1. Trang chủ
  2. » Tất cả

Luận Văn Thạc Sĩ Ngôn Ngữ Học Khảo Sát Hoạt Động Của Một Số Hư Từ Trong Tác Phẩm “Pháp Giảng Tám Ngày” Của Alexandre De Rhodes.pdf

20 5 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Khảo Sát Hoạt Động Của Một Số Hư Từ Trong Tác Phẩm “Pháp Giảng Tám Ngày” Của Alexandre De Rhodes
Tác giả Trịnh Kim Ngọc
Người hướng dẫn PGS.TS. Đào Thanh Lan
Trường học Học viện Khoa học Xã hội và Nhân văn - Đại học Quốc gia Hà Nội
Chuyên ngành Ngôn Ngữ Học
Thể loại Luận Văn Thạc Sĩ
Năm xuất bản 2008
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 20
Dung lượng 643,24 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN KHOA NGÔN NGỮ HỌC TRỊNH KIM NGỌC KHẢO SÁT HOẠT ĐỘNG CỦA MỘT SỐ HƯ TỪ TRONG TÁC PHẨM “PHÉP GIẢNG TÁM NGÀY” CỦA ALEXANDRE DE RHODES LUẬ[.]

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

KHOA NGÔN NGỮ HỌC

TRỊNH KIM NGỌC

KHẢO SÁT HOẠT ĐỘNG CỦA MỘT SỐ HƯ TỪ TRONG TÁC PHẨM “PHÉP GIẢNG TÁM NGÀY”

CỦA ALEXANDRE DE RHODES

LUẬN VĂN THẠC SỸ NGÔN NGỮ HỌC

Hà Nội - 2008

Trang 2

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HA NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

KHOA NGÔN NGỮ HỌC

-  -

TRỊNH KIM NGỌC

KHẢO SÁT HOẠT ĐỘNG CỦA MỘT SỐ HƯ TỪ TRONG TÁC PHẨM “PHÉP GIẢNG TÁM NGÀY”

CỦA ALEXANDRE DE RHODES

LUẬN VĂN THẠC SỸ NGÔN NGỮ HỌC

Chuyên ngành: Ngôn ngữ học

Mã số: 60 22 01 Khóa: 2005-2008

Hướng dẫn khoa học: PGS.TS Đào Thanh Lan

Trang 3

MỤC LỤC

Mở đầu……… ……….1

Nội dung……….… 6

Chương I: Cơ sở lý thuyết liên quan đến đề tài………6

1 Khái quát về Hư từ:……….……….….6

1.1 Khái niệm hư từ……….……… …… … 6

1.2 Phân loại……….……….……9

1.3 Ý nghĩa và chức năng………….……….……9

2 Vấn đề hư từ gốc Hán trong tiếng Việt ……… 11

3 Khái quát chung về Phó từ, Liên từ, Giới từ……….……… 15

3.1 Phó từ………15

3.2 Liên từ……… ………21

3.3 Giới từ……… ….24

3.4 Phân biệt liên từ và giới từ ……… …………26

Chương II Miêu tả hoạt động của Phó từ, Liên từ, Giới từ trong “Phép giảng tám ngày”……… …….32

2.1 Phó từ ……… 32

1.1.1 Phó từ gốc Hán…… ……….………… 32

2.1.2 Phó từ thuần Việt ……….………39

2.2 Liên từ ……….65

2.2.1 Liên từ gốc Hán……… …… 65

2.2.2 Liên từ thuần Việt……….………76

2.3 Giới từ ………95

2.3.1 Giới từ gốc Hán………95

2.3.2 Giới từ thuần Việt……… …100

Chương III: So sánh, nhận xét về Phó từ, Liên từ, Giới từ trong “Phép giảng tám ngày” ……….…117

Trang 4

3.1 So sánh lớp hư từ gốc Hán và hư từ thuần Việt…… ………… …117

3.1.1 Số lượng và tần số xuất hiện……… 117

3.1.2 Một vài nhận xét về sự biến đổi, ý nghĩa cũng như cách dùng của các hư từ……… … 120

3.2 So sánh Phó từ, Liên từ, Giới từ……… ……… 132

3.2.1 Bảng so sánh tần số xuất hiện……… 132

3.2.2 Nhận xét:……… 132

Kết luận ……… …………140

Danh mục tài liệu tham khảo……… …… 142 Phụ lục

Trang 5

MỞ ĐẦU

Hư từ là một trong những nội dung quan trọng khi tiến hành nghiên cứu

về ngữ pháp tiếng Việt Hư từ thường được coi là một phạm trù từ loại đối lập với thực từ Đây là một tập hợp không lớn về số lượng trong hệ thống từ loại tiếng Việt nhưng tần số sử dụng khá cao Đã có nhiều công trình nghiên cứu về

hư từ ở các phương diện như: nguồn gốc, tiêu chí phân định thực từ- hư từ, chức năng của hư từ…, điển hình là các tác giả Nguyễn Anh Quế, Nguyễn Tài Cẩn, Nguyễn Kim Thản… Điều đó cũng đủ chứng tỏ việc nghiên cứu hư từ có

vị trí như thế nào trong nghiên cứu ngôn ngữ học nói chung

Tuy vậy, việc nghiên cứu sâu về hư từ ở phương diện đối chiếu, so sánh

hư từ gốc Hán và hư từ thuần Việt qua các nguồn tư liệu văn học cổ thì vẫn chưa nhiều Một vài công trình nghiên cứu được kể tên như: Luận văn thạc sĩ

“Khảo sát hoạt động chức năng của một số hư từ có nguồn gốc từ tiếng Hán trong tiếng Việt” của tác giả Phạm Thị Hồng Trung, khóa luận tốt nghiệp

“Bước đầu khảo sát hoạt động của một số hư từ ở các tác phẩm trong Văn Thơ Nôm thời Tây Sơn” của tác giả Trương Thị Thu Trang, khóa luận tốt nghiệp

“Khảo sát hoạt động của phó từ gốc Hán trong tác phẩm “Hoàng Lê nhất thống chí” của Ngô Gia Văn Phái và tác phẩm “Giàn thiêu” của Võ Thị Hảo”” của Nguyễn Nam Thái

Bởi vậy, chúng tôi đã chọn vấn đề “Khảo sát hoạt động của một số hư từ trong tác phẩm “Pháp giảng tám ngày” của Alexandre De Rhodes” làm đề tài cho luận văn thạc sĩ của mình

Hệ thống hư từ trong tiếng Việt thường được phân chia thành các tiểu loại là phó từ, liên từ, giới từ, ngữ khí từ, trợ từ, tình thái từ Tuy nhiên, trong

Trang 6

luận văn này, chúng tôi chỉ đi sâu vào ba tiểu loại chính là phó từ, liên từ và giới từ Đây cũng là những tiểu loại tập trung phần lớn các hư từ gốc Hán trong tiếng Việt

Trong luận văn này, chúng tôi tiến hành khảo sát, thống kê hư từ ở tác phẩm “Phép giảng tám ngày” của Alexandre De Rhodes (1593 -1660) do Tủ sách đoàn kết (thuộc UBĐKCG Thành phố Hồ Chí Minh chủ trương) tuyển chọn, in ấn và phát hành năm 1993 (gồm 319 trang)

Tập sách này gồm các phần:

1 Bài giới thiệu “Phép giảng tám ngày” của ông Nguyễn Khắc Xuyên đã được đăng tải trong cuốn sách do Tinh Việt Văn Đoàn xuất bản năm

1961 Nguyễn Khắc Xuyên vốn là một nhà nghiên cứu, đã bảo vệ luận án tại đại học Gregoriana Roma năm 1958 về cuốn giáo lý bằng Việt ngữ của giáo sư Alexandre De Rhodes

2 Bản chụp toàn bộ cuốn “Phép giảng tám ngày” y cỡ 13x17, gồm hai cột La ngữ và Việt ngữ

Ngoài ra, ban biên tập của Tủ sách đoàn kết đã thêm vào một thứ ba với bản văn Việt ngữ đọc theo lối viết ngày nay (Phía dưới cũng có thêm bản Pháp văn của Henri Chappoulie) Bản Việt ngữ này phần lớn là bản Việt ngữ của Tịnh Việt Văn Đoàn với một số điều chỉnh

“Phép giảng tám ngày” của linh mục Alexandre De Rhodes vốn là tác phẩm chữ quốc ngữ đầu tiên được in ấn mà hiện chúng ta có Tác phẩm đã được nhà in của Bộ Tuyên giáo Roma ấn hành năm 1651, gồm 315 trang văn bản với hai cột La ngữ và Việt ngữ Nó được đánh giá là cuốn sách quý, hiếm đối với những người muốn nghiên cứu sự hình thành của chữ quốc ngữ cũng như cách trình bày giáo lý công giáo ngay từ đầu, ở thế kỉ XVII

Trang 7

Do vậy, để có thể dễ dàng tiếp cận tác phẩm, chúng tôi đã sử dụng và tiến hành khảo sát, thống kê số lượng ba tiểu loại hư từ Phó từ, Liên từ và Giới từ trên bản văn Việt ngữ đọc theo lối viết ngày nay trong cuốn “Phép giảng tám ngày” do “Tủ sách đoàn kết” ấn hành

III Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu và ý nghĩa

- Khảo sát, miêu tả hoạt động của ba tiểu loại hư từ: Phó từ, Liên từ, Giới từ trong tác phẩm “Phép giảng tám ngày” ở cả hai mảng từ gốc Hán và từ thuần Việt

- Sau khi thống kê, miêu tả, so sánh, chúng tôi sẽ đưa ra một số nhận xét về việc sử dụng hư từ của tiếng Việt giai đoạn này

Từ những mục đích trên, chúng tôi xác định những nhiệm vụ cụ thể phải thực hiện:

- Trình bày những lý thuyết quan trọng làm cơ sở lý luận cho luận văn

- Khảo sát, thống kê, phân loại hư từ theo ba tiểu loại Phó từ, Liên

từ, Giới từ

- Miêu tả cụ thể theo từng tiểu loại hư từ

- So sánh việc sử dụng hư từ trên một vài phương diện và rút ra nhận xét Cụ thể:

+ So sánh hư từ gốc Hán và hư từ thuần Việt

+ So sánh Phó từ, Liên từ, Giới từ

- Dựng lên bức tranh về ba tiểu loại hư từ: phó từ, liên từ, giới từ trong tác phẩm công giáo “Phép giảng tám ngày” của Alexandre De Rhodes thuộc giai đoạn cuối thế kỉ XVII

Trang 8

- Kết quả của nguồn tư liệu thống kê được sẽ là một nguồn tư liệu

bổ sung trong quá trình nghiên cứu ngữ pháp lịch sử

Trong luận văn này, chúng tôi sử dụng các phương pháp sau:

1 Phương pháp thống kê, phân loại

- Thống kê các hư từ khảo sát được theo phương pháp lập phiếu, mỗi phiếu tương ứng với một hư từ cụ thể xuất hiện trong ngữ cảnh cụ thể

- Phân loại tư liệu:

Phân chia theo ba tiểu loại: phó từ, liên từ, giới từ

Mỗi tiểu loại lại phân chia theo hai phân mảng: hư từ gốc Hán và hư từ thuần Việt Trong đó, lớp từ gốc Hán phân thành 2 loại: Hán Việt, Hán Việt Việt hóa

- Lập bảng thống kê 3 tiểu loại hư từ phó từ, liên từ, giới từ

2 Phương pháp miêu tả Sau khi phân loại cụ thể, chúng tôi sẽ tiến hành miêu tả theo nhóm chức năng ngữ pháp mà từ đảm nhiệm:

- Ý nghĩa ngữ pháp của từ

- Cấu trúc ngữ pháp mà từ tham gia

- Ví dụ, phân tích

3 Phương pháp so sánh Dựa vào nguồn tư liệu thống kê được, chúng tôi sẽ tiến hành lập các bảng

so sánh trên một vài khía cạnh cụ thể Từ đó đánh giá, rút ra nhận xét

Luận văn chia thành ba phần, ngoài phần Mở đầu, Kết luận thì phần Nội dung gồm có 3 chương:

Chương I: Cơ sở lý thuyết liên quan đến đề tài

Trang 9

Chương II: Miêu tả hoạt động của Phó từ, Liên từ, Giới từ trong “Phép giảng tám ngày”

Chương III: So sánh, nhận xét về hoạt động của ba tiểu loại hư từ trong tác phẩm “Phép giảng tám ngày”

VI Một số chữ viết tắt

DT: danh từ D: danh ngữ ĐT: động từ V: vị từ

Trang 10

NỘI DUNG CHƯƠNG I

CƠ SỞ LÝ THUYẾT LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI

Tiếng Việt có một vốn từ rất lớn Khi phân chia về mặt từ vựng thì vốn từ này có thể chia theo cấu tạo từ đơn, từ phức; hoặc chia theo nguồn gốc thành từ thuần Việt, từ Hán Việt, từ vay mượn, từ quốc tế Riêng từ Hán Việt cũng đã phân chia thành Hán Việt cổ, Hán Việt, Hán Việt Việt hóa Còn về mặt ngữ pháp, vốn từ này được phân chia thành 2 phân mảng thực từ và hư từ

Với một ngôn ngữ phân tích tính như tiếng Việt thì bên cạnh những thực

từ, hư từ đóng một vai trò hết sức quan trọng, bởi phần lớn các phạm trù ngữ pháp, các quan hệ ngữ pháp đều được thể hiện thông qua hư từ Bản chất ý nghĩa của hư từ thiên về tính chất ngữ pháp Trong tiếng Việt, số lượng thực từ nhiều hơn hẳn so với hư từ Nhưng tần số sử dụng hư từ lại cao hơn hẳn so với thực từ Nếu như không có thực từ thì không thể có sự liên hệ với sự vật, hiện tượng trong thực tế, nhưng không có hư từ thì không thể suy nghĩ, thông báo được đầy đủ, rõ ràng Không thể nói ra toàn những câu mà trong đó chỉ có thực

từ

Đã có nhiều nhà ngôn ngữ học đề cập đến vấn đề hư từ trong tiếng Việt Tuy vậy, cũng chưa hẳn đã có sự thống nhất hoàn toàn giữa các nhà nghiên cứu

về vấn đề này, mà trước tiên có thể kể đến quan niệm về hư từ Bởi vậy, trong phần lý thuyết này, chúng tôi xin trích dẫn một vài ý kiến làm cơ sở lý luận cho việc nhìn nhận, đánh giá về hư từ, phục vụ cho việc tiến hành khảo sát, phân loại hư từ được chính xác hơn

1.1 Khái niệm hư từ

Trang 11

- Tác giả Hoàng Phê trong [14, 472] giải thích: “Hư từ là những từ không có khả năng độc lập làm thành phần câu, được dùng để biểu thị quan hệ ngữ pháp giữa các thực từ”

- Nguyễn Anh Quế trong [16, 14] cho rằng: “Hư từ không có ý nghĩa từ vựng chân thực, chỉ có tác dụng nối các từ, các mệnh đề, các câu lại với nhau theo một quan hệ nào đó, chúng cũng không thể làm thành phần câu”

- Diệp Quang Ban trong [3, 469] quan niệm: “Hư từ là từ không có khả năng độc lập làm thành phần câu và phục vụ cho việc biểu hiện các mối quan hệ ngữ nghĩa, cú pháp giữa các thực từ”

- Đinh Văn Đức trong [9, 53] cho rằng: “Hư từ không trực tiếp biểu niệm, nó là phương tiện dùng để phân suất các hình thức của khái niệm và biểu đạt mối quan hệ giữa các khái niệm trong tư duy (theo cách phản ánh bằng ngôn ngữ của người bản ngữ)

- Hoàng Trọng Phiến trong [15, 7] cũng quan niệm: “Hư từ là một lớp từ làm phương tiện biểu hiện các quan hệ ngữ pháp – ngữ nghĩa khác nhau giữa các thực từ”

- Nguyễn Kim Thản trong [20, 149] cho rằng: “Hư từ là những từ không có ý nghĩa từ vựng hẳn hoi mà chỉ có tác dụng làm công cụ để chỉ các ý nghĩa ngữ pháp khác nhau”

- “Ngữ pháp tiếng Việt” của UBKHXH (tr 68): Hư từ là những từ có nghĩa hư, loại nghĩa mà không thể nhờ nó làm sự liên hệ với sự vật, hiện tượng

Hư từ được dùng để biểu thị một số những quan hệ cú pháp nhất định

Như vậy có thể thấy rằng, hư từ là một phạm trù từ loại đối lập với thực

từ Một số tiêu chí được các nhà nghiên cứu nhắc đến khi phân biệt hư từ với thực từ (theo [3, 470]) gồm:

- Ý nghĩa khái quát

- Khả năng kết hợp

Trang 12

- Chức vụ cú pháp Mỗi nhà ngôn ngữ học lại đưa ra những đặc điểm của hư từ:

- Quan niệm của Đinh Văn Đức [9, 53-54]: Hư từ không làm trung tâm đoản ngữ, trong đa số trường hợp hư từ được dùng làm yếu tố liên kết cú pháp và là chất “xúc tác” cho việc liên kết từ trong ngữ lưu qua các loại hình cấu trúc ngữ pháp Hư từ không có khả năng độc lập tạo ra câu và cũng không làm thành phần câu

- Theo Hoàng Trọng Phiến [15, 8-11], hư từ có những đặc điểm: + Hư từ mang nghĩa quan hệ Nghĩa của hư từ gắn với cách thức tư duy, hành vi tư duy Lựa chọn hư từ nào để cấu tạo câu nói mang thông tin là xuất phát từ nhu cầu diễn đạt của tư duy

+ Hư từ tham gia kiến tạo lập luận

+ Hư từ không làm trung tâm của cụm từ, của ngữ đoạn và không độc lập làm thành phần câu cũng như không độc lập tạo ra câu Hư từ và các kết cấu hư

từ đứng ngoài nòng cốt câu và có liên đới đến toàn câu nhằm diễn đạt ý nghĩa ngữ dụng nào đó tùy theo chiến lược của người sử dụng chúng

+ Hư từ tự nó không có khả năng biểu hiện sắc thái nghĩa Nó có nghĩa tình thái khi tham gia vào một kết cấu cú pháp nào đó, trong một văn cảnh nào

đó

+ Hư từ không có khả năng láy để tạo dạng thức ngữ pháp

Nguyễn Minh Thuyết trong [22] cũng đưa ra một số dấu hiện để nhận diện từ loại hư từ Dựa trên các dấu hiệu này, chúng ta có thể có một cách hiểu khái quát về hư từ như sau:

Một từ được coi là hư từ khi nó không mang ý nghĩa từ vựng chân thực, không có khả năng làm trung tâm trong đoản ngữ, không đứng độc lập làm thành phần câu Hư từ chỉ làm thành tố phụ cho thực từ, hoặc có tác dụng nối

Trang 13

1.2 Phân loại

Hư từ trong tiếng Việt được xác định bao gồm các tiểu loại: phó từ, liên

từ, giới từ, ngữ khí từ, trợ từ, tình thái từ Tuy vậy, không phải các nhà ngôn ngữ học đều có sự thống nhất với nhau trong cách phân chia và gọi tên các tiểu loại hư từ này

Ở đây, chúng tôi xin tạm không bàn sâu đến vấn đề này mà tập trung đi vào chi tiết Cụ thể, trong phạm vi luận văn này, chúng tôi chỉ tiến hành khảo sát ba tiểu loại hư từ là : Phó từ, Liên từ, Giới từ Phần lớn các hư từ gốc Hán trong tiếng Việt đều thuộc ba tiểu loại này, nên đây sẽ là cơ sở dễ dàng để chúng tôi tiến hành so sánh, đối chiếu hư từ thuần Việt với các hư từ gốc Hán

1.3 Ý nghĩa và chức năng

Bên cạnh thực từ, hư từ là mảng từ không thể thiếu trong vốn từ tiếng Việt Hư từ cũng là một đơn vị cơ bản của ngôn ngữ, là vật liệu tạo nên các đơn

vị lớn hơn như đoản ngữ, cú… Hư từ không có ý nghĩa từ vựng, nhưng trong tiếng Việt một số lượng không nhỏ các hư từ là chuyển từ thực mà ra, nhất là các phó từ, giới từ, liên từ… Khi tham gia tổ chức câu nói, hư từ cũng mang vào câu những nét nghĩa bổ sung, còn gọi là nghĩa tình thái Bởi vậy, không có

lý gì chúng ta có thể bỏ qua ý nghĩa cũng như chức năng của hư từ

1.3.1 Ý nghĩa

So với thực từ, hư từ có ý nghĩa từ vựng mờ nhạt hơn (theo [16, 38]), nó không thể hiện trọn vẹn một ý nghĩa chân thực nào mà chỉ thể hiện ý nghĩa nghĩa ngữ pháp, như ý nghĩa về thời, thể… hoặc quan hệ liên kết Để xác định ý nghĩa của hư từ cần thông qua chức năng cú pháp do chúng biểu thị trong các tổ hợp

1.3.2 Chức năng

Theo Nguyễn Anh Quế trong [16, 43] thì hư từ không làm yếu tố chính, chỉ làm yếu tố phụ trong đoản ngữ, chỉ dùng để kết nối các thành phần câu, các

Trang 14

đoản ngữ với nhau Tuy vậy, không phải chỉ khi đứng cạnh các yếu tố trung tâm hoặc nối kết các câu với nhau chúng mới mang nghĩa

VD: Những cái bàn bằng gỗ

“Những” là hư từ chỉ số nhiều Thử thay thế “những” bằng số từ là 3 (chiếc bàn) thì danh từ vẫn là số nhiều Như vậy chứng tỏ, không phải quan hệ giữa “những” và “cái bàn” quy định nét nghĩa số nhiều của “những” Sở dĩ

“những” mang nét nghĩa số nhiều chính là vì nó đối lập với “một” (số ít)

Hư từ mặc dù không lớn về số lượng trong hệ thống từ loại tiếng Việt nhưng tần số sử dụng lại khá cao Như trên đã nói, khi tham gia tổ chức câu, hư

từ còn mang vào câu những nét nghĩa bổ sung, còn gọi là nghĩa tình thái (theo Hoàng Trọng Phiến trong [15, 8]) Theo ông, về mặt triết học, quan hệ cũng là nghĩa Đó là khái niệm về sự liên hệ và quan hệ giữa các sự vật mà các từ biểu thị Chẳng hạn: quan hệ đồng thời: Anh cùng em đi trên đường cách mạng; quan hệ sở hữu: Đất nước của chúng ta, đất nước của những người không bao giờ chịu khuất phục trước bất cứ kẻ thù nào; quan hệ điều kiện – kết quả: Có làm thì mới có ăn Nghĩa quan hệ của các hư từ thuộc vào phạm trù trừu tượng, nghĩa lập luận logic

1.3.3 Tác dụng

Hoàng Trọng Phiến [15, 11-17] có chỉ ra những tác dụng của hư từ:

- Gắn kết các đơn vị tham gia cấu tạo câu với các quan hệ ngữ nghĩa- ngữ pháp khác nhau

VD: Vâng, đã từ bao nhiêu năm rồi, dễ thường cũng phải 45 năm thì phải

Phát ngôn có “dễ thường… thì phải” tạo nên kết cấu câu biểu hiện nghĩa phỏng đoán với nghĩa “rất có thể là như vậy”

Ngày đăng: 24/02/2023, 08:21

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm