HS… HSB HSA
(…) Giai đoạn 1
Nhóm
mảnh
ghép
Giai đoạn 1: “Nhóm chuyên sâu”
- Lớp học sẽ được chia thành các nhóm (khoảng từ 3 - 6 người) Mỗi nhóm được giao
một nhiệm vụ nghiên cứu những nội dung học tập khác nhau (Ví dụ: Nhiệm vụ A ở phiếu màu đỏ, nhiệm vụ B ở phiếu màu xanh, nhiệm vụ tiếp theo ở phiếu màu vàng) Các nhóm này được gọi là “nhóm chuyên sâu” tương ứng với nhiệm vụ được giao
- Hoạt động nhóm đảm bảo mỗi thành viên trong từng nhóm trả lời được tất cả các câu hỏi trong nhiệm vụ, trở thành học sinh “chuyên sâu” của lĩnh vực đã tìm hiểu và có khả năng trình bày lại vấn đề của lĩnh vực chuyên sâu ở giai đoạn tiếp theo
Giai đoạn 2: “Nhóm mảnh ghép”
- Sau khi hoàn thành nhiệm vụ ở giai đoạn 1, mỗi học sinh “chuyên sâu” từ các nhóm khác nhau hợp lại thành các nhóm mới, gọi là “nhóm mảnh ghép” Lúc này, mỗi học sinh
“chuyên sâu” trở thành những “mảnh ghép” trong “nhóm mảnh ghép” Ví dụ: Các nhóm mảnh ghép I, II, … đều từ các mảnh ghép A, B,…
- Từng học sinh “mảnh ghép” lần lượt có nhiệm vụ chia sẻ, trình bày lại nội dung các mảnh ghép và nắm bắt được tất cả nội dung khác ở giai đoạn 1
Trang 10- Sau đó nhiệm vụ mới được giao cho các “nhóm mảnh ghép” để giải quyết (Ví dụ nhiệm vụ ở phiếu màu xám) Để giải quyết nhiệm vụ này, học sinh phải lắp ghép các “mảnh kiến thức” của mình thành một bức tranh, giống như trong câu đố mảnh ghép Bằng cách này, học sinh có thể nhận thấy những phần vừa thực hiện không chỉ để giải trí hoặc trò chơi đơn thuần mà thực sự là những nội dung học tập quan trọng
7.3 Một số lưu ý khi tổ chức dạy học theo kĩ thuật mảnh ghép
- Nội dung các mảnh ghép cần được lựa chọn dựa trên những “nội dung lớn” hoặc “đi
vào chiều sâu của vấn đề” Những thông tin từ các mảnh ghép sẽ được ghép lại với nhau để
có thể hiểu được bức tranh toàn cảnh Do đó, không nên chọn những thông tin mang tính chất chuỗi thời gian, vì chúng không thể học một cách độc lập được Các chủ đề của các mảnh ghép có thể độc lập ở mức sao cho học sinh có thể tìm hiểu được
- Các học sinh “chuyên sâu” có thể có trình độ khác nhau, nhưng cần đảm bảo sự cân bằng ở mức độ nào đó để có thể dạy lẫn nhau khi thực hiện nhiệm vụ ở “nhóm mảnh ghép”
- Số lượng mảnh ghép không quá lớn để đảm bảo các thành viên có thể dạy lại kiến thức
cho nhau
- Cần xác định các yếu tố hỗ trợ cần thiết để học sinh có thể hoàn thành nhiệm vụ ở giai đoạn 1 Giáo viên phải kiểm soát được kết quả hoạt động ở giai đoạn 1 để chuẩn bị cho giai đoạn tiếp theo
- Việc sắp xếp lại “nhóm chuyên sâu” thành “nhóm mảnh ghép” cho phép học sinh phát triển kiến thức đã tìm hiểu được ở giai đoạn 1 Mỗi thành viên đều là các học sinh “chuyên sâu” ở các lĩnh vực khác nhau Thế mạnh của nhiệm vụ ở nhóm mảnh ghép là học sinh được dạy cho học sinh Các em phải diễn đạt những gì đã học và do đó hiểu hơn về những gì họ thực sự nắm chắc, những vấn đề gì vẫn còn nhầm lẫn hoặc còn khoảng cách nhất định Các thành viên khác trong nhóm được khuyến khích đặt câu hỏi hoặc hỏi để làm rõ Quá trình thảo luận nhóm phụ thuộc vào mức độ chuyên sâu mà học sinh đã nắm được từ một chủ đề nhất định Điều này giúp cho mọi học sinh có quyền được nói
- Đặc điểm của nhiệm vụ mới ở giai đoạn 2 là một nhiệm vụ phức hợp, có thể giải quyết được trên cơ sở kiến thức đã có ở giai đoạn 1 Do đó cần xác định rõ những yếu tố cần thiết
về kiến thức, kĩ năng, thông tin, … để giải quyết nhiệm vụ phức hợp
- Khi thực hiện nhiệm vụ, có thể phân rõ vai trò và nhiệm vụ của các thành viên trong nhóm như sau:
Hậu cần Chuẩn bị đồ dùng tài liệu cần thiết
Phản biện Đặt các câu hỏi phản biện
Liên lạc với nhóm khác Liên hệ với các nhóm khác
Liên lạc với thày cô Liên lạc với giáo viên để xin trợ giúp