Ngày soạn Ngày giảng Tiết 1,2,3 MỞ RỘNG ĐỌC CÁC VĂN BẢN TRUYỆN NGOÀI SÁCH GIÁO KHOA I Mục tiêu dạy học 1 Năng lực 1 1 Năng lực chung NL giao tiếp, hợp tác biết lắng nghe và có phản hồi tích cực trong.
Trang 1Ngày soạn :
Ngày giảng
Tiết 1,2,3
MỞ RỘNG ĐỌC CÁC VĂN BẢN TRUYỆN NGOÀI SÁCH GIÁO KHOA
I.Mục tiêu dạy học.
1.Năng lực
1.1.Năng lực chung:
- NL giao tiếp, hợp tác: biết lắng nghe và có phản hồi tích cực trong giao tiếp
- NL tự chủ và tự học: biết chủ động, tích cực thực hiện những công việc của bản thân trong học tập
- Giải quyết vấn đề và sáng tạo: biết cách xử lí nhiệm vụ theo đúng trọng tâm, sáng tạo trong cách tiếp cận và trình bày vấn đề
1.2.Năng lực đặc thù:
Bài học góp phần phát triển năng lực văn học và năng lực ngôn ngữ cho học sinh:
- Nhận biết và phân tích được một số yếu tố của truyện nói chung và thần thoại nói riêng như: cốttruyện, không gian, thời gian, nhân vật, lời người kể chuyện ngôi thứ ba và lời nhân vật
- Phân tích và đánh giá được chủ đề, tư tưởng, thông điệp của văn bản; phân tích được một số căn cứ đểxác định chủ đề
- Viết được một văn bản nghị luận phân tích, đánh giá chủ đề và những nét đặc sắc về nghệ thuật củamột tác phẩm truyện
- Biết thuyết trình (giới thiệu, đánh giá) về nội dung và nghệ thuật của một tác phẩm truyện
2.Phẩm chất:
- Trung thực: Trung thực trong thực hiện và báo cáo các sản phẩm của nhóm
- Trách nhiệm: Trong thực hiện nhiệm vụ chung của nhóm; Sống có khát vọng, có hoài bão và thể hiệnđược trách nhiệm với cộng đồng…
- Chăm chỉ: Có tinh thần tích cực trong việc tạo lập văn bản chia sẻ những cảm thụ thẩm mĩ của mình
về các tác phẩm văn chương
II Tiến trình dạy học
KIẾN THỨC CHUNG
1 Thần thoại và Thần thoại Hy Lạp
Câu hỏi 1: Hãy nhắc lại khái niệm thần thoại và nêu những hiểu biết của em về thần thoại Việt
Nam?
- Thần thoại là thể loại truyện kể xa xưa nhất, thể
hiện quan niệm về vũ trụ và khát vọng chinh
phục thế giới tự nhiên của con người thời nguyên
thuỷ
- Cho đến nay, mặc dù đã bị mai một ít nhiều,thần thoại Việt Nam vẫn là một di sản phongphú với hàng trăm truyện kể của người Kinh vàcác dân tộc thiểu số Trong một số bộ sáchmang tính chất sưu tầm, tuyển tập, nhiều thầnthoại đã được đặt lẫn với các truyền thuyết, ctích, do vậy, màu sắc riêng của thần thoại ítnhiều bị làm mờ nhạt
Căn cứ vào chủ đề, có thể chia thần thoại thành
hai nhóm:
+ Thần thoại kể về nguồn gốc vũ trụ và muôn loài
(thần thoại suy nguyên)
+ Thần thoại kể về cuộc chinh phục thiên nhiên
và sáng tạo văn hoá (thần thoại sáng tạo)
- Thần thoại Việt Nam gồm cả hai nhóm thầnthoại suy nguyên và thần thoại sáng tạo
+ Nhóm thần thoại suy nguyên: nhiều truyện cócách hình dung, lí giải về sự hình thành thế giới
tự nhiên, nguồn gốc con người và vạn vật rấtgần gũi với các hệ thống thần thoại khác trên
Trang 2thế giới Nhân vật chính của thần thoại suynguyên là các vị thần sáng tạo thế giới: trời đất,mặt trời, mặt trăng, sông biển, mưa, gió, sấm,sét, muôn loài
+ Nhóm truyện thần thoại sáng tạo có nhân vậtchính là các anh hùng thần thoại và anh hùngvăn hoá Kì tích cùa họ phản ánh vẻ đẹp riêngcùa cuộc sống lao động, tín ngưỡng và văn hoácủa từng cộng đồng
- Thần thoại thường có cốt truyện đơn giản: có thể là cốt truyện đơn tuyến, tập trung vào một nhânvật hoặc là một tổ hợp nhiều cốt truyện đơn (tạo thành một “hệ thần thoại”)
Ra đời trong ‘tuổi ấu thơ” của loài người nên thần thoại mang tính nguyên hợp: chứa đựng cácyếu tố nghệ thuật, tôn giáo, triết học, lịch sử, Vì vậy, thần thoại có vai trò đặc biệt quan trọngtrong việc lưu giữ di sản văn hoá nguyên thuỷ của cộng đồng
Nhân vật chính của thần thoại là các vị thần, hoặc những con người có nguồn gốc thần linh, cónăng lực siêu nhiên nên có thể được miêu tả với hình dạng khổng lồ, hoặc với sức mạnh phithường, Chức năng của nhân vật trong thần thoại là cắt nghĩa, lí giải các hiện tượng tự nhiên vàđời sống xã hội, thể hiện niềm tin của con người cổ sơ cũng như những khát vọng tinh thần có ýnghĩa lâu dài của nhân loại
Câu chuyện trong thần thoại gắn liền với thời gian phiếm chỉ, mang tính ước lệ và không gian vũ trụvới nhiều cõi khác nhau Lối tư duy hồn nhiên, chất phác, tri tường tượng bay bồng, lãng mạn đãlàm nên sức cuốn hút và sức sống lâu bền cho thần thoại
Bài 1: Đọc văn bản và thực hiện yêu cầu:
Lật đổ Ouranos, giành lấy quyền cai quản thế gian, thế nhưng Cronos vẫn chưa yên tâm Thần vẫn lo sợ số phận mình có ngày sẽ kết thúc như Ouranos, nghĩa là có một ngày nào
đó, những đứa con do Cronos này dứt ruột đẻ ra sẽ truất ngôi của bố nó Thần nghĩ ra một cách
để trừ hậu họa: nuốt các con vào bụng! Rhéa năm lần sinh nở đều chẳng nuôi lấy được một đứa nào Hestia (thần thoại La Mã: Vesta), Déméter, Héra rồi Hadès, Poséidon lần lượt bị Cronos nuốt chửng vào bụng Nữ thần Rhéa rất đỗi lo lắng và giận dữ Hơn nữa nàng lại sắp đến ngày sinh nở Lần này theo lời khuyên của nữ thần Đất mẹ-Gaia, nàng lánh sang đảo Crète Ở đây trong một cái hang đá của ngọn núi Ida, nàng đã sinh đứa con trai út và đặt tên nó là Zeus
Tuổi thơ ấu, Zeus ở đảo Crète, tuy phải xa mẹ (vì Rhéa sau khi sinh xong trở về Hy Lạp) song vẫn được chăm sóc chu đáo Ngày ngày hai tiên nữ Ida và Adrastée - những tiên nữ trú ngụ ở rừng già, đồng nội, bờ sông ngọn suối hay ở núi cao, hang sâu cho đến những thung lũng hoang vắng mà người Hy Lạp gọi bằng một cái tên chung là Nymphe52 - lấy sữa dê và mật ong nuôi đứa bé Con dê thần Amalthée với bầu sữa lúc nào cũng căng, không bao giờ để chú bé Zeus phải khóc vì đói Nó lại còn là người bạn thân thiết của Zeus, để cho Zeus khỏi khóc vì buồn Tuy vậy cũng phải đề phòng nhỡ có lúc nào đó chẳng hiểu làm sao chú bé Zeus khóc thì phiền, rất phiền Cronos mà nghe được tiếng khóc của Zeus thì số phận của chú thoát sao khỏi
bị nuốt Các quỷ thần Curètes lo việc đó Bằng mọi cách, gõ trống, gõ chiêng khua vang binh khí, hò hét, kêu la các Curètes phải làm cho hễ Zeus vừa cất tiếng khóc là bị át đi ngay Cẩn thận hơn nữa, các Curètes còn lấy gỗ lấp, vít cửa hang thật kín không sót một kẽ hở nào để nhỡ
ra Zeus có khóc thì cũng không một tiếng khóc nào lọt được ra ngoài.
(Trích Thần thoại Hy Lạp)
Câu 1: Xác định nội dung và phương thức biểu đạt chính
Câu 3: Theo văn bản, thần Zeus (Dớt) có nguồn gốc xuất thân như thế nào?
Câu 4: Nêu các sự kiện chính được kể trong đoạn trích
Câu 5: Dựa vào đâu để xác định đoạn trích thuộc tác phẩm thần thoại?
Trang 3Đáp án
Câu 1: Nội dung chính: kể về nguồn gốc của thần Zeus, sau này trở thành đấng thống lĩnh trong
thế giới các vị thần trên đỉnh Ôlympus
Phương thức biều đạt chính: Tự sự
Câu 2: Nguồn gốc của Zeus: là con thứ 5 của 2 vị thần mà trong đó, cha là vị thần tối cao cai
quản thế gian Cronos và mẹ là nữ thần Rhéa
Câu 3: Các sự kiện được kể trong đoạn trích:
- Cha của Dớt là thần Cronos lo sợ bị truất quyền nên nuốt hết các con vào bụng Để cứu ngườicon thứ 5, mẹ của Zeus là thần Rhéa phải bỏ trốn và sinh con trong hang đá
- Tuổi thơ của Zeus phải xa mẹ, được các tiên nữ trông nom, uống sữa và làm bạn với con dêAmalthée, được các quỷ thần Curètes bảo vệ
Câu 4: Các yếu tố điển hình có thể xác định đoạn trích thuộc tác phẩm thần thoại:
+ Là truyện kể về các vị thần
+ Có sử dụng nhiều chi tiết hoang đường, kì ảo…
Bài 4 : Đọc đoạn trích sau và thực hiện các yêu cầu:
Thần Mưa là vị thần hình rồng, thường bay xuống hạ giới hút nước biển, nước sông vào bụng rồi bay lên trời cao phun nước ra làm mưa cho thế gian có nước uống và cày cấy, cây cỏ trên mặt đất được tốt tươi Thần Mưa thường theo lệnh Trời đi phân phát nước ở các nơi Thần Mưa
có tính hay quên, có vùng cả năm không đến, sinh ra hạn hán ở hạ giới, có vùng lại đến luôn, làm thành lụt lội Do đó mà có lần ở hạ giới phải lên kiện trời vì Thần Mưa vắng mặt lâu ngày Công việc phân phối nước cho khắp mặt đất rất nặng nề, một mình thần Mưa có khi không làm hết, nên có lần Trời mở một cuộc thi chọn các giống thủy tộc có tài trở thành rồng hút nước phun mưa giúp sức thần Mưa Cuộc thi rồng đó Trời đã chọn lấy địa điểm ở cửa Vũ (Vũ Môn) thuộc Hà Tĩnh ngày nay Do đó mà trong dân gian đã có câu hát về việc cá gáy hóa rồng.
Mồng ba cá đi ăn thề, Mồng bốn cá về cá vượt Vũ Môn Khi trời đất mới sinh, thì chính Trời phải làm mưa cho dân sự làm ăn Sau vì khó nhọc quá, Trời không làm lấy mưa nữa Trời mới sai Rồng lấy nước phun xuống làm ra mưa.
Nhưng vì số Rồng trên trời ít, không đủ làm mưa cho điều hòa khắp mọi nơi, Trời mới đặt ra một kỳ thi kén các vật lên làm Rồng gọi là thi Rồng Khi chiếu Trời ban xuống dưới Thuỷ phủ, vua Thuỷ Tề loan báo cho các giống dưới nước ganh đua mà dự thi Trời cắt một viên Ngự sử
ra sát hạch Hạch có ba kỳ, mỗi kỳ vượt qua một đợt sóng, con vật nào đủ sức đủ tài, vượt được
cả ba đợt, thì mới lấy đỗ mà cho hóa Rồng Trong một tháng trời, bao nhiêu loài Thủy tộc đến thi đều bị loại cả, vì không con nào vượt qua được cả ba đợt sống Sau có con cá rô nhẩy qua được một đợt thì bị rơi ngay, nên chỉ có một điểm Có con tôm nhẩy qua được hai đợt, ruột, gan, vây, vẩy, râu, đuôi đã gần hóa Rồng, thì đến lượt thứ ba, đuối sức ngã bổ xuống lưng cong khoăm lại và chất thải lộn lên đầu Hai con cùng phải trở lại yên nghiệp ở đồng như trước Đến lượt cá chép vào thi, thì gió thổi ào ào, mây kéo đầy trời, chép vượt luôn một hồi qua ba đợt sống, vào lọt cửa Vũ Môn Cá chép đỗ, vây đuôi, râu, sừng tự nhiên mọc đủ, dạng bộ oai nghi,
cá chép hóa Rồng phun nước làm ra mưa.
( Trích Thần Mưa, Quyển ba: Thần thoại (Việt Nam – Trung Hoa), Tuyển tập văn chương nhi đồng, Doãn Quốc Sĩ, NXB Sáng Tạo, 1970, T.32 – T 33)
Câu 1 Xác định ngôi kể được sử dụng trong đoạn trích.
Câu 2 Theo đoạn trích, thần mưa có hình dáng, tính cách và công việc như thế nào?
Câu 3 Tại sao lại có cuộc thi vượt Vũ Môn?
Câu 4 Nhận xét cuộc thi vượt Vũ Môn Các con vật đã trải qua cuộc thi như thế nào?
Câu 5 Mục đích của việc tác giả kể về cá rô, tôm và cá chép là gì?
Trang 4Câu 6 Hãy viết một đoạn văn ngắn (khoảng 150 chữ) trả lời câu hỏi: làm gì khi phải đối mặt
với khó khăn thử thách?
Gợi ý làm bài Câu 1: Ngôi kể thứ ba.
Câu 2: Theo đoạn trích, thần Mưa:
- Hình dáng: Thần Mưa là vị thần hình rồng
- Công việc: bay xuống hạ giới hút nước biển, nước sông vào bụng rồi bay lên trời cao phun nước ra làm mưa cho thế gian có nước uống và cày cấy, cây cỏ trên mặt đất được tốt tươi Thần Mưa thường theo lệnh Trời đi phân phát nước ở các nơi.
- Tính cách: Thần Mưa có tính hay quên, có vùng cả năm không đến, sinh ra hạn hán ở hạ giới,
có vùng lại đến luôn, làm thành lụt lội Do đó mà có lần ở hạ giới phải lên kiện trời vì Thần Mưa vắng mặt lâu ngày.
Câu 3:
Vì công việc phun nước làm mưa rất nặng nhọc nên trời sai Rồng làm nhưng số lượng Rồng trênTrời lại ít
Câu 4:
- Là cuộc thi vô cùng khó khăn:
+ Trong một tháng trời, bao nhiêu loài Thủy tộc đến thi đều bị loại cả, vì không con nào vượt qua được cả ba đợt sống
+ Sau có con cá rô nhẩy qua được một đợt thì bị rơi ngay, nên chỉ có một điểm
+ Có con tôm nhẩy qua được hai đợt, ruột, gan, vây, vẩy, râu, đuôi đã gần hóa Rồng, thì đến lượt thứ ba, đuối sức ngã bổ xuống lưng cong khoăm lại và cứt lộn lên đầu Hai con cùng phải trở lại yên nghiệp ở đồng như trước
+ Đến lượt cá chép vào thi, thì gió thổi ào ào, mây kéo đầy trời, chép vượt luôn một hồi qua ba đợt sống, vào lọt cửa Vũ Môn Cá chép đỗ, vây đuôi, râu, sừng tự nhiên mọc đủ, dạng bộ oai nghi, cá chép hóa Rồng phun nước làm ra mưa.
Câu 5:
Tác giả chọn các con vật này chính là để lí giải những đặc tính của chúng (cá rô nhảy lên bờ khimưa rào, tôm cong lưng và nội tạng ở trên đầu, cá chép có râu, nhảy rất cao, dáng hình đẹp đẽ,
…)
Câu 6 HS viết đoạn văn theo yêu cầu đề bài
- Hình thức: đảm bảo dung lượng số dòng, không được gạch đầu dòng, không mắc lỗi chính tả,
ngữ pháp Hành văn trong sáng, cảm xúc chân thành;
- Nội dung: Làm gì khi phải đối mặt với khó khăn thử thách?
+ Những khó khăn, thử thách là điều không thể tránh khỏi trong cuộc sống
+ Ta cần đối mặt một cách chủ động, tự tin vì:
++ Những khó khăn, thử thách là môi trường giúp ta rèn luyện bản lĩnh vững vàng
++ Giúp ta rèn luyện ý chí, nghị lực; có sức mạnh tinh thần để từng bước dấn thân vào cuộc đời;làm chủ cuộc đời của mình…
++ Vượt qua khó khăn, thử thách giúp ta hiểu được chính mình, phát hiện ra năng lực bản thân,linh hoạt trong cách xử lí tình huống và có thêm kinh nghiệm để phát triển tương lai
Đề nâng cao
Đề 1: Viết bài văn nghị luận phân tích, đánh giá tác phẩm truyện “Thần Trụ Trời”
1 Mở bài
- Giới thiệu chung về vẻ đẹp của thần thoại.
- Giới thiệu truyện “Thần Trụ Trời”
Ví dụ: Niềm vui của nhà văn chân chính là niểm vui của người dẫn đường đến xứ sở cái đẹp
Trang 5(Pau-tốp-xki) Tác giả dân gian ngàn năm qua đã đưa ta đến với thế giới thần thoại đầy kì ảo,diệu huyền Ở đó ta nhận ra những nỗ lực phi thường của con người buổi sơ khai trong việc lígiải sự cấu thành và kiến tạo thế giới “Thần Trụ Trời” ra đời vào thuở bình minh của loài người,
đã tròn chức năng lí giải của một thần thoại suy nguyên, nhưng cũng chiếm trọn niềm mến yêucủa người đọc muôn thế hệ vì sức hấp dẫn, lôi cuốn lạ kì
B2: Phân tích vẻ đẹp của truyện “Thần Trụ Trời”
* Vẻ đẹp của thời gian, không gian thần thoại
- Thời gian thần xuất hiện: ngày xưa, ngày xưa lắm, thuở chưa có trời đất, muôn vật con người
- Không gian: Một vùng tối tăm, hổn độn, mù mịt của vũ trụ sơ khai
=> Thời gian, không gian khởi thủy buổi khai thiên lập địa để lại dấu ấn rất đậm trong ký ứcngười nguyên thuỷ Thời gian, không gian ấy, họ quan niệm, là của thế giới Thần Với cách giớithiệu như thế, truyện đã kéo người nghe vào không khí thần thoại, gợi những bí ẩn huyền diệuquanh nhân vật Thần, tạo bối cảnh để sau đó làm rõ hơn kỳ tích đắp cột chống trời
* Vẻ đẹp của vị thần phi thường:
- Hình dạng: Thần Trụ Trời được phóng đại tới kích thước khổng lồ Những kích thước bìnhthường không thể miêu tả nổi Lấy sự đồ sộ, hùng vĩ của thiên nhiên cũng không sánh được:
“Thần cao lớn vô cùng, chân dài không sao tả xiết, mỗi bước đi là băng từ vùng này qua vùngkhác, vượt từ núi này sang núi kia…”
-> Nhân dân tin rằng, con người đạt được những chiến công khổng lồ thì cũng phải khổng lồ từthể xác tầm vóc
- Công việc: Thần làm rất lạ lùng: đội trời lên, đưa cột cao to chống trời, phá cột chống trời, tạo
ra núi sông biển cả
-> Đấy là những công việc qui mô vĩ đại, tạo thiên lập địa, xây dựng cõi thế gian đúng theo quanniệm về vũ trụ (Trời tròn, đất vuông) của người xưa
=> Thần xuất hiện như một người lao động miệt mài, với những công việc, bản tính rất quenthuộc của người lao động: Đào đất, khuân đá, đắp cột, hì hục đào đắp
=> Hình tượng Thần là hình tượng liên tục lao động để liên tục sáng tạo:
+ Kì tích, kết quả lao động của Thần đọng lại ở hình ảnh rất kì vĩ, nên thơ: “Cột đắp lên caochừng nào thì trời tựa như một tấm màn lớn được nâng cao lên chừng ấy” Cột đắp cứ cao dần,cao dần và đầy vòm trời lên tận mây xanh
-> Hình ảnh đã khái quát công sức chiến công lao động của Thần Công sức chiến công ấy caolớn, bao la như bầu trời, phải lấy trời đất thăm thẳm, mênh mông, vĩnh hằng mới đo được + Hình ảnh, bầu trời, mặt đất, biển cả trong truyện cũng chính là sự bất tử hoá vị Thần đã tạodựng ra thế giới
+ Chiến công của thần – nhân dân kể – còn được chạm khắc vào hình dáng núi sông, đó là vếttích còn lại ngày nay Chuyện đắp cột chống trời thì rất hoang đường nhưng núi thì có thật Vếttích núi được đưa vào truyện dường như muốn làm cho mọi người tin sự tích của Thần Trụ Trời
=> Như thế, Thần Trụ Trời, qua nghệ thuật hư cấu, phóng đại của thần thoại, là vị Thần khởithuỷ của Bách thần, có hình dạng, có sức mạnh, tài năng tuyệt vời, công lao bao trùm cả trời đất
và muôn loài
- Tiếp theo công việc của Thần Trụ Trời là công việc của các vị thần khác để xây dựng, sửa sangthế gian, vũ trụ: “ Ông đếm cát, Ông tát bể, Ông trồng cây, Ông xây rú,…” Các Thần đã hợpthành một tập thể những người lao động khổng lồ, nhẫn nại, sáng tạo ra những công trình vĩ đại
=> Trong hình bóng, công việc, kì tích của các thần đều có hình ảnh của nhân dân Tập thể đôngđảo nhân dân tập hợp lại thành sức mạnh khổng lồ tạo lập, xây dựng thế giới Nhân dân đã kéocác Thần xuống với họ
* Vẻ đẹp của chi tiết kì ảo:
Trang 6- “Thần Trụ Trời” là câu chuyện hoang đường Hình tượng thần và việc làm của Thần, từ việcxây cột khổng lồ chống trời lên cao tít tới việc phá cột, ném tung đất đá thành núi đồi, đào đấtthành sông biển… cho đến công việc của các thần khác như: đào sông, trồng cây, xây rú đều làtưởng tượng ngây thơ, hồn nhiên thú vị
* Vẻ đẹp từ những ý nghĩa sâu xa của truyện:
+ Truyện giải thích sự hình thành trời đất, núi sông, biển cả theo quan niệm của người nguyênthuỷ Người nguyên thuỷ hiểu, nghĩ về các hiện tượng tự nhiên bằng những hiểu biết thô sơ, chấtphác và trí tưởng tượng phong phú, ngây thơ của mình Họ cho rằng trời đất, thế gian là do cácThần tạo nên Cách giải thích ấy tất nhiên là không đúng vì trình độ hiểu biết của con người vàobuổi ấu thơ của nhân loại còn rất thấp kém nhưng cũng chứng tỏ tính tích cực, luôn muốn tìm tòihiểu biết thế giới quanh mình của con người Hơn nữa, bên cạnh những nhận thức sai lầm, chúng
ta cũng gặp ở đây những chân lý (vạn vật tự tạo và luôn vận động) mà người nguyên thuỷ đãnhận thức thô sơ
+ Sự ca ngợi con người và lao động sáng tạo vĩ đại của họ: Thần Trụ Trời cũng như bao vị thầnkhác, tuy là thần, có vóc dáng khổng lồ, làm các việc phi thường sáng tạo ra Trời đất, song cũngchỉ là hình bóng của con người Ở các truyện thần thoại khác, thần có khi nửa người nửa thúnhưng trong “Thần Trụ Trời”, các thần đã mang dáng dấp con người Con người đã tạo ra thầntheo khuôn mẫu của mình Thần đã làm sáng danh con người và lao động của họ, như M.Gorkinhận xét Người nguyên thủy tin tưởng ở lao động, lao động làm ra tất cả Các thần đều phithường nhưng vẫn phải lao động miệt mài nhẫn nại mới tạo ra kì tích, sáng lập được thế giới
=>Tuy còn đơn giản nhưng hình tượng của Thần Trụ Trời vẫn để lại cho các thế hệ sau nhiều ấntượng về vẻ đẹp huyền ảo, kì vĩ Phải chăng, từ hình tượng này, người đời sau đã có thành ngữ
“đội trời, đạp đất” để nói về những con người có sức mạnh phi thường, kì lạ, anh hùng
* Đánh giá khái quát
- Đặc sắc nghệ thuật:
+ Chi tiết tưởng tượng kì ảo
+ Xây dựng nhân vật chức năng
+ Thời gian phiếm chỉ, mang tính ước lệ
+ Không gian vũ trụ với nhiều cõi khác nhau
+ Ngôn ngữ tự sự hồn nhiên
+ Cốt truyện đơn giản nhưng hấp dẫn, sinh động.
- Đặc sắc nội dung:
Qua các vị thần, người nguyên thủy thể hiện cách hình dung, lí giải về sự hình thành thế giới tự
nhiên, nguồn gốc con người và vạn vật, đồng thời phản ánh vẻ đẹp riêng của cuộc sống lao
động, tín ngưỡng và văn hóa của từng cộng đồng
3 Kết bài
- Khái quát lại vẻ đẹp của truyện “Thần Trụ Trời” nói riêng, thế giới thần thoại nói chung
- Nêu suy nghĩ của bản thân
HOẠT ĐỘNG LUYỆN TẬP
1 Đặc điểm nổi bật của truyền kì?
A Cốt truyện mang màu sắc dân gian hoặc dã sử
B Nhân vật xuất hiện theo hàng trạng nhân vật
C Sự kết hợp giữa yếu tố kì lạ và yếu tố thực
C
Trang 7D Lời văn đan xen giữa văn xuôi và thơ
2 Nội dung chính của Chuyện chức phán sự đền Tản Viên ?
A Ca ngợi tinh thần khảng khái, cương trực, dám đấu tranh chống lại cái ác trừ
hại cho dân
B Đề cao vai trò của thần linh trong việc cứu giúp con người
C Bài học nhân sinh về chính – tà, thiện ác
D A và C
D
3 Trong Chuyện chức phán sự đền Tản Viên của Nguyễn Dữ, Ngô Tử Văn đốt đền
vì lí do gì?
A Vì muốn diệt trừ kẻ giả danh là thần mà lại tác yêu tác quái trong dân gian
B Vì không tin vào điều mê tín, dị đoan
C Vì muốn thể hiện thái độ cao ngạo của mình
D Vì muốn giúp đỡ viên Thổ công
5 Định nghĩa nào đúng với chức Phán sự trong Chuyện chức phán sự đền Tản
Viên của Nguyễn Dữ?
A Quan đứng đầu một tổng
B Quan xem xét cho vụ kiện tụng, giúp việc cho người xử án
C Quan xét xử các vụ tranh, chấp kiện tụng thời xưa
D Quan cai quản một địa phương
B
THỰC HÀNH ĐỌC HIỂU
Đề số 01: Đọc đoạn trích sau và trả lời các câu hỏi:
Than ôi! Người ta vẫn nói: “Cứng quá thì gãy” Kẻ sĩ chỉ lo không cứng cỏi được, còn gãy haykhông là việc của trời Sao lại đoán trước là sẽ gãy mà chịu đổi cứng ra mềm? Ngô Tử Văn là một anhchàng áo vải Vì cứng cỏi cho nên dám đốt cháy đền tà, chống lại yêu ma, làm một việc hơn cả thần vàngười Bởi thế được nổi tiếng và được giữ chức vị ở Minh ti, thật là xứng đáng Vậy kẻ sĩ, không nênkiêng sợ sự cứng cỏi
(Trích Chuyện chức Phán sự đền Tản Viên, Truyền kỳ mạn lục, bản dịch của Trúc Khê Ngô Văn Triện.
NXb Trẻ & Hội Nghiên cứu giảng dạy văn học TP HCM, in lại năm 1988)
Câu 1 Phương thức biểu đạt chính của đoạn văn bản trên.
Câu 2 Nêu nội dung chính của văn bản.
Câu 3 Câu văn nào trong văn bản có ý bác bỏ quan niệm đổi cứng ra mềm của những kẻ sĩ cơ hội, cầu
an? Cách bác bỏ thuyết phục người đọc dựa trên cơ sở nào?
Câu 4 Những việc làm chứng tỏ Ngô Tử Văn cứng cỏi?
Câu 5 Qua văn bản, nhà văn Nguyễn Dữ tỏ thái độ, tình cảm như thế nào với nhân vật Ngô Tử Văn? Câu 6 Ngày nay, kiểu nhân vật như Tử Văn có cần thiết cho đời sống chúng ta không? Vì sao?
Gợi ý
Câu 1 Phương thức biểu đạt chính của đoạn văn bản trên: Nghị luận
Câu 2 Nội dung chính của văn bản trên:
– Lời bình ở cuối truyện hàm chứa ý nghĩa sâu xa về khí tiết của kẻ sĩ chân chính ;
– Lời bình đã nói lên lời răn về nhân cách của kẻ sĩ, con người chân chính không nên uốn mình,phải sống cương trực, ngay thẳng Sự cứng cỏi, lòng can đảm trước những cái xấu, cái ác là thái độ ứng
xử tích cực cần được coi trọng
Câu 3 Câu văn trong văn bản có ý bác bỏ quan niệm đổi cứng ra mềm của những kẻ sĩ cơ hội, cầu an:
Vậy kẻ sĩ, không nên kiêng sợ sự cứng cỏi
Trang 8- Cách bác bỏ thuyết phục người đọc dựa trên cơ sở lí lẽ ( Than ôi! Người ta vẫn nói: “Cứng quá thìgãy” Kẻ sĩ chỉ lo không cứng cỏi được, còn gãy hay không là việc của trời.) và dẫn chứng thực tế ( Nói
về Ngô Tử Văn )
Câu 4 Những việc làm chứng tỏ Ngô Tử Văn cứng cỏi:
- Đốt đền tà
- Đối mặt với sự đe dọa của hồn ma tướng giặc vẫn không run sợ
- Bị quỷ bắt xuống Minh ti vẫn khảng khái kêu oan
- Trước vụ kiện vẫn cứng cỏi đấu tranh với ác ma
Câu 5 Qua văn bản, nhà văn Nguyễn Dữ tỏ thái độ, tình cảm ca ngợi sự cứng cỏi và lòng can đảm của
nhân vật Ngô Tử Văn
Câu 6 Hình tượng Tử Văn với phẩm chất cao đẹp luôn cần thiết cho dân tộc ta:
– Vì chàng là người dám đương đầu với cái xấu, cái ác:
+ Tiêu diệt kẻ làm hại dân
+ Vạch mặt bọn tham quan, ô lại
+ Dám liều mình vì chính nghĩa
ĐỌC HIỂU NGOÀI SGK
Đề 2 :Đọc đoạn trích sau và trả lời các câu hỏi:
Như Từ, từ khi bỏ nhà đi thấm thoát đã được một năm, ao sen đã đổi thay mầu biếc Những đêm gió thổi, những sáng sương sa, bóng trăng sáng dòm qua cửa sổ, tiếng thủy triều nghe vẳng đầu giường, đối cảnh chạnh lòng, một mối buồn bâng khuâng, quấy nhiễu khiến không sao ngủ được Một hôm trông ra bể, thấy một chiếc tàu buôn đi về phương Nam Từ trỏ bảo Giáng Hương rằng:
- Nhà tôi đi về phía kia kìa, song biển cả trời xa, chẳng biết là ở tận đâu.
Rồi nhân lúc rỗi, chàng nói với nàng rằng:
- Tôi bước khách bơ vơ, lòng quê bịn rịn, lệ hoa thánh thót, lòng cỏ héo hon, dám xin thể tình mà cho được tạm về, chẳng hay ý nàng nghĩ thế nào?
Giáng Hương bùi ngùi không nỡ dứt Từ lang nói:
- Tôi xin hẹn trong một thời kỳ bao nhiêu lâu, để về cho bạn bè gặp mặt và thu xếp việc nhà cho yên, sẽ lại đến đây để với nàng cùng già ở chốn làng mây bến nước.
Giáng Hương khóc mà nói:
- Thiếp chẳng dám vì tình phu phụ mà ngăn cản mối lòng quê hương của chàng Song cõi trần nhỏ hẹp, kiếp trần ngắn ngủi, dù nay chàng về nhưng chỉ e liễu sân hoa vườn, không còn đâu cảnh tượng như ngày trước nữa.
Nàng nhân thưa với phu nhân, phu nhân nói:
- Không ngờ chàng lại mắc mớ vì mối lòng trần như vậy.
Nhân cho một cỗ xe cẩm vân để chàng cưỡi về Nàng cũng đưa cho chàng một bức thư viết vào lụa mà nói:
- Ngày khác trông thấy vật này, xin đừng quên mối tình ngày cũ.
Rồi tràn nước mắt mà chia biệt.
Chàng đi chỉ thoắt chốc đã về đến nhà, thì thấy vật đổi sao dời, thành quách nhân gian, hết thảy đều không như trước nữa, duy có những cảnh núi khe là vẫn không thay đổi sắc biếc mầu xanh thủa nọ Bèn đem tên họ mình hỏi thăm những người già cả thì thấy có người nói:
- Thuở bé tôi nghe nói ông cụ tam đại nhà tôi cũng cùng tên họ như ông, đi vào núi mất đến nay đã hơn
80 năm, nay đã là năm thứ 5 niên hiệu Diên Ninh là đời ông vua thứ ba của triều Lê rồi
Chàng bấy giờ mới hậm hực bùi ngùi; muốn lại lên xe mây để đi, nhưng xe đã hóa làm một con chim loan mà bay mất Mở thư ra đọc, thấy có câu: "Kết lứa phượng ở trong mây, duyên xưa đã hết, tìm non tiên ở trên bể dịp khác còn đâu!" mới biết là Giáng Hương đã nói trước với mình những lời ly biệt Chàng bèn mặc áo cừu nhẹ, đội nón lá ngắn, vào núi Hoành Sơn, rồi sau không biết đi đâu mất.
Trang 9(Trích Từ Thức, Truyền kỳ mạn lục, bản dịch của Trúc Khê - Ngô Văn Triện NXb Trẻ & Hội Nghiên
cứu giảng dạy văn học TP HCM, in lại năm 1988)
Câu 1 Xác định phương thức biểu đạt chính của đoạn trích.
Câu 2 Khi trở lại chốn cũ quê xưa Từ Thức thấy những gì?
Câu 3 Tại sao Từ Thức từ chối cuộc sống chốn tiên bồng?
Câu 4 Lí giải sự lựa chọn của Từ Thức: Chàng bèn mặc áo cừu nhẹ, đội nón lá ngắn, vào núi Hoành
Sơn, rồi sau không biết đi đâu mất
Câu 5 Chuyện về Từ Thức cho chúng ta bài học gì?
Câu 6 Viết đoạn văn ngắn ( khoảng 3 – 5 câu) nêu suy nghĩ của anh chị về luận đề: quê hương trong
tim mỗi người
- Không còn ai nhớ chàng, tên chàng chỉ còn trong kí ức xa xôi của người già
Câu 3: Từ khi bỏ nhà đi thấm thoát đã được một năm, ao sen đã đổi thay mầu biếc Những đêm gió
thổi, những sáng sương sa, bóng trăng sáng dòm qua cửa sổ, tiếng thủy triều nghe vẳng đầu giường, đốicảnh chạnh lòng, một mối buồn bâng khuâng, quấy nhiễu khiến không sao ngủ được -> Nhớ quê hươngtha thiết, Từ Thức không thể ở lại chốn tiên bồng
- Cuộc đời con người chúng ta không tồn tại vĩnh viễn mà chỉ là khoảng thời gian hữu hạn, chúng
ta cũng không được hưởng đặc ân vô biên từ tạo hóa
- Chúng ta không thể tham lam, không thể có tất cả, khi ta không chấp nhận bằng lòng ta sẽ mấthết
Câu 6: Đoạn văn đảm bảo các yêu cầu:
- Hình thức: đảm bảo về số câu, không được gạch đầu dòng, không mắc lỗi chính tả, ngữ pháp Hành
văn trong sáng, cảm xúc chân thành;
- Nội dung: quê hương trong tim mỗi người
+ Tình yêu quê hương: Tình cảm thiêng liêng gắn bó với nơi chôn rau cắt rốn
+ Quê hương là nơi chôn rau cắt rốn, là cả tuổi thơ của mỗi con người, là nơi con người ta trưởng thành+ Tình cảm đối với gia đình, với mọi người xung quanh, với hàng xóm láng giềng Dù đi đâu xa vẫnluôn nhớ về quê hương, luôn có tinh thần phấn đấu phát triển quê hương mình, những người con xa quêtrở về đều mong muốn đóng góp công sức phát triển quê hương
Đề 3: Đọc văn bản và thực hiện yêu cầu:
Năm Bính Dần (1386), vua Trần Phế đế đi săn, đỗ lại trên bờ bắc sông Đà, đêm mở bữa tiệc ở trong trướng Có một con cáo từ dưới chân núi đi về phía nam, gặp một con vượn già, nhân bảo:
- Vua tôi Xương Phù (2) vào rừng săn bắn, để ý vào bọn ta lắm đó Tính mệnh các loài chim muông, thật là treo ở sợi dây cung Nếu tuyết chưa xuống, gió chậm về, mình sẽ nguy mất, nếu không vẫy đuôi xin thương thì ắt bị cày sân lấp ổ Tôi định đến kiếm một lời nói để ngăn cản, bác có vui lòng đi với tôi
Trang 10Vượn già nói:
- Nếu bác có thể đem lời nói mà giải vây được, đó thật là một việc hay Nhưng chỉ e nói năng vô hiệu,
họ lại sinh nghi, trốn sao khỏi cái nạn thành cháy vạ lây, há chẳng nghe câu chuyện hoa biểu hồ tinh ngày trước (3)?
Con cáo nói:
- Những người theo nhà vua đi săn, phần nhiều là võ nhân, bụng không bác vật như Trương Hoa, (4) mắt không cao kiến như Ôn Kiệu (5), vậy chắc không việc gì mà sợ.
Bèn cùng nhau hóa làm hai người đàn ông mà đi, một người xưng là tú tài họ Viên (6), một người xưng
là xử sĩ họ Hồ (7) đương đêm đến gõ cửa hành cung, nhờ kẻ nội thị chuyển đệ lời tâu vào rằng:
- Tôi nghe thánh nhân trị vì, càn khôn trong sáng, minh vương sửa đức, chim muông hòa vui Nay chúa thượng đương kỳ thái hạnh, làm chủ dân vật, tưởng nên mở lưới vơ hiền, giăng chài vét sĩ, đương gội thì quấn mái tóc, lên xe thì dành bên tả (8), đem xe bồ ngựa tứ săn những người hiền trong chỗ quê lậu, lấy lễ hậu lời khiêm đón những kẻ sĩ trong đám ẩn dật, khiến trong triều nhiều bậc lương tá để ban ân trạch cho sinh dân, đưa tất cả cuộc đời vào cõi nhân thọ Cớ sao lại đi săn gấu bắt thỏ, tranh cả công việc của chức Sơn ngu (9), như vậy!
Trích “Chuyện bữa tiệc đêm ở Đà Truyền kì mạn lục của Nguyễn Dữ) Câu 1: Xác định nội dung chính của văn bản.
Giang”-Câu 2: Nêu các chi tiết hoang đường trong câu chuyện và tác dụng nghệ thuật
Câu 3: Nhận xét về thời gian nghệ thuật trong văn bản.
Câu 4: Trong câu “Những người theo nhà vua đi săn, phần nhiều là võ nhân, bụng không bác vật như
Trương Hoa, (4) mắt không cao kiến như Ôn Kiệu (5), vậy chắc không việc gì mà sợ.” có sử dụng biện
pháp tu từ nào? Nêu tác dụng
Đáp án
Câu 1: Văn bản kể về chuyện con cáo và con vượn già hóa thành người để ngăn cảm vua và tùy tùng
săn bắn hại các loài muông thú
Câu 2: Chi tiết hoang đường: Vượn và cáo nói chuyện như con người và có thể hóa thành người
Tác dụng: Tạo cho câu chuyện không khí huyền bí, hấp dẫn bạn đọc
Câu 3: Thời gian trong đoạn trích là thời gian của sự kiện Năm Bính Dần (1386) có tác dụng khiến câu
chuyện trở nên chân thật, khiến người đọc tin rằng đây là câu chuyện có thật
(Chủ đề, những nét đặc sắc về hình thức nghệ thuật)
I MỤC TIÊU DẠY HỌC
1 Năng lực
- Viết được bài văn nghị luận phân tích, đánh giá một tác phẩm truyện
- Biết thuyết trình về một vấn đề, có sử dụng kết hợp phương tiện ngôn ngữ với các phương tiện giaotiếp phi ngôn ngữ
Trang 11- Nghe và nắm bắt được nội dung truyết trình, quan điểm của người nói về một vấn đề;
- Nhận xét về nội dung và hình thức thuyết trình; đưa ra được những căn cứ thuyết phục để bảo vệ haybác bỏ một ý kiến nào đó về một vấn đề trên tinh thần tôn trọng người đối thoại
- Biết thu thập và làm rõ các thông tin liên quan đến vấn đề, biết đề xuất và phân tích được một số giảipháp giải quyết vấn đề
- Năng lực hợp tác, năng lực tự học
2 Phẩm chất
- Bài học góp phần phát triển phẩm chất trách nhiệm: HS tích cực, chủ động trong học tập để vận dụngkiến thức vào cuộc sống
- Bài học góp phần hình thành tính cách tự tin khi trình bày kiến thức về văn học
- Hình thành nhân cách bồi dưỡng tình cảm: tình yêu với môn Văn
II THIẾT BỊ DẠY HỌC VÀ HỌC LIỆU
- Bài giảng PP,
- Máy chiếu, SGK, tài liệu tham khảo,
- Phiếu học tập, phiếu đánh giá, biên bản làm việc nhóm
III XÁC ĐỊNH CÁC PHƯƠNG PHÁP, PHƯƠNG TIỆN
- Phương pháp trực quan, trao đổi, vấn đáp, thảo luận nhóm, Công não, thông tin – phản hồi, phòngtranh,…
- Mục tiêu: Hướng đến mục tiêu Biết thu thập và làm rõ các thông tin liên quan đến vấn đề, biết đề
xuất và phân tích được một số giải pháp giải quyết vấn đề.
III TIẾN TRÌNH DẠY HỌC
2 HOẠT ĐỘNG 1: ÔN TẬP KIẾN THỨC ĐÃ HỌC
Câu hỏi 1: Thế nào là kiểu bài
nghị luận phân tích, đánh giá
một tác phẩm truyện?
1 Kiểu bài nghị luận phân tích, đánh giá một tác phẩm truyện
- Phân tích, đánh giá một tác phẩm truyện là nêu lên và làm sángtỏ giá trị (cái hay, cái đẹp) về nội dung và nghệ thuật của tác phẩmđó
- Phân tích là chia tách, đi sâu tìm hiểu và làm rõ giá trị của từngphương diện cụ thể về nội dung và hình thức của tác phẩm truyện
- Đánh giá là nêu lên những suy nghĩ, nhận xét, bình luận củangười viết về vấn đề đã được phân tích
- Phân tích và đánh giá là những thao tác thường kết hợp với nhautrong các bài nghị luận văn học
Câu hỏi 2: Yêu cầu cần đạt khi
làm bài văn nghị luận phân tích,
đánh giá một tác phẩm truyện?
2 Yêu cầu cần đạt
- Giới thiệu ngắn gọn về tác phẩm truyện (nhan đề, tên tác giả, ) và
ý kiến khái quát của người viết về tác phầm
- Tóm tắt tác phẩm truyện (vừa đủ để người đọc nắm được nội dungchinh)
- Phân tích cụ thể, rõ ràng về tác phẩm truyện (chủ đề, nét đặc sắc vềhình thức nghệ thuật và tác dụng của chúng) với những ngữ liệu sinhđộng
- Đánh giá về tác phẩm truyện dựa trên các lí lẽ và bằng chứngthuyết phục
- Khẳng định giá trị của tác phẩm truyện
Câu hỏi 3: Nêu các kiểu bài
phân tích, đánh giá một tác
phẩm truyện.
3 Các kiểu bài phân tích, đánh giá một tác phẩm truyện
- Tác phẩm truyện thường được cấu tạo từ nhiều phương diện, nhiềuyểu tố Bài viết có thể phân tích đánh giá toàn bộ tác phẩm, nhưng
Trang 12cũng có thể chỉ tập trung làm rõ một yếu tố nội dung hoặc hình thứcnào đó của truyện.
Câu hỏi 4: Nêu các bước làm
một bài văn phân tích, đánh giá
- Kiểm tra và chỉnh sửa
Câu hỏi 5: Rút ra cách viết một
bài văn phân tích, đánh giá một
- Nêu ý kiến đánh giá
- Liên hệ, kết nối với kiến thức và kinh nghiệm sống của bản thân đểhiểu thêm về câu chuyện
HOẠT ĐỘNG 2 HOẠT ĐỘNG LUYỆN TẬP
Đề số 1: Viết văn bản nghị luận phân tích đánh giá tác phẩm truyện “Thần Gió”
I MỞ BÀI
- Giới thiệu chùm truyện về các vị thần sáng tạo thế giới và Thần Gió
II THÂN BÀI
1 Giới thiệu về thần thoại và thần thoại “Thần Gió”
a Thần thoại và thần thoại Việt Nam:
đó Thiên nhiên nhiều lúc hiền hòa nhưng nhiều lúc lại dữ tợn Họ cũng không biết tại sao lại như vậy.Điều này đã thôi thúc họ giải thích những hiện tượng ấy bằng trí tưởng tượng phong phú Chính điều đó
đã tạo nên sức hấp dẫn của thần thoại mà nghệ thuật về sau không bao giờ có thể bắt chước được Thầnthoại “Thần Gió” là một những tác phẩm dân gian truуền miệng của người Việt được ѕản ѕinh từ thời tốiền miệng của người Việt được ѕản ѕinh từ thời tốiản ѕản ѕinh từ thời tốiinh từ thời tối
cổ còn tồn tại đến ngàуền miệng của người Việt được ѕản ѕinh từ thời tối naуền miệng của người Việt được ѕản ѕinh từ thời tối ᴠà được nhà khảo cứu ᴠăn hóa dân gian Nguуền miệng của người Việt được ѕản ѕinh từ thời tốiễn Đổng Chi ѕản ѕinh từ thời tốiưu tầm, kể lạibằng bản ᴠăn trong "Lược khảo ᴠề thần thoại Việt Nam"
Trang 13II THÂN BÀI
1 Giới thiệu về thần thoại và các tác phẩm
a Thần thoại và thần thoại Việt Nam
- Thần thoại là một trong những thể loại truyện dân gian Thần thoại kể về các vị thần, các nhânvật anh hùng, các nhân vật văn hóa; qua đó phản ánh quan niệm của con người thời cổ về nguồn gốccủa thế giới và đời sống con người
- Ở Việt Nam, thần thoại xuất hiện khá sớm “được thoát thai từ triết lý sống tự nhiên của con người, được sáng tạo ra trong thời kỳ các thị tộc, bộ lạc đã sớm có ý thức về địa vực cư trú và ý thức về giống nòi” Theo Đinh Gia Khánh, thần thoạị nước ta “nảy sinh từ cuộc sống của người nguyên thuỷ và phát triển theo yêu cầu của xã hội Lạc Việt” Tức là, ông đã cho rằng thần thoại Việt Nam có từ trước
công nguyên, trước thời Bắc thuộc và trong quá trình con người, xã hội phát triển, thần thoại đã có sựthay đổi ít nhiều về hình thức và nội dung cốt truyện Truyện thần thoại của người Việt đã không còngiữ được sự nguyên vẹn như lúc ban đầu mới sáng tác
- Trong thần thoại Việt Nam, số lượng thần thoại của dân tộc Việt (dân tộc Kinh) chiếm tỉ lệ caonhất Thần thoại các dân tộc thiểu số chỉ chiếm tỉ lệ ít hơn
b Giới thiệu tác phẩm
- Nguồn gốc: Trong hệ thống truyện thần thoại của Việt Nam về sự sáng lập vũ trụ, truyện
“Thần Trụ Trời” được coi như truyện mở đầu,… tiếp theo đó là các truyện về các thần khác như thầnMưa, thần Biển, thần Sét, thần Gió, thần Mặt Trời, Mặt Trăng và tiếp đến nữa là các truyện về thần sáng
tạo ra muôn vật và loài người như Cuộc tu bổ các giống vật, Mười hai bà mụ
- Nội dung: Thần “Gió” thuộc nhóm thần thoại suy nguyên nhằm giải thích các hiện tượng tự
nhiên Trong đó, truyện “Thần Gió nhằm lí giải hiện tượng gió, lúc gió to, lúc gió nhẹ, khi bão lốc…
2 Thời gian, không gian nghệ thuật
Thời gian, không gian khởi thuỷ buổi khai thiên lập địa để lại dấu ấn rất đậm trong ký ức ngườinguyên thuỷ Thời gian, không gian ấy, họ quan niệm, là của thế giới Thần Với cách giới thiệu như thế,thần thoại đã kéo người nghe vào không khí linh thiêng, gợi những bí ẩn huyền diệu quanh nhân vậtThần, tạo bối cảnh để sau đó làm rỏ hơn kỳ tích, công lao của các vị thần
a Không gian
- Không gian trong thần thoại là không gian vũ trụ đang trong quá trình tạo lập, không được xácđịnh nơi chốn cụ thể Có thể thấy, con người của buổi đầu lịch sử loài người dù ở phương Tây hayphương Đông đều có cái nhìn giống nhau về thế giới xung quanh Họ quan sát thế giới xung quanh bằngđôi mắt bình thường và một trí tưởng tượng phong phú trong điều kiện khoa học hiện đại chưa pháttriển Những con người nguyên thủy nhận thấy thế giới xung quanh họ là bầu trời cao, mặt đất, nước và
họ tin có thế giới dành cho những người đã chết Và không gian hoạt động của các vị thần chính làkhông gian con người sinh sống Trong truyện thần thoại của người Việt, không gian sinh sống, caiquản của các vị thần cũng được chia thành bốn thế giới: lòng đất, dưới nước, mặt đất, trời cao và có các
vị thần giữ chức vụ lớn bé cai quản Ông Trời hay còn gọi là Ngọc Hoàng là vị thần tối cao, cai quản cảbầu trời và nhân gian Ngoài ra, để phụ giúp Ngọc Hoàng cai quản thế gian còn có nhiều vị thần DiêmVương là vị thần cai quản âm phủ Nước là một vùng rất rộng lớn, một mình thần Biển không thể caiquản hết vì vậy ở mỗi con sông lại có một vị thần nhỏ cai quản Ngoài ra, để giúp Ngọc Hoàng cai quảnthế gian, dưới lòng đất còn có thần Đất và trên mặt đất, hòa với cuộc sống con người có thần Bếp Đếncuối năm, các thần sẽ bay lên trời để báo cáo tình hình hạ giới của cả năm qua…
Không gian nghệ thuật trong “Thần Gió” là không gian của cõi trời và chốn trần gian, là phạm vi hoạt động của các vị thần Đây là không gian nghệ thuật để các vị thần có thể thể hiện những phép thuật hay kì tích, công lao to lớn với loài người, tô đậm yếu tố thần của các nhân vật.
b Thời gian:
- Thời gian trong thần thoại là thời gian không xác định, thời gian vĩnh hằng Các truyện thường
Trang 14không chỉ ra vào thời gian nào, chỉ biết thuở xưa, thuở mới khai thiên lập địa Nhưng thuở khai thiên lậpđịa là vào khi nào rồi kết thúc ra sao, thần thoại không nói rõ bởi lẽ thế giới thần là thế giới của vĩnhhằng Thần không có tuổi, không biết thần sinh ra khi nào và thần không bao giờ chết.
- Trong “Thần Gió” không có thời gian cụ thể nhưng các câu chuyện gợi ra sự cổ xưa, huyền bí Với thời gian nghệ thuật như thế, các truyện đã kéo người nghe vào không khí thần thoại, gợi
những bí ẩn huyền diệu quanh nhân vật Thần, tạo bối cảnh để sau đó làm rõ hơn kỳ tích của các vị thần
3 Cốt truyện
- Cốt truyện thần thoại thường là chuỗi sự kiện xoay quanh quá trình sáng tạo nên thế giới, conngười và văn hóa của các nhân vật siêu nhiên Nếu thần thoại Hy Lạp thường có dung lượng lớn hơn,cốt truyện rất cuốn hút, hấp dẫn, đòi hỏi người đọc phải biết huy động trí tuệ và có sự tập trung cao độthì cốt truyện thần thoại Việt Nam khá đơn giản Bởi thần thoại Việt Nam không xây dựng được sốlượng thần đồ sộ và giữa các thần không có mối quan hệ phức tạp cho nên các chi tiết, sự kiện trongtruyện về các vị thần không bị hòa lẫn vào nhau làm cho thần thoại Việt Nam rất dễ nhớ dễ thuộc
- Thể hiện sự nhận thức và lí giải thế giới một cách giản đơn, ngây thơ nên phần lớn ở cốt truyệnthần thoại Việt Nam thường có kết cấu: một thần – một nhân vật – một hành động Thần thường xuấthiện đột ngột trong cõi hỗn mang, hình dạng khổng lồ, thực hiện công việc của người sáng tạo ra thếgiới Kết cấu này chủ yếu là những thần thoại kể về nguồn gốc của vũ trụ, thiên nhiên như: Thần trụtrời, thần Mưa, thần Gió,
- Truyện “Thần Gió” có nhắc đến thần Mưa, thần Sét, Ngọc Hoàng và kể thêm về đứa con của thần Gió Tuy vậy, các mối quan hệ về cơ bản vẫn khá đơn giản, tập trung giới thiệu về một vị thần Bên cạnh việc giới thiệu về thần Gió, truyện có sự kiện: con thần Gió nghịch ngợm và gây họa;
Ngọc Hoàng xử tội đày con thần Gió xuống hạ giới, bắt đi chăn trâu cho người bị thổi mất gạo; bắt hóalàm cây ngải để báo tin gió cho thiên hạ, khi trâu bị cảm gió thì lấy lá cây ngải chữa cho trâu
4 Nhân vật Thần Gió:
a Nguồn gốc: Nguồn gốc của thần Gió cũng không được nhắc tới nhưng trong ba vị thần của chùm
truyện, chỉ có Thần Gió là được kể trong mối quan hệ gia đình Thần có một đứa con nghịch ngợm, mộthôm thần đi vắng đã lấy chiếc quạt của thần làm gió chơi làm bay mất bát gạo của người đói mới xinđược khiến thần Gió bị kiện
b Hình dung: Hình dung về thần Gió thể hiện trí tưởng tượng rất phong phú của người xưa Vẻ ngoài
của thần thì rất kì dị lạ thường “Thần có có hình dạng kì quặc Thần không có đầu” Cũng giống như các
vị thần khác thần cũng có năng lực siêu việt với bảo bối là một thứ quạt nhiệm màu, chiếc quạt ấy giúpthần tạo gió cho thế gian
c Công việc: Công việc của thần là tạo ra gió ở dưới trần gian Thần sẽ làm gió nhỏ hay bão lớn, lâu
hay mau tùy theo lệnh Ngọc Hoàng Khi thần phối hợp với Thần Mưa, có khi cả thần Sét thì rất đáng sợ
d Tính cách: Lí giải hiện tượng gió thổi trong tự nhiên, không có sự đồng đều, lúc gió to, gió nhỏ, gió
xoáy và cả khi có mưa bão, giông tố thì gió thổi rất mạnh, dân gian đã miêu tả tính cách của thần tương
đối thất thường: Có lúc gió nhỏ, có lúc gió to, có lúc cùng với thần Mưa, thần Sét cùng hoạt động là vô
cùng đáng sợ, có lúc dạo chơi vào buổi tối, có lúc là gió xoáy Thần Gió cũng có lúc chưa cẩn trọngtrong công việc để con lấy quạt nghịch ngợm gây hại cho dân Dân gian tạo ra chi tiết thần Gió còn lơ
là, chểnh mảng trong công việc như vậy là để lí giải hiện tượng cây ngải báo gió và chữa cảm gió chotrâu Kinh nghiệm dân gian khi cây ngải cuốn bông cuốn lá lại thì trời sắp nổi gió; trâu bị cảm gió có thểchữa bằng cây ngải Người xưa tưởng tượng rằng, cây ngải báo gió ấy là hóa thân của đứa con nghịchngợm của thần Gió, vì gây ra họa nên bị trừng phạt
=> Nhìn chung nhân vật Thần Gió là một trong những vị thần những vị thần có năng lực siêunhiên, có công tạo lập thế giới và có hình hài kỳ dị đặc biệt Công việc của thần đều lớn lao, kì vĩ, thần
bí nhưng thần cũng được miêu tả như những người bình thường Thần cũng có tính cách như con ngườinhư tính khí dễ thay đổi cũng có khi cũng mắc lỗi lầm, cũng có lúc sai trái, có lúc nhầm lẫn, chểnh
Trang 15mảng, thiếu sót Mặt khác, các vị thần đều có sức mạnh siêu nhiên hình dung kì dị, to lớn khácthường…là sản phẩm của trí tưởng tượng của người xưa Tưởng tượng của người nguyên thủy về các vịthần nói chung bắt nguồn từ thế giới quan “vạn vật hữu linh” và từ thực tiễn đời sống của con ngườibuổi sơ khai Chẳng hạn, thần Gió vì có đứa con ngỗ nghịch nên tạo ra gió lốc…
5 Yếu tố hoang đường, kì ảo
- “ “Thần Gió” là câu truyện hoang đường Hình tượng thần và việc làm của thần là tạo gió bằngchiếc quạt thần đều là những chi tiết, nhân vật hoang đường kì ảo xuất phát từ trí tưởng tượng ngây thơ,hồn nhiên thú vị Chính bởi những chi tiết hoang đường kì ảo ấy mà thần thoại không chỉ có cái đẹpcủa tác phẩm nghệ thuật “một đi không trở lại” mà còn có rất nhiều ý nghĩa
6 Lời kể chuyện
Sự kiện trong cốt truyện được triền khai hoặc liên kết với nhau theo một mạch kể nhất định Mạch kểnày thống nhất với hệ thống chi tiết và lời văn nghệ thuật (bao gồm các thành phần lời kể, lời tả, lờibình luận, đối thoại ) tạo thành truyện kể Trong đó, lời văn, ngôn từ trong “Thần Gió” chỉ có lời củangười kể chuyện mà không có lời của nhân vật N gười kể chuyện có vai trò kể lại câu chuyện Nhờngười kể chuyện, người đọc được dẫn dắt vào thế giới nghệ thuật của truyện kể để tri nhận về nhân vật,
sự kiện, không gian, thời gian, Người kề chuyện cũng khơi dậy ở người đọc những suy tư về ý nghĩa
mà truyện kể có thể gợi ra
7 Đánh giá
a Nghệ thuật:
- Với không gian, thời gian nghệ thuật nhuốm màu sắc thần thoại rất huyền bí, linh thiêng Mọichi tiết kể và tả về Thần Gió đều có tính chất kỳ lạ, hoang đường của nhân vật thần thoại Nếu nhân vậttrong truyện truyền thuyết là những con người phi thường, nhân vật trong truyện cổ tích là những conngười nhỏ bé thì nhân vật trung tâm trong thần thoại là những lực lượng tự nhiên được thần thánh hóathành những nhân vật có năng lực siêu nhiên Và mặc dù có nhiều уền miệng của người Việt được ѕản ѕinh từ thời tốiếu tố hoang đường, khoa trương,phóng đại nhưng truуền miệng của người Việt được ѕản ѕinh từ thời tốiện cũng có cái lõi ѕản ѕinh từ thời tốiự thật là con người thời cổ đã khai khẩn, хâу dựng, tạo lập đấtâуền miệng của người Việt được ѕản ѕinh từ thời tối dựng, tạo lập đấtnước, хâу dựng, tạo lập đấtứ ѕản ѕinh từ thời tốiở bằng ѕản ѕinh từ thời tốiức lao động của nhiều thế hệ, tộc người Ở các truyện thần thoại khác, thần có khinửa người nửa thú nhưng trong ba tác phẩm, các thần đều mang dáng dấp con người Con người đã tạo
ra thần theo khuôn mẫu của chính mình
2 Nội dung
- Thần Gió đều thuộc nhóm thần thoại suy nguyên, lí giải nguồn gốc vũ trụ và các hiện tượng tự
nhiên Qua đó, ta thấy thấy nhận thức, khát vọng của người xưa Thông qua nhân vật Thần Gió, dângian thể hiện khát vọng mưa thuận gió hòa để làm ăn thuận lợi Ngàуền miệng của người Việt được ѕản ѕinh từ thời tối naуền miệng của người Việt được ѕản ѕinh từ thời tối mặc dù ở một trình độ ᴠănminh rất cao nhưng khi đọc lại truуền miệng của người Việt được ѕản ѕinh từ thời tốiện “Thần Gió”, ta ᴠẫn thấуền miệng của người Việt được ѕản ѕinh từ thời tối hứng thú, giống như câu nói của Marхâу dựng, tạo lập đất:
"Đọc lại thần thoại, con người như thấу lại tuổi ấu thơ của mình, một tuổi ấu thơ hết ѕức hồn nhiên dễức hồn nhiên dễ mến như không ѕức hồn nhiên dễao trở lại được".
Đề số 2: Phân tích một tác phẩm truyện ngắn (ngoài chương trình học) mà em yêu thích.
(Học sinh tự lựa chọn tác phẩm mình yêu thích để làm bài GV đánh giá, nhận xét, đánh giá kĩ nănglàm bài của học sinh theo bảng kiểm:
Bảng kiểm đánh giá:
1 Đủ bố cục 3 phần: MB, TB, KB
2 Giới thiệu các yếu tố chi phối việc tìm
hiểu tác phẩm như hoàn cảnh ra đời, xuất
xứ…
3 Phân tích đánh giá các yếu tố nội dung
như chủ đề, đề tài, tư tưởng, tình cảm của
tác giả
Trang 164 Phân tích hệ thống nhân vật, nhất là nhân
vật chính
5 Phân tích, đánh giá các yếu tố nghệ thuật
như không gian, thời gian, sự kiện, lời kể,
(Chủ đề, những nét đặc sắc về hình thức nghệ thuật)
I MỤC TIÊU DẠY HỌC
1 Năng lực
- Viết được bài văn nghị luận phân tích, đánh giá một tác phẩm truyện
- Biết thuyết trình về một vấn đề, có sử dụng kết hợp phương tiện ngôn ngữ với các phương tiện giaotiếp phi ngôn ngữ
- Nghe và nắm bắt được nội dung truyết trình, quan điểm của người nói về một vấn đề;
- Nhận xét về nội dung và hình thức thuyết trình; đưa ra được những căn cứ thuyết phục để bảo vệ haybác bỏ một ý kiến nào đó về một vấn đề trên tinh thần tôn trọng người đối thoại
- Biết thu thập và làm rõ các thông tin liên quan đến vấn đề, biết đề xuất và phân tích được một số giảipháp giải quyết vấn đề
Trang 17- Năng lực hợp tác, năng lực tự học.
2 Phẩm chất
- Bài học góp phần phát triển phẩm chất trách nhiệm: HS tích cực, chủ động trong học tập để vận dụngkiến thức vào cuộc sống
- Bài học góp phần hình thành tính cách tự tin khi trình bày kiến thức về văn học
- Hình thành nhân cách bồi dưỡng tình cảm: tình yêu với môn Văn
II THIẾT BỊ DẠY HỌC VÀ HỌC LIỆU
- Bài giảng PP,
- Máy chiếu, SGK, tài liệu tham khảo,
- Phiếu học tập, phiếu đánh giá, biên bản làm việc nhóm
III XÁC ĐỊNH CÁC PHƯƠNG PHÁP, PHƯƠNG TIỆN
- Phương pháp trực quan, trao đổi, vấn đáp, thảo luận nhóm, Công não, thông tin – phản hồi, phòngtranh,…
- Mục tiêu: Hướng đến mục tiêu Biết thu thập và làm rõ các thông tin liên quan đến vấn đề, biết đề
xuất và phân tích được một số giải pháp giải quyết vấn đề.
III TIẾN TRÌNH DẠY HỌC
1 Đề bài: Phân tích vẻ đẹp nghệ thuật của truyện ngắn “Chữ người tử tù”
Gợi ý dàn ý
1 Mở bài:
- Dẫn dắt
- Giới thiệu về vẻ đẹp nghệ thuật của truyện ngắn “Chữ người tử tù”
Ví dụ: Có một nhà văn suốt đời đi tìm cái đẹp và làm rực sáng cái đẹp bằng ngòi bút tàihoa, uyên bác Nguyễn Tuân đã đem đến cho cuộc đời những trang văn linh hoạt mà không hềcứng đơ, thấp khớp, và từ những trang văn ấy nhịp mãi lên một tấm lòng sứ điệp Mỗi tácphẩm của Nguyễn Tuân ra đời là một lần nghệ thuật lên tiếng Tiếng nói của “Chữ người tửtù” là khúc vọng của cái đẹp một thời vang bóng, là những đặc sắc của hình thức truyện ngắn,
là tinh hoa trong sử dụng ngôn từ
2 Thân bài:
B1: Khái quát về vẻ đẹp của một tác phẩm truyện ngắn
- Truyện ngắn có dung lượng nhỏ, ngắn gọn mà cô đúc nên có sức ám ảnh lớn Nó tập
trung vào một hoặc một vài biến cố trong một không gian, thời gian nhất định, tạo ra
ấn tượng mạnh mẽ và sự liên tưởng cho người đọc Cốt truyện không có gì, sự kiệnđơn giản, dung lượng rất ngắn nhưng truyện lại có sức công phá lớn, tác động mạnh
mẽ vào ý thức, khêu gợi trí tưởng tượng của người đọc để đặt ra vấn đề chính trị – xãhội, vấn đề dân tộc, vấn đề đấu tranh…
- Để làm được điều đó, tác giả truyện ngắn cần phải dụng công trong xây dựng nhân vật,
tạo tình huống, chọn điểm nhìn, chắt lọc ngôn từ, hình ảnh,…
B2: Phân tích vẻ đẹp nghệ thuật của truyện ngắn “Chữ người tử tù”
Trang 182.1 Nghệ thuật xây dựng tình huống truyện:
- Tình huống đặc biệt: đó là cuộc gặp gỡ khác thường của hai con người khác thường:
+ Viên quản ngục – kẻ đại diện cho bạo lực tăm tối nhưng lại rất khát khao ánh sáng của chữnghĩa
+ Huấn Cao – người tử tù có tài viết chữ đẹp nổi tiếng
Lẽ ra đây phải là cuộc hội ngộ tương đắc của những kẻ biệt nhỡn liên tài, của hai tâmhồn nghệ sĩ yêu cái đẹp Nhưng thật oái oăm, họ lại phải gặp nhau giữa chốn ngục tù
và trong một tình thế éo le : cuộc chạm trán giữa một tên “đại nghịch”, cầm đầu cuộcnổi loạn đang đợi ngày ra pháp trường với kẻ đại diện cho trật tự xã hội đương thời
- Ý nghĩa của tình huống truyện:
+ Làm nổi rõ tính cách của Huấn Cao – một người tài hoa, hiên ngang, bất khuất trước cái ác,cái xấu nhưng mềm lòng trước cái thiện; tính cách của viên quản ngục – người biết “biệt nhỡnliên tài”, là một “thanh âm trong trẻo chen vào giữa một bản đàn mà nhạc luật đều hỗn loạn
xô bồ”
+ Làm bật sáng chủ đề tác phẩm : ngợi ca cái tài, cái đẹp, cái “thiên lương”
2.2 Nghệ thuật xây dựng nhân vật: Nguyễn Tuân đã sử dụng hiệu quả bút pháp lãng mạn,
đặc biệt là thủ pháp tương phản để khắc họa và làm nổi bật chân dung, tính cách nhân vật
- Ngôn ngữ truyện giàu giá trị tạo hình
- Nhịp điệu câu văn chậm rãi gợi liên tưởng đến một đoạn phim quay chậm
- Từng hình ảnh, từng động tác hiện dần lên dưới ngòi bút “đậm chất điện ảnh” của nhà văn :(“Trong không khí khói toả như đám cháy nhà, ánh sáng đỏ rực của một bó đuốc tẩm dầu rọilên ba cái đầu người đang chăm chú trên một tấm lụa bạch… Một người tù cổ đeo gông, chânvướng xiềng, đang dậm tô nét chữ trên tấm lụa trắng tinh căng phẳng trên mảnh ván”)
- Không khí cổ xưa “vang bóng một thời” cũng được “phục chế” thành công trong truyện quahàng loạt các yếu tố, từ cảnh vật (cảnh nhà ngục, cảnh cho chữ), chi tiết, hình ảnh (góc án thưnơi làm việc của quản ngục), nhân vật (ngục quan, thơ lại, bọn lính ngục), đến từ ngữ (phiếntrát, thầy bát, hèo hoa, đĩa dầu sở, thủ xướng, biệt nhỡn, hình bộ thượng thư…)
2.3 Đánh giá:
- Vẻ đẹp hình thức đã giúp Nguyễn Tuân khắc hoạ thành công hình tượng Huấn Cao - mộtngười tài hoa, có cái tâm trong sáng và khí phách hiên ngang, bất khuất Qua đó, nhà văn thểhiện quan niệm về cái đẹp, khẳng định sự bất tử của cái đẹp và bộc lộ thầm kín lòng yêunước
- Phong cách nhà văn Nguyễn Tuân: Nguyễn Tuân là một người tài hoa uyên bác, sự tài hoauyên bác của ông thể hiện ở các điểm sau:
+ Tiếp cận mọi sự vật ở mặt văn hóa thẫm mĩ để khám phá và khen chê
Trang 19+ Vận dụng tri thức của nhiều ngành văn hóa nghệ thuật để quan sát hiện thực, sáng tạo hìnhtượng.
+ Nhìn người ở phương diện tài hoa nghệ sĩ tạo nên những nhân vật tài hoa để đem đối lậpvới những con người bình thường phàm tục
+ Tô đậm cái phi thường gây cảm giác mãnh liệt dữ dội
Cảnh cho chữ – cuộc tương ngộ của những tấm lòng
Yêu cầu về kĩ năng trình bày:
Đảm bảo một văn bản nghị luận có bố cục rõ ràng, hợp lí, tổ chức sắp xếp ý một cách lôgic,chặt chẽ, hành văn trôi chảy, mạch lạc, chữ viết rõ ràng, cẩn thận, không có quá 3 lỗi về chính
tả, dùng từ, diễn đạt…
Yêu cầu về kiến thức:
1 Giới thiệu vài nét về tác giả, tác phẩm, đoạn trích, vấn đề nghị luận
– Nguyễn Tuân (1910 – 1987) là người có nhiều đóng góp quan trọng cho nền văn học Việt
Nam hiện đại Tác phẩm Chữ người tử tù in trong tập Vang bóng một thời là một sáng tạo nghệ
thuật đặc sắc của nhà văn
– Cảnh cho chữ nằm ở cuối tác phẩm, khi tình huống truyện được đẩy lên đến đỉnh điểm Đoạntrích như một bước “cởi nút”, vừa hoá giải tình huống, vừa mở ra một chiều sâu tư tưởng chotác phẩm Đó là một đoạn kết xúc động, trang trọng, cổ kính và hấp dẫn Cảnh cho chữ – cuộctương ngộ của những tấm lòng
2 Giải thích nhận định
Cuộc tương ngộ của những tấm lòng là cuộc gặp gỡ của những tấm lòng, tâm hồn đồng cảm,
đồng điệu Đây là cuộc hội ngộ của những tâm hồn đam mê cái đẹp; những nhân cách trongsáng, cao cả
3 Tại sao cảnh cho chữ là cuộc tương ngộ của những tấm lòng
- Cuộc tương ngộ ấy vượt thoát khỏi những ràng buộc tầm thường, là sự thăng hoa của niềm
đam mê cái đẹp
+ Hoàn cảnh cho chữ: không gian, thời gian, ánh sáng
+ Tư thế, tâm thế của người cho và nhận: Huấn Cao cho chữ vào đêm cuối cùng của cuộc đời,
Trang 20trong tư thế của một người cổ đeo gông, chân vướng xiềng Kẻ tử tù được miêu tả ở tư thế bề
trên uy nghi Viên quản ngục và thầy thơ lại là những người đại diện cho cường quyền lại khúm núm, run run, ngưỡng mộ, trọng vọng người tù.
- Đây là cuộc gặp gỡ xưa nay chưa từng có giữa ba con người – ba tâm hồn – ba nhân cách; là
lần gặp đầu tiên, nhưng cũng là lần cuối cùng Họ tước bỏ mọi rào cản để đến với nhau bằngcon người thật, ước muốn thật
+ Viên quản ngục, thầy thơ lại: khát vọng chiêm ngưỡng, thưởng thức, bảo tồn và gìn giữ cáiđẹp
+ Huấn Cao: khát vọng sáng tạo cái đẹp, phát hiện và trân trọng cái đẹp; là người có sứ mệnhbảo vệ và gìn giữ thiên lương
-> Ba con người dù khác nhau về hoàn cảnh, địa vị, tâm thế nhưng đều gặp nhau ở niềm đam
mê cái đẹp, ở thiên lương trong sáng Đó là nhịp cầu kì diệu xoá mờ mọi ranh giới, ràng buộc,quan niệm tầm thường; là sự đồng cảm, tri âm sâu sắc giữa những tâm hồn, tấm lòng
4 Giá trị tư tưởng, giá trị nghệ thuật của cảnh cho chữ
- Giá trị tư tưởng:
+ Cái đẹp, cái thiện không thể sống chung với cái xấu xa, bạc ác Muốn chơi chữ, trước hết phảigiữ được thiên lương (lời di huấn của Huấn Cao)
+ Niềm tin vào sự bất diệt của thiên lương, vào sự chiến thắng của cái đẹp, cái thiện
+ Lòng ngưỡng vọng những vẻ đẹp trong truyền thống văn hoá của dân tộc
Đề 03: Nhà văn Nguyễn Minh Châu cho rằng:
“…Những người cầm bút có biệt tài có thể chọn ra trong dòng đời xuôi chảy một khoảnh khắc thời gian mà ở đó cuộc sống đậm đặc nhất, chứa đựng nhiều ý nghĩa nhất, một khoảnh khắc cuộc sống…nhưng bắt buộc con người ở vào một tình thế phải bộc lộ ra cái phần tâm can nhất, cái phần ẩn náu sâu kín nhất, thậm chí có khi là khoảnh khắc chứa đựng cả một đời người, một đời nhân loại”
(“Trang giấy trước đèn”, NXB KHXH, H 1994, tr 258)
“Tình thế” đặc biệt ấy được thể hiện như thế nào trong hai văn bản “Chuyện chức phán sự đền Tản Viên” (Nguyễn Dữ) và “Chữ người tử tù” (Nguyễn Tuân)?
Hướng dẫn I- Yêu cầu về hình thức và kĩ năng:
Trang 21– Biết cách làm bài văn nghị luận về một vấn đề lí luận văn học, bố cục rõ ràng, vận dụng tốtcác thao tác lập luận.
– Biết cách chọn và phân tích dẫn chứng để làm sáng tỏ vấn đề nghị luận
– Bài viết mạch lạc, trong sáng, có cảm xúc, không mắc lỗi chính tả, dùng từ, ngữ pháp
II Yêu cầu về nội dung: Trên cơ sở những hiểu biết cơ bản về lí luận văn học và những kiến
thức thuộc phạm vi đề bài, học sinh có thể trình bày vấn đề theo nhiều cách khác nhau, cần
đảm bảo được các ý chính sau:
Mở bài: Giới thiệu chung về hai tác phẩm và vấn đề cần nghị luận
– Vai trò của tình huống truyện trong tác phẩm
Tình huống truyện có vai trò hết sức quan trọng, được ví như “cái chìa khóa vận hành cốttruyện” Từ tình huống truyện, các sự kiện, biến cố của cốt truyện được phát triển, tính cáchnhân vật được bộc lộ Việc giải quyết những mâu thuẫn, xung đột trong tình huống truyện sẽbộc lộ rõ tư tưởng chủ đề của tác phẩm và dụng ý nghệ thuật của tác giả
– Việc sáng tạo nên các tình huống độc đáo biểu hiện khả năng quan sát, khám phá bản chấtcuộc sống, bản chất con người của nhà văn
Trang 22- Nhận biết và biết cách phân tích một tác phẩm thơ, đặc biệt là thơ hai-cư.
- Biết thuyết trình về một vấn đề, có sử dụng kết hợp phương tiện ngôn ngữ với các phương tiệngiao tiếp phi ngôn ngữ
- Nghe và nắm bắt được nội dung truyết trình, quan điểm của người nói về một vấn đề;
- Nhận xét về nội dung và hình thức thuyết trình; đưa ra được những căn cứ thuyết phục để bảo
vệ hay bác bỏ một ý kiến nào đó về một vấn đề trên tinh thần tôn trọng người đối thoại
- Biết thu thập và làm rõ các thông tin liên quan đến vấn đề, biết đề xuất và phân tích được một
số giải pháp giải quyết vấn đề
- Năng lực hợp tác, năng lực tự học
2 Phẩm chất
- Trân trọng những giá trị nhân văn cao đẹp;
- Bài học góp phần hình thành tính cách tự tin khi trình bày kiến thức về văn học
Trang 23- Hình thành nhân cách bồi dưỡng tình cảm: tình yêu với môn Văn, đặc biệt là các tác phẩm vănhọc dân gian.
II THIẾT BỊ DẠY HỌC VÀ HỌC LIỆU
- Bài giảng PP,
- Máy chiếu, SGK, tài liệu tham khảo,
- Phiếu học tập, phiếu đánh giá, biên bản làm việc nhóm
III XÁC ĐỊNH CÁC PHƯƠNG PHÁP, PHƯƠNG TIỆN
- Phương pháp trực quan, trao đổi, vấn đáp, thảo luận nhóm, Công não, thông tin – phản hồi,phòng tranh,…
- Mục tiêu: Hướng đến mục tiêu Biết thu thập và làm rõ các thông tin liên quan đến vấn đề,
biết đề xuất và phân tích được một số giải pháp giải quyết vấn đề.
III TIẾN TRÌNH DẠY HỌC
- Tổ chức:
- Bài mới:
1 HOẠT ĐỘNG 1: KHỞI ĐỘNG
* Mục tiêu:
+ Tạo tâm thế cho HS tiếp cận bài mới
+ Huy động, kích hoạt kiến thức đã học và trải nghiệm của HS có liên quan đến bài học Tạotình huống có vấn đề để kết nối vào bài học
* Nội dung: Bảng K W L
* Tổ chức thực hiện:
B1 Chuyển giao nhiệm vụ học tập:
- GV tổ chức trò chơi cho học sinh: Tổ chức cho học sinh điền vào bảng K-W-L Hs hoànthành nhiệm vụ trong tối đa 10 phút
- GV chiếu yêu cầu:
+ GV có thể gợi mở giúp HS giải quyết vấn đề
B2 Thực hiện nhiệm vụ học tập: HS huy động kiến thức, kĩ năng để hoàn thành
B3 Báo cáo kết quả và thảo luận:
+ Hs báo cáo kết quả nhanh
B4.GV Kết luận, nhận xét
+ GV chiếu đáp án
+ GV nhận xét về kiến thức, thái độ của học sinh: Hướng học sinh đến sự lịch sự, tự tin, nhanh tay nhanh mắt, tương tác tốt với người nghe
* GV giới thiệu bài mới:
2 HOẠT ĐỘNG 2: ÔN TẬP KIẾN THỨC ĐÃ HỌC VÀ NÂNG CAO
2.1 XÁC ĐỊNH NỘI DUNG VÀ MỤC ĐÍCH BÀI HỌC
Trang 24B1 Chuyển giao nhiệm vụ học tập
- GV nêu câu hỏi
B2 Thực hiện nhiệm vụ học tập: HS huy động kiến thức để trả lời câu hỏi
B3 Báo cáo kết quả và thảo luận
+ GV yêu cầu HS báo cáo kết quả Dự kiến gợi mở để học sinh nhớ lại kiến thức đã học
1 Giới thiệu về thơ Hai-cư
- Trong văn học Nhật Bản, thơ hai-cư chiếm một vị tríkhá quan trọng Thể thơ này ra đời và phát triển rộng rãi trongthời kì Phục hưng văn học thế kỷ XVII - XVIII và song hànhvới đời sống văn hóa Nhật Lúc đầu thơ hai-cư bắt nguồn từcác thể thơ ca truyền thống như trường ca, hòa ca, đoản ca Sau đó một phần của bài thơ trong các thể thơ này tách ra độclập và tồn tại một thời gian dài không có tên gọi chính thức,đến khi nhà thơ Shiki (1867-1902) gọi đó là thơ hai-cư vàonhững năm cuối thế kỷ XIX rồi nó tồn tại cho đến ngày nay
- Bài thơ Hai-cư trong tiếng Nhật chỉ gồm 17 âm tiếtchia thành 3 dòng thơ (dòng 1 và dòng 3 có năm âm tiết; dòng
2 có bảy âm tiết) Các bản dịch tiếng Việt thường không đápứng được đầy đủ đòi hỏi của quy tắc trên nhưng vẫn đảm bảođược sự ngắn gọn, hàm súc đặc trưng của thể thơ này
- Một bài Hai-cư Nhật luôn tuân thủ hai nguyên lý tốithiểu, đó là bốn mùa của thiên nhiên và tính tương quan giữahai ý tưởng Trong thơ bắt buộc phải có kigo (quý ngữ) nghĩa
là từ miêu tả mùa màng một cách gián tiếp Trong bài khôngthì không nói rõ xuân, hạ, thu, đông nhưng sẽ nhắc đến hoa anhđào, lá úa vàng, tuyết phủ trắng Ngoài ra bài thơ sẽ liên kếtmột hình ảnh bao la của vũ trụ ăn khớp với một hình ảnh bénhỏ của đời thường Đây chính là điểm đặc biệt, hấp dẫn củabài thơ hai-cư
- Cảm thức thẩm mĩ: Thơ hai-cư thường thấm đẫm tinhthần Thiền tông và văn hóa phương Đông, đề cao sự vắng lặng,đơn sơ, u huyền và phản ánh sự vật trong mối tương quan, giaohòa, thể hiện những rung cảm của con người trước thiên nhiênbằng những hình ảnh trong sáng, nhẹ nhàng nhưng cũng đậmtính tượng trưng
- Khởi nguồn từ Nhật Bản, ngày nay, hai-cư đã trởthành thể thơ được sáng tác bằng nhiều ngôn ngữ khác nhau
Trang 25trên thế giới Thơ hai-cư hiện đại có những đặc điểm riêng vềbút pháp trong khi vẫn bảo lưu một số nguyên tắc quan trọngcủa tư duy và mĩ cảm cùa thơ hai-cư truyền thống như bài thơđược cấu tứ quanh một phát hiện mang tính chất “bừng ngộ”
về mối quan hệ giữa các sự vật, hiện tượng, về sự tương thôngđầy bí ẩn giữa thế giới và con người; thơ thiên về khơi gợi hơn
là miêu tả và diễn giải
=> Sức sống và sự hấp dẫn của thơ hai-cư nằm ở khả năngkiệm lời mà vẫn gợi nhiều cảm xúc và suy tưởng
B CÁC TÁC PHẨM
* Đọc – hiểu một đoạn văn bản ngoài chương trình
Đọc văn bản và thực hiện yêu cầu:
Ao cũ
con ếch nhảy vào
vang tiếng nước xao.
(Ba-sô)
Câu 1: Bài thơ thuộc thể thơ gì?
Câu 2: Ý nghĩa của hình ảnh cái ao cũ?
Câu 3: Hình ảnh trung tâm của bài thơ là hình ảnh nào? Ý nghĩa của hình ảnh đó là gì?
Câu 4: Anh/chị hãy viết đoạn văn khoảng 15 dòng về tính hàm súc của bài thơ.
Đáp án
Câu 1: Thơ Hai-cư
Câu 2: Cái “ao” ở đây có thể là cái ao tù đọng sau mưa, có thể là hồ nước nơi quê nhà, và có
thể nó là chiếc ao đời, chiếc ao vũ trụ bao lấy cõi thế nhân
Câu 3: Hình ảnh trung tâm của bài thơ là con ếch nhỏ nhảy vào ao nước Con ếch bé nhỏ ấy
như chính cuộc đời nhỏ bé nhảy vào cái ao vũ trụ Nhưng thực thể nhỏ bé ấy lại làm vang lênđược tiếng thủy âm (tiếng nước), làm chấn động một không gian tĩnh mịch của vũ trụ bao la
Câu 4: Viết đoạn văn đảm bảo đúng yêu cầu hình thức và nội dung:
- Hình thức: Đoạn văn khoảng 15 dòng
- Nội dung: Tính hàm súc của bài thơ thể hiện qua các hình ảnh cái ao cũ, con ếch nhỏ và tiếngnước xao
+ Cái “ao” ở đây có thể là cái ao tù đọng sau mưa, có thể là hồ nước nơi quê nhà, và có thể nó làchiếc ao đời, chiếc ao vũ trụ bao lấy cõi thế nhân Hình ảnh trung tâm của bài thơ là con ếch nhỏnhảy vào ao nước Con ếch bé nhỏ ấy như chính cuộc đời nhỏ bé nhảy vào cái ao vũ trụ Nhưngthực thể nhỏ bé ấy lại làm vang lên được tiếng thủy âm (tiếng nước), làm chấn động một khônggian tĩnh mịch của vũ trụ bao la
+ Bài thơ khiến người đọc có cảm giác giống như đang đứng trong một không gian rất tĩnh lặng,lắng đọng Cảnh vật rất cô tịch, lắng đọng theo tiếng ếch nhảy, tiếng nước Đây chính là cái tĩnhlặng mang tính thiền tông và tình yêu thiên nhiên của tác giả Bởi vì phải hòa vào thiên nhiên thìmới có thể cảm nhận và vẽ lên một bức tranh như thế
=> Bài thơ mang tính chất thiền tông, thể hiện lòng yêu thiên nhiên và làm toát lên cái hồn NhậtBản
4 HOẠT ĐỘNG 4 HOẠT ĐỘNG VẬN DỤNG.
Trang 26- Mục tiêu: Hướng đến mục tiêu HS biết vận dụng tri thức bài học được vào việc viết văn nghị
luận và phát huy năng lực cảm thụ văn học
- Nội dung: Giải các đề bài về tác phẩm
- Sản phẩm: Bài viết của học sinh
- Tổ chức thực hiện:
+ GV giao đề bài
+ HS thảo luận để lập dàn bài trên lớp, làm bài ngoài giờ lên lớp và báo cáo kết quả
Đề số 1: viết bài văn nghị luận phân tích đánh giá một tác phẩm thơ: bài thơ của
Mát-chư-ô Ba-sMát-chư-ô
I MỞ BÀI
- Giới thiệu giả Ba-sô và tác phẩm
II THÂN BÀI
1 Giới thiệu về thơ Hai-cư
2 Phân tích bài thơ của Mát-chư-ô Ba-sô
- Hoàn cảnh ra đời: Ra đời khi Ba-số 35 tuổi
- Quý ngữ: Chiều thu
- Khung cảnh được gợi tả trong bài thơ:
+ Không gian, thời gian: Bài thơ mang nỗi buồn của buổi chiều tà, của lúc tàn thu, sựngưng đọng, lặng im của cảnh vật
+ Màu sắc: Cành khô màu nâu xám, chim quạ chắc chắn là màu đen (hoặc xám) và màuvàng (chiều thu)
+ Hình ảnh trung tâm: Con quạ, Ngoài ra còn có hình ảnh cành cây khô
- Xác định mối quan hệ giữa hình ảnh trung tâm trong bài thơ của Ba-sô với các yếu tố thời gian
và không gian: Hình ảnh cánh quạ đậu trên cành khô trong bài thơ gợi lên một không gian chiềuthu vắng lặng, đơn sơ, nhẹ nhàng
III KẾT LUẬN
- Khẳng định vấn đề: Bài thơ thể hiện tình yêu thiên nhiên, cuộc sống, tình yêu quê hương đấtnước là giá trị nhân sinh cốt lõi trong thơ của Ba-sô
- Khẳng định sức sống lâu bền của thơ Hai-cư và liên hệ
Đề 2 Phân tích vẻ đẹp một bài thơ hai- cư mà em yêu thích
Gợi ý dàn ý
1 Mở bài:
- Giới thiệu về thơ hai-cư
- Giới thiệu về bài thơ yêu thích
2 Thân bài:
2.1 Khái quát vẻ đẹp thơ hai-cư
- Một phong cảnh, một vài sự vật cụ thể thể hiện một tứ thơ, một xúc cảm, suy tư của ngườiviết
- Thời điểm xác định theo mùa: quý ngữ ( ki-go) – từ chỉ mùa bắt buộc trong mỗi bài thơ
- Thủ pháp tượng trưng:
+ Thể hiện một khoảnh khắc của cảnh vật và đỉnh điểm cảm xúc ( hàm súc gợi mà không tả) + Thiên nhiên và triết lí về thiên nhiên: Tìm cái đẹp trong những hình ảnh giản dị, bình thườngcủa thiên nhiên
Trang 27+ Thấm đẫm tinh thần thiền tông Phật giáo và tinh thần văn hóa phương Đông- cách nhìn nhấtthể hóa: Trời – đất, con người vạn vật … là một quan hệ khăng khít
- Ngôn ngữ: dùng ít các tính từ, trạng từ cụ thể hóa sự vật, hạn chế tưởng tượng của người đọc.Dùng nhiều danh, động từ gợi tưởng tượng, suy ngẫm Mơ hồ là đặc điểm quan trọng của ngônngữ
- Cảm thức thẩm mĩ: có những nét thẩm mĩ riêng, rất cao và tinh tế Haiku đề cao cái vắng
2.2 Phân tích vẻ đẹp độc đáo của một bài thơ hai-cư:
Ôi hoa triêu nhan!
Dây gàu vương hoa bên giếng
Đành xin nước nhà bên.
Bài thơ đẹp bởi cách tạo hình ảnh vừa tương phản lại vừa tương hợp giữa dãy “hoa triêu nhan”
và “dây gàu”, còn đẹp hơn bởi cách tạo yếu tố bất ngờ trùng điệp tăng cấp qua cả ba câu thơ bénhỏ Bài thơ còn sâu sắc ở chỗ đã gửi gắm kín đáo dưới chữ nghĩa ít ỏi kia một nét đẹp lấp lánhcủa tâm hồn Nhật Bản Đó là sự tinh tế và nhạy cảm trước cái Đẹp của cuộc sống và hơn thếnữa là thái độ và nghĩa cử biết nâng niu ,trân trong gìn giữ cái đẹp trong đời
2.2.1 Thời gian
“Triêu nhan” là loài hoa mang nhan sắc ban mai bởi hoa chỉ nở vào buổi sáng sớm, rạng
ngời đón lấy những tia nắng tinh khôi và dưới ánh chiều dần phai tàn
2.2.2 Không gian
Giếng nước nhỏ hẹp, gần gũi, đơn sơ
2.2.3 Hình ảnh thơ trung tâm
“Hoa triêu nhan”- loài hoa phổ biến ở Nhật Bản được người Nhật ưu ái gọi bằng nhiều cái
tên gợi cảm: “kim tuyến của ban mai”, “trăng lúc chiều tà”, “cô gái đậu tía”,…nhỏ bé, lặngthầm mà đầy sức sống, lay động lòng người
2.2.4 Hành động và xúc cảm của thi nhân
Chính vẻ đẹp của bông “hoa triêu nhan” đang hé nở làm cho nữ sĩ phải ngước nhìn và trântrọng nó “Hoa triêu nhan” sáng nở chiều tàn, nhưng khoảnh khắc mà bông hoa dần hé lộ vẻđẹp là khoảnh khắc đẹp nhất của đời hoa Nhà thơ không muốn phá tan cái đẹp của tự nhiên
đành “xin nước nhà bên” để “hoa triêu nhan” tiếp tục nở, mang hương sắc cho đời.
Trong tinh thần của Thiên Thai tông, không chỉ loài người hữu tình mà ngay cả loài cây cỏcũng có khả năng giác ngộ, tức là có Phật tánh Bài thơ trên có thể được xem như một tuyênngôn hùng hồn của lòng từ bi Phật giáo và phảng phất triết lý của tông Thiên Thai Nhà thơnhìn thấy sự sống, nhìn thấy cái đẹp, nhìn thấy Phật tánh trong đóa “triêu nhan” nhỏ nhoinhưng bền bỉ “Hoa triêu nhan” vốn là một loại dây leo, đã quấn vào dây gàu để nở Trước cái
đẹp, trước sự sống, nhà thơ nâng niu, trân trọng, không nỡ làm tổn thương nên bà chọn giải pháp “xin nước nhà bên”, để sự sống và cái đẹp được hiện hữu Một người lỗ mãng sẽ dễ
dàng bứt nhánh “triêu nhan” để thuận lợi cho công việc múc nước của mình Thực tại được
mô tả như nó chính là, không giải thích nhưng tự thân sự kiện đã nói nhiều hơn ba câu thơngắn ngủi Đây chính là tinh thần ý tại ngôn ngoại, lại cũng chính là sự vô ngôn của Thiền và
là tính nhân văn của Phật giáo Cần phải có một nội tâm tĩnh lặng, một tính cách dịu dàng vàhơn cả là một tình thương lớn, một tấm lòng trắc ẩn lớn mới có cách hành xử như vậy Mộtđóa “triêu nhan” mỏng manh làm tỏa sáng một tình thương mênh mông và cảm động
2.2.5 Nhận xét vẻ đẹp bài thơ
Một buổi sáng, Chiyo định thả gầu lấy nước giếng Nhưng quanh dây gầu đang vướng mộtbông hoa xinh, đó là hoa Asagao -một loại hoa đồng cỏ nội rất đỗi bình thường, một thứ dâyleo Tên nó có nghĩa là "gương mặt của sớm mai" (asagao = triêu nhan) Không nỡ động chạmđến hoa, nhà thơ đành xin nhờ nước giếng hàng xóm Và kinh nghiệm bình thường mà kì diệu
Trang 28ấy được ghi lại qua một hình thức thơ ngắn gọn – hai-ku (ba câu 5-7-5 âm tiết) …Người vàhoa gặp nhau trong buổi sáng Không nói năng chi - nhưng khoảnh khắc ấy đã đánh thức thi
ca Vũ trụ như hóa thành một bông hoa “triêu nhan” Và người đi lấy nước cho dù không làmbài thơ trên, chỉ lẳng lặng đi “xin nước nhà bên” để khoảnh khắc kia được vẹn toàn, người ấyvẫn bước vào Diệu Xứ của Thơ Ca, của Hoa Thơ hai-ku thường nắm bắt được khoảnh khắc
ấy, cái khoảnh khắc mà thế giới hiện ra mới mẻ tinh khôi như hoa bìm bìm trong buổi sớmmai "Để em nghe lời tôi nói", nhà thơ Chilê Pablo Neruda viết "lời lẽ tôi đôi khi thu nhỏ lại""
để có thể đi sâu vào tâm hồn người, hai-ku cũng thế, nó thu mình nhỏ lại Về sự vắn tắt củahai-ku, nhà phê bình nổi tiếng của Pháp Roland Barthes có ý kiến như sau: "sự ngắn gọn củahai-ku không phải là vấn đề hình thức, hai-ku không phải là một tư tưởng phong phú rút vàomột hình thức ngắn, mà là một sự tình vắn tắt đã tìm ra được hình thức vừa vặn của mình".Bởi vì hai-ku không cốt nói nhiều, nó im lặng hơn là nói Nó trống chứ không đầy, nó nhỏnhắn nhưng không bao giờ chật cứng Hai-ku chỉ ra sự vật như hoa bìm bìm, hạt cát, bầyruồi và rồi dừng lại chứ không giải thích, không miêu tả Nó chỉ ra sự vật như đứa trẻ chỉvào sự vật quanh mình, nói từng tiếng một hoặc reo lên Đến với hai-ku, ta thấy nó thơ ngâymột cách hiền minh và hiền minh một cách ngây thơ Có những bức tranh hoành tráng làmcho bạn bàng hoàng nhưng cũng có những tiểu họa làm cho bạn ngạc nhiên Khi nhà thơ hai-
ku chọn đề tài, họ không bao giờ từ chối những sự vật nhỏ bé, bình thường mộc mạc Thơ củaChiyo là một minh chứng
2.2.5 Đánh giá:
- Nghệ thuật
+ Ngắn gọn, hàm súc, kiệm lời mà vẫn gợi nhiều cảm xúc và suy tưởng
+ Hình ảnh thơ trong sáng, nhẹ nhàng đậm ý nghĩa tượng trưng sâu sắc
- Nội dung – Ý nghĩa
+ Phản ánh tâm hồn người Nhật – tâm hồn ưa thích hòa nhập với thiên nhiên
+ Những rung cảm, suy ngẫm của con người trước một phong cảnh, một vài sự vật cụ thể, một
- Khẳng định lại giá trị của bài thơ
- Bày tỏ suy nghĩ bản thân
Đề số 3: viết bài văn nghị luận phân tích đánh giá một tác phẩm thơ: bài thơ của a-si Ít-sa
Cô-ba-y-I MỞ BÀI
- Giới thiệu giả Ba-sô và tác phẩm
II THÂN BÀI
1 Giới thiệu về thơ Hai-cư:
2 Phân tích bài thơ của Cô-ba-y-a-si Ít-sa
- Khung cảnh được gợi tả trong bài thơ: Con ốc” gợi lên hình ảnh một con vật nhỏ bé, chậmchạp, sống thụ động “Núi Fu-ji” là một ngọn núi nổi tiếng ở Nhật Bản, nó gợi lên sự hùng vĩ,tráng lệ của tự nhiên
Trang 29- Hình ảnh trung tâm: Con ốc nhỏ
- Xác định mối quan hệ giữa hình ảnh trung tâm trong bài thơ với các yếu tố thời gian và khônggian: Hình ảnh con ốc nhỏ bé đang trèo lên núi Fu-ji là hình ảnh biểu tượng con người trênquãng đường chinh phục ước mơ lớn lao của cuộc đời Cái chậm rì của con ốc phản ánh cảmthức thanh thoát (karumi): con ốc ung dung, tự tại trong hành trình của mình
- Bài học với các bạn trẻ: Bài thơ nhắc nhở các bạn trẻ cần sống cần có ước mơ, hoài bão, cần
nỗ lực, cố gắng để đạt được ước mơ của mình
III KẾT LUẬN
- Khẳng định vấn đề
- Khẳng định sức sống lâu bền của thơ Hai-cư và liên hệ
4 HOẠT ĐỘNG 4 HOẠT ĐỘNG VẬN DỤNG
- Mục tiêu: Hướng đến mục tiêu HS biết vận dụng tri thức bài học được vào việc viết văn nghị
luận và phát huy năng lực cảm thụ văn học
- Nội dung: Giải các đề bài về tác phẩm
- Sản phẩm: Bài viết của học sinh
- Tổ chức thực hiện:
+ GV giao đề bài
+ HS thảo luận để lập dàn bài trên lớp, làm bài ngoài giờ lên lớp và báo cáo kết quả
Đề bài: Phân tích bài thơ “Cảm xúc mùa thu” (Thu hứng – bài 1) của Đỗ Phủ.
Gợi ý dàn ý
1 Mở bài
- Giới thiệu về tác giả Đỗ Phủ: Đỗ Phủ là nhà thơ hiện thực vĩ đại của Trung Quốc với nhữngvần thơ phản ánh hiện thực và bày tỏ cảm xúc, thái độ, tâm trạng đau khổ trước hiện thực đờisống của nhân dân trong chiến tranh, trong nạn đói, chan chứa tình yêu nước và tinh thần nhânđạo
- Giới thiệu về bài thơ “Cảm xúc mùa thu”: Cảm xúc màu thu là bài thơ đầu tiên trong chòm 8
bài thơ “Thu hứng” của Đỗ Phủ thể hiện nỗi lòng của nhà thơ với quê hương, đất nước
2 Thân bài
2.1 Bốn câu thơ đầu: Cảnh thu
a Hai câu đề ( Câu 1 và 2 )
- Hình ảnh ngọc lộ, phong thụ lâm: là những hình ảnh quen thuộc của mùa thu Trung Quốc.
+ “Ngọc lộ: Miêu tả hạt sương móc trắng xóa, dầy đặc làm tiêu điều, hoang vu cả một rừngphong Bản dịch thơ dịch thanh thoát nhưng chưa truyền tải đầy đủ nội dung, ý nghĩa thần tháicủa nguyên tác
+ “Phong thụ lâm”: hình ảnh thường được dùng để tả cảnh sắc mùa thu và nỗi sầu li biệt
- “Núi Vu, kẽm Vu”: Là hai địa danh cụ thể ở Trung Quốc, vào mùa thu khí trời âm u, mù mịt.Bản dịch thơ là “ngàn non”: Đánh mất hai địa danh cụ thể lại không diễn tả được hết không khícủa mùa thu
- “Khí tiêu sâm”: Hơi thu hiu hắt, ảm đạm
→ Không gian thiên nhiên vừa có chiều cao vừa có chiều rộng và chiều sâu, không gian lạnhlẽo xơ xác, tiêu điều, ảm đạm
→ Diễn tả cảm xúc buồn, cô đơn, lạnh lẽo của tác giả
b Hai câu thực ( Câu 3 và 4 )
Trang 30- Điểm nhìn từ lòng sông đến miền quan ải, không gian được nới theo ba chiều rộng, cao và xa:+ Tầng xa: là ở giữa dòng sông thăm thẳm là “sóng vọt lên tận lưng trời”
+ Tầng cao: là miền quan ải với hình ảnh mây sa sầm giáp mặt đất
+ Tầng rộng: mặt đất, bầu trời, dòng sông đều cho ta hình dung về không gian rộng lớn
- Hình ảnh đối lập, phóng đại: sóng – vọt lên tận trời (thấp – cao), mây – sa sầm xuống mặt đất(cao – thấp)
→ Sự vận động trái chiều của những hình ảnh không gian kì vĩ, tráng lệ
→ Tâm trạng con người ngột ngạt, bí bách, bất an
⇒ Bốn câu thơ vẽ lên bức tranh mùa thu xơ xác, tiêu điều, mênh mông, rợn ngợp, cảnh vậtthiên nhiên như chao đảo Đó phải chăng cũng là bức tranh của xã hội Trung Quốc đương thờiloạn lạc bất an, chao đảo?
⇒ Tâm trạng buồn, cô đơn, bất an, lo lắng của tác giả trước thời cuộc
2.2 Bốn câu thơ sau: Tình thu
a Hai câu luận ( Câu 5 và 6 )
- Hình ảnh nhân hóa, ẩn dụ:
+ Khóm cúc nở hoa – tuôn dòng lệ: Có hai cách hiểu khóm cúc nở ra làm rơi giọt nước mắt,khóm cúc nở ra giọt nước mắt
→ Dù hiểu theo cách nào cùng thấy được tâm sự buồn của tác giả
+ Cô chu – con thuyền cô độc
→ Hình ảnh gợi sự trôi nổi, lưu lạc của con người Đây là phương tiện để nhà thơ gửi gắm khátvọng về quê
- Từ ngữ:
+ “Lưỡng khai”: Nỗi buồn lưu cữu, trải dài từ quá khứ đến hiện tại
+ “Nhất hệ”: Dây buộc thuyền cũng là sợi dây buộc mối tình nhà của tác giả
+ “Cố viên tâm”: Tấm lòng hướng về quê cũ Thân phận của kẻ tha hương, li hương luôn khiếnlòng nhà thơ thắt lại vì nỗi nhớ quê (Lạc Dương), nhớ nước (Trường An – kinh đô nhà Đường)
- Sự đồng nhất giữa các sự vật, hiện tượng:
+ Tình – cảnh: Nhìn cúc nở hoa mà lòng buồn tuôn giọt lệ;
+ Quá khứ hiện tại: Hoa cúc nở hai lần năm ngoái – năm nay mà không thay đổi;
+ Sự vật – con người: Sợi dây buộc thuyền cũng là sợi dây buộc chặt tâm hồn người
→ Hai câu thơ đặc tả nỗi lòng đau buồn, tha thiết, dồn nén vì nỗi nhớ quê không thể giải tỏa củanhà thơ
b Hai câu kết ( Câu 7 và 8 )
- Hình ảnh
+ Mọi người nhộn nhịp may áo rét
+ Giặt quần áo chuẩn bị cho mùa đông tới
→ Không khí chuẩn bị cho mùa đông, gấp gáp, thúc giục
- Âm thanh: Tiếng chày đập vải
→ Âm thanh báo hiệu mùa đông sắp đến, đồng thời diễn tả sự thổn thức, ngổn ngang, mong chờngày về quê của tác giả
⇒ Bốn câu thơ khắc sâu tâm trạng buồn, cô đơn, lẻ loi, trầm lắng, u sầu vì nỗi mong nhớ trở vềquê hương
2.3 Nghệ thuật
Trang 31- Tứ thơ trầm lắng, u uất;
- Lời thơ buồn, thấm đẫm tâm trạng, câu chữ tinh luyện;
- Bút pháp đối lập, tả cảnh ngụ tình;
- Ngôn ngữ ước lệ nhiều tầng ý nghĩa
2.4 Liên hệ, mở rộng: Cảm thức quê nhà trong thơ Đường vô cùng phổ biến và đặc sắc: Cảm
nghĩ trong đêm thanh tĩnh(Lí Bạch), Hoàng Hạc lâu (Thôi Hiệu).
3 Kết bài
- Khẳng định lại giá trị của bài thơ
- Bày tỏ suy nghĩ bản thân
- Ví dụ: Bài thơ không chỉ vẽ nên một bức tranh thu giàu chất gợi hình mà còn gợi lên cả trong
ta một nỗi niềm sâu kín Nỗi lo âu thế sự, nỗi nhớ quê hương cùng nỗi đơn côi lạc lõng đã đượcthể hiện thật tài tình trong bài thơ Chính với ngòi tinh tế và cảm xúc sâu sắc đong đầy, Đỗ Phủ
và bài thơ "Thu hứng" sẽ mãi giữ được một vị trí quan trọng trong nền thi ca Trung Quốc
* Đọc – hiểu một đoạn văn bản ngoài chương trình
Đọc văn bản và thực hiện yêu cầu:
Thơ thẩn đường chiều một khách thơ, Say nhìn xa rặng núi xanh lơ,
Khí trời lặng lẽ và trong trẻo, Thấp thoáng rừng mơ cô hái mơ.
Hỡi cô con gái hái mơ già!
Cô chửa về ư? Đường thì xa,
Mà ánh trời hôm dần một tắt, Hay cô ở lại về cùng ta?
Nhà ta ở dưới gốc cây dương, Cách động Hương Sơn nửa dặm đường,
Có suối nước trong tuôn róc rách,
Có hoa bên suối ngát đưa hương.
Cô hái mơ ơi!
Chả giả lời nhau lấy một lời,
Cứ lặng rồi đi, rồi khuất bóng, Rừng mơ hiu hắt lá mơ rơi.
(Cô hái mơ – Nguyễn Bính)
Câu 1: Nêu rõ khung cảnh được gợi tả trong bài thơ.
Câu 2: Xác định nhân vật trữ tình và nêu rõ cảm xúc trữ tình được thể hiện trong bài thơ.
Câu 3: Khổ thơ sau đây sử dụng biện pháp tu từ nào? Nêu tác dụng của biện pháp tu từ vừa tìm
ra
Hỡi cô con gái hái mơ già!
Cô chửa về ư? Đường thì xa,
Mà ánh trời hôm dần một tắt,
Hay cô ở lại về cùng ta?
Trang 32Câu 4: Nhận xét về cách sử dụng ngôn từ: “Cô chửa về ư?”, “Chả giả lời nhau” của nhà thơ
Nguyễn Bính
Câu 5: Anh/chị hãy viết đoạn văn khoảng 10 – 15 dòng thể hiện cảm nhận về khổ thơ cuối
trong bài thơ
Đáp án Câu 1: Một khung cảnh rất lãng mạn: Rừng mơ có cô gái hái mơ, sau rặng núi xanh lơ, khí trời
trong trẻo, có tiếng suối róc rách, có hương hoa ngọt ngào, có lá mơ rơi… Khung cảnh này rấtphù hợp với việc thể hiện tình yêu đôi lứa
Câu 2: Nhân vật trữ tình có thể là tác giả xuất hiện trong bài thơ qua từ “khách thơ” Nhân vật
trữ tình là người có tâm hồn nhạy cảm, dễ cảm xúc trước vẻ đẹp của thiên nhiên, tạo vật, conngười
Cảm xúc trữ tình được thể hiện trong bài thơ là sự say mê cảnh vật rừng mơ và cô gái hái
mơ Nhân vật trữ tình muốn bày tỏ sự say mê của mình nhưng có chút hẫng hụt vì không được
cô hái mơ đáp lại
Câu 3: Biện pháp tu từ: câu hỏi tu từ có tác dụng bày tỏ tình yêu, sự say mê một cách ý nhị.
(Hoặc biện pháp chơi chữ; cô gái – già)
Câu 4: “Cô chửa về ư?”, “Chả giả lời nhau” là ngôn từ giản dị, dân dã của người lao động ở
chốn làng quê Cách sử dụng ngôn từ có tác dụng góp phần thể hiện chất chân quê trong thơNguyễn Bính
Câu 5: Viết đoạn đảm bảo yêu cầu về nội dung và hình thức: Thể hiện sự say mê rồi hẫng hụt
của nhân vật trữ tình khi lời tỏ bày tình yêu không được đáp lại Thể hiện rõ qua câu thơ ngắnduy nhất và dấu chấm cảm, hình ảnh rừng mơ hiu hắt, tàn úa với lá mơ rơi
4 HOẠT ĐỘNG 4 HOẠT ĐỘNG VẬN DỤNG
- Mục tiêu: Hướng đến mục tiêu HS biết vận dụng tri thức bài học được vào việc viết văn nghị
luận và phát huy năng lực cảm thụ văn học
- Nội dung: Giải các đề bài về tác phẩm
- Sản phẩm: Bài viết của học sinh
- Tổ chức thực hiện:
+ GV giao đề bài
+ HS thảo luận để lập dàn bài trên lớp, làm bài ngoài giờ lên lớp và báo cáo kết quả
Đề bài: Viết văn bản nghị luận phân tích đánh giá về bài thơ “Mùa xuân chín” của Hàn Mặc Tử
I MỞ BÀI
- Giới thiệu tác giả Hàn Mặc Tử và bài thơ
II THÂN BÀI
Trang 332 Khổ 1: Bức tranh thiên nhiên tươi mới, ngập tràn ánh sáng, ngập tràn sắc xuân:
3 Khổ 2: Vạn vật và con người đều mang sức xuân bỗng ngập ngừng, hẫng hụt, băn khoăn.
4 Khổ 3: Tiếng hát của các cô thôn nữ
5 Khổ 4: Hàn Mặc Tử chính là người lữ khách đi ngang qua, gặp lúc mùa xuân chín ấy mà
nhớ làng, nhớ đến người chị ở chốn làng quê mà thổn thức
=> Nỗi niềm của Hàn Mặc Tử là trạng thái tâm hồn đầy uẩn khúc của vị khách thơ đingang qua vườn trần gian, đúng vào cái thời điểm xuân chín để mà thấy ra cái cảnh thần tiênđương rồi lại nhìn thấy tương lai vô vị buồn sầu ngay phía trước Vậy nên, tiếc xuân chính lànỗi niềm sâu xa nhất của thi phẩm và đó cũng là nỗi đau thương của chàng thi sĩ thiết tha vớícuộc đời mà luôn phải sống trong mặc cảm chia lìa
6 Đánh giá về nội dung và nghệ thuật
a Về nghệ thuật
- Ngôn từ sáng tạo:
+ Những từ ngữ có thể gợi ra nhiều nét nghĩa hoặc nhiều khả năng liên tưởng về âmthanh, hình ảnh: Làn nắng ửng, sột soạt, bóng xuân sang, hổn hển, thì thầm, nắng changchang…
+ Những kết hợp từ ngữ ít gặp trong lời nói thông thường: gợn tới trời, đám xuân xanh, ý
vị và thơ ngây, mùa xuân chính, bờ sông trắng
- Biện pháp tu từ: Đảo ngữ, so sánh, nhân hóa nhấn mạnh sắc xuân phơi phới: “Sột soạt gió
trêu tà áo biếc”; “Tiếng ca vắt vẻo lưng chừng núi/Hổn hển như lời của nước mây”…
- Ngắt nhịp biến hóa: chủ yếu 4/3 hoặc 2/2/3
+ Gieo vần: Các vần được gieo trong bài thơ Vần ang (vàng, sang); ơi (trời, chơi); ây (mây,
ngây); ang (làng, chang) Gieo vần chân ở câu thơ 2,4; 5,8; 10,12; 14;16 Cách gieo vần ở mỗikhổ thơ có sự khác nhau cũng tạo nên sự đặc sắc cho cả bài thơ => Cảm xúc dẫn dắt nhịp vần,
đi trước thi luật thể hiện sự giải phóng cảm xúc của thơ mới
- Kết hợp tài tình giữa cổ điển và cái hiện đại:
+ Cổ điển: Bài thơ có những điểm giao thoa với thể thơ Đường luật, tạo nên một nét thơphảng phất phong vị cổ điển, trang trọng Thể thơ bảy chữ, ngắt nhịp 4/3, cách gieo vần cuốinhững câu thơ 1, 2, 4 là đặc trưng tiêu biểu của thơ Đường luật
+ Về tính hiện đại, thi sĩ họ Hàn là người chịu nhiều ảnh hưởng của chủ nghĩa tượngtrưng, siêu thực thể hiện qua những hình ảnh huyền ảo, kì bí, thậm chí là ma mị, những kết hợp
từ mới mẻ, độc đáo, nghệ thuật ẩn dụ chuyển đổi cảm giác…
2 Nội dung
- Bài thơ gợi nên một bức tranh xuân rạo rực, say đắm, con người và cảnh vật đều trànđầy sức sống, giao hòa mãnh liệt với nhau Mùa xuân đang “chín” mà đã sắp tàn phai, thơ mộng
Trang 34mà thoáng buồn khiến người ta nhớ mãi không quên Mỗi tiếng thơ thốt lên còn là cả một bầutrời thương yêu Yêu mùa xuân chín cũng là yêu đồng quê thân thuộc nơi miền Trung "Dọc bờsông trắng nắng chang chang" Đó cũng chính là biểu hiện sâu sắc của tình yêu quê hương, đấtnước
+ Tạo tâm thế cho HS tiếp cận bài mới
+ Huy động, kích hoạt kiến thức đã học và trải nghiệm của HS có liên quan đến bài học Tạotình huống có vấn đề để kết nối vào bài học
* Nội dung: GV gợi mở, học sinh nêu các vấn đề xã hội cần có ý kiến và thảo luận
* Tổ chức thực hiện:
B1 Chuyển giao nhiệm vụ học tập:
- GV tổ chức trò chơi cho học sinh: GV gọi Hs trả lời Hs hoàn thành nhiệm vụ trong tối đa 10phút
- GV chiếu yêu cầu:
+ GV có thể gợi mở giúp HS giải quyết vấn đề
B2 Thực hiện nhiệm vụ học tập: HS huy động kiến thức, kĩ năng để hoàn thành
B3 Báo cáo kết quả và thảo luận:
+ Hs báo cáo kết quả nhanh
B4.GV Kết luận, nhận xét
+ GV chiếu đáp án
+ GV nhận xét về kiến thức, thái độ của học sinh: Hướng học sinh đến sự lịch sự, tự tin, nhanh tay nhanh mắt, tương tác tốt với người nghe
* GV giới thiệu bài mới:
2 HOẠT ĐỘNG 2: ÔN TẬP KIẾN THỨC ĐÃ HỌC
2.1 XÁC ĐỊNH NỘI DUNG VÀ MỤC ĐÍCH BÀI HỌC
- Mục tiêu:
+ Hs khắc sâu một lần nữa các kiến thức nền tảng và nâng cao vốn tri thức về bài học
Trang 35B1 Chuyển giao nhiệm vụ học tập
- GV nêu câu hỏi
B2 Thực hiện nhiệm vụ học tập: HS huy động kiến thức để trả lời câu hỏi
B3 Báo cáo kết quả và thảo luận
+ GV yêu cầu HS báo cáo kết quả Dự kiến gợi mở để học sinh nhớ lại kiến thức đã học
B4 Kết luận, nhận định:
GV đánh giá, góp ý riêng cho từng học sinh để hệ thống lại nội dung kiến thức cơ bản về bàihọc
2.2 Tổ chức thực hiện:
Câu hỏi 1: Nhận biết kiểu bài
phân tích, đánh giá về một tác
phẩm thơ?
1 Nhận biết
- Bài văn nghị luận phân tích, đánh giá một tác phẩm thơ
không phải là một bài phát biểu cảm nhận đơn thuần Kiểu bài
viết này đòi hỏi sự chặt chẽ trong lập luận, sự sáng rõ, sắc nét
của luận điểm và sự mạch lạc trong tổ chức bài viết Bởi vậy,người viết cần nắm chắc các tri thức về đặc trưng thi ca đãđược giới thiệu trong bài học và được làm rõ qua các tiết đọcvăn bản đề có những phân tích, đánh giá thuyết phục
- Mặt khác, kiểu bài này cũng vẫn khuyến khích người viết thểhiện những rung cảm và tưởng tượng của mình khi chiếm lĩnhbài thơ
Câu hỏi 3: Nêu rõ yêu cầu
của việc giới thiệu, đánh giá
về một tác phẩm thơ?
2 Yêu cầu
- Giới thiệu ngắn gọn về bài thơ được chọn (tác giả, hoàn cảnh
ra đời của tác phẩm, khuynh hướng, trào lưu văn học gắn vớibài thơ; lí do lựa chọn bài thơ để phân tích, đánh giá)
- Chỉ ra và phân tích được những nét đặc sắc, độc đáo của bàithơ (từ ngữ, hình ảnh, cách tổ chức nhịp điệu, nhạc điệu, cáchliên kết mạch cảm xúc và hình ảnh, )
- Đánh giá giá trị của bài thơ về phương diện nghệ thuật cũngnhư ý nghĩa nhân sinh
Câu hỏi 3: Quy trình viết một
bài phân tích, đánh giá một
- Tìm đọc tham khảo những bài viết, ý kiến liên quan đến bàithơ bạn sẽ phân tích, đánh giá
Trang 36- Mỗi ý trong dàn ý cần được triển khai thành một đoạn văn
B4 Chỉnh sửa, hoàn thiện
- Đọc lại và kiểm tra bài viết, đồng thời đối chiếu với các yêucầu của đề bài, mục dich mà người viết đã đặt ra
- Chỉnh sửa các lỗi về chính tả, ngữ pháp
3 HOẠT ĐỘNG 3 HOẠT ĐỘNG LUYỆN TẬP
4 HOẠT ĐỘNG 4 HOẠT ĐỘNG VẬN DỤNG
- Mục tiêu: Hướng đến mục tiêu HS biết vận dụng tri thức bài học được vào việc viết văn nghị
luận và phát huy năng lực cảm thụ văn học
- Nội dung: Giải các đề bài
- Sản phẩm: Bài viết của học sinh
- Tổ chức thực hiện:
+ GV giao đề bài
+ HS thảo luận để lập dàn bài trên lớp, làm bài ngoài giờ lên lớp và báo cáo kết quả
Đề số 1: Phân tích bài thơ “Đây mùa thu tới” của Xuân Diệu:
Rặng liễu đìu hiu đứng chịu tang, Tóc buồn buông xuống lệ ngàn hàng;
Đây mùa thu tới - mùa thu tới Với áo mơ phai dệt lá vàng.
Hơn một loài hoa đã rụng cành Trong vườn sắc đỏ rũa màu xanh;
Những luồng run rẩy rung rinh lá
Đôi nhánh khô gầy xương mỏng manh.
Thỉnh thoảng nàng trăng tự ngẩn ngơ
Non xa khởi sự nhạt sương mờ
Đã nghe rét mướt luồn trong gió
Đã vắng người sang những chuyến đò
Mây vẩn từng không, chim bay đi, Khí trời u uất hận chia ly.
Ít nhiều thiếu nữ buồn không nói Tựa cửa nhìn xa, nghĩ ngợi gì.
I MỞ BÀI
- Giới thiệu Xuân Diệu và bài thơ
II THÂN BÀI
Trang 371 Khái quát
- Đề tài: mùa thu
2 Khổ 1: Tin thu đến trên hàng liễu ven hồ và màu áo mơ phai trẻ trung, tươi mới.
+ Hình ảnh: Rặng liễu đứng chịu tang, tóc liễu buông xuống như lệ ngàn hàng, áo mơ phai +Màu sắc: mơ phai
+ Ngôn ngữ: biện pháp nhân hóa “đứng chịu tang”, điệp ngữ “Đây mùa thu tới” như tiếng reovui, ngỡ ngàng khi mùa thu tới Cách ngắt nhịp 4/3 và biện pháp láy âm được Xuân Diệu vậndụng tài tình để tạo nên vần thơ giàu âm điệu, nhạc điệu: "đìu hiu - chịu", "tang - ngàn - hàng",
"buồn - buông - xuống”
+ Nhân vật trữ tình: khẽ reo lên khi chợt nhận thấy thu đã đến
3 Khổ 2: Cảnh sắc thiên nhiên trong khu vườn thu, bước đi của thời gian và những rung động
mơ hồ của lòng người
+ Hình ảnh: hoa rụng cành, vườn cây lá đổi màu, nhánh cây trơ trụi, hao gầy; sương
+ Màu sắc: Sắc đỏ lấn át sắc xanh
+ Nhịp điệu: Nhịp 4/3
+ Ngôn ngữ: Cách sử dụng từ rất tây: hơn một, rủa Các từ láy run rẩy”, “rung rinh” "mỏngmanh" là những nét vẽ thần diệu gợi tả cái run rẩy, cái rùng mình của cây lá buổi chiều thu.Nghệ thuật sử dụng các phụ âm , “r" (rụng, rũa, run rẩy, rung rinh) và phụ âm "m" (một, màu,mỏng manh) với dụng ý thẩm mĩ trong gợi tả và biểu cảm đặc sắc
- Câu thơ: Đôi nhánh khô gầy sương mỏng manh” là nét vẽ tranh phương đông chấm phá, chỉ ralinh hồn cảu cảnh vật, sự trơ trọi gầy guộc của cành lá khi thu, nhưng là mùa thu chưa định hìnhnên chỉ là đôi nhánh
+ Nhân vật trữ tình: Rung động mơ hồ trước vẻ đẹp của mùa thu
4 Khổ 3: Mùa thu báo hiệu cái rét mướt, sương giá và gợi sự trống trải cô đơn
+ Hình ảnh: Nàng trăng, non xa, sương mờ, gió rét mướt, bến đò…Nhìn chung thi liệu vừa hiệnthực vừa ước lệ tượng trưng, vừa kế thừa vừa cách tân sáng tạo
+ Nhịp điệu: 4/3
+ Ngôn ngữ: Biện pháp nhân hóa “Nàng trăng tự ngẩn ngơ”; Chữ luồn đã cụ thể hóa cái rét,cảm nhận được nó bằng trực giác, nghệ thuật chuyển đổi cảm giác giữa xúc giác và thính giác,cấu trúc song hành “Đã…” => cảm nhận của thi nhân về rét, về gió, về cái xa vắng không chỉbằng giác quan mà còn bằng cả linh hồn nữa
+ Nhân vật trữ tình: Cảm giác về sự cô đơn
5 Khổ 4: Dự cảm về sự tàn phai rơi rụng, chia lìa.
+ Hình ảnh: mây vẩn từng không, chim bay đi, khí trời u uất, các thiếu nữ tựa cửa nhìn xa
+ Nhịp điệu: 4/3 quen thuộc
+ Ngôn ngữ: Chữ “ít nhiều” chưa xác định Buồn tương tư, "buồn không nói" Một dáng điệu
"tựa cửa nhìn xa", một tâm hồn "nghĩ ngợi gì" rất mơ hồ, xa xăm:
+ Nhân vật trữ tình: Thể hiện nỗi buồn, sự băn khoăn và cảm nhận sâu sắc về sự chia lìa
6 Đánh giá về nghệ thuật và nội dung
Toàn bộ bài thơ một là một bức tranh mùa thu buồn được vẽ bằng những bút pháp nghệ thuậtđộc đáo Nhà thơ đã sử dụng những từ láy gợi cảm giác như “run rẩy”, “ngẩn ngơ”, “đìu hiu”,
“mỏng manh”… Nhờ những từ đó là bức tranh thu trở nên sinh động hơn, có sức hút hơn vớingười đọc Đặc biệt, bài thơ bộc lộ rõ hơn sự biến chuyển của thời gian và tâm trạng của tác giả
Trang 38Với thể thơ tự do, nhà thơ cho thấy tâm hồn của mình thật phóng khoáng, không bị gò bó ràocản trong một khuôn mẫu nào cả Nhờ thế mà bài thơ cũng dễ đi vào lòng người, dễ hiểu, dễthuộc và dễ cảm hơn.
III KẾT LUẬN
- Khẳng định ý nghĩa, giá trị của bài thơ
- Liên hệ
Bài viết tham khảo
Xuân Diệu (1916-1985) là nhà thơ tình, viết hay nhất và nhiều nhất trong thời đại chúng ta.Thi sĩ đã để lại trên 400 bài thơ tình,; là nhà thơ "mới nhất trong những nhà thơ mới" XuânDiệu cũng là thi sĩ của mùa thu Với Xuân Diệu nếu "Tình không tuổi và xuân không ngàytháng" thì cảnh thu chứa đựng biết bao tình thu, bao rung động xôn xao, bởi lẽ "Thu đến - nơinơi động tiếng huyền”
Trong hai tập thơ viết trước Cách mạng: "Thơ thơ" và "Gửi hương cho gió " có rất nhiều bàithơ nói đến sắc thu, hương thu, trăng thu, tình thu, thiếu nữ buổi thu về Mùa thu thật đángyêu, làm cho tâm hồn thi sĩ như dây đàn huyền diệu đang rung lên xao xuyến
"Đây mùa thu tới" là một bài thơ thu tuyệt bút của Xuân Diệu, rút trong tập "Thơ thơ", xuấtbản năm 1938 Thu đến, xôn xao rung động đất trời Cảnh vật đẹp mà thoáng buồn man mác.Lòng thiếu nữ càng trở nên bâng khuâng buổi thu về
Cảm nhận đầu tiên của thi sĩ Xuân Diệu về mùa thu không phải là âm thanh tiếng chày đậpvải, không phải là ấn tượng "Ngô đồng nhất diệp lạc - Thiên hạ cộng trì thu" mà là ở dáng liễu,rặng liễu ven hồ, hay bên đường:
"Rặng liễu đìu hiu đứng chịu tang,Tóc buồn buông xuống lệ ngàn hàng"
Cả một không gian "đìu hiu", buồn và vắng vẻ Rặng liễu trầm mặc như "đứng chịu tang" Láliễu buông dài như tóc nàng cô phụ "buồn buông xuống" Lá liễu ướt đẫm sương thu tưởng như
"lệ ngàn hàng" Liễu được nhân hóa "đứng chịu tang", từ tóc liễu đến lệ liễu đều mang theo baonỗi buồn thấm thía Một nét liễu, một dáng liễu được miêu tả và cảm nhận đầy chất thơ Biệnpháp láy âm được Xuân Diệu vận dụng tài tình để tạo nên vần thơ giàu âm điệu, nhạc điệu: "đìuhiu - chịu", "tang - ngàn - hàng", "buồn - buông - xuống" Đó là một điểm mạnh, khá mới mẻtrong thi pháp mà Xuân Diệu đã học tập được trong trường phái thơ tượng trưng Pháp trong thế
kỉ XIX
Say mê ngắm "rặng liễu đìu hiu ", nhà thơ khẽ reo lên khi chợt nhận thấy thu đã đến Cáchngắt nhịp 4/3 với điệp ngữ "mùa thu tới" đã diễn tả bước đi của mùa thu và niềm mong đợi thu
về bấy lâu nay trong lòng thi sĩ:
"Đây mùa thu tới/mùa thu tới Với áo mơ phai/dệt lá vàng"
Một vần lưng thần tình: "tới - với", một chữ "dệt" tinh tế trong miêu tả và cảm nhận Thu vừatới, sắc màu cỏ cây vạn vật đều đổi thay, trở thành "mơ phai" Đó đây điểm tô một vài sắc vàngcủa lá, đúng là "dệt lá vàng" Câu thơ "Với áo mơ phai dệt lá vàng" là một câu thơ nhiều thi vị,nói lên cái hồn thu với sắc lá, gợi lên cảm giác thanh nhẹ, tươi sáng về mùa thu đáng yêu vôcùng
Có thể nói, khổ thơ đầu đã vẽ lên một bức tranh thu đẹp, thơ mộng, thấm một nỗi buồn từ câycỏ đến lòng người, nhưng không ảm đạm, thê lương làm nặng trĩu lòng người
Trang 39Mỗi ngày mỗi đêm đi qua Thu đã về và thu dần dần trôi qua Cảnh vật biến đổi Hoa đã "rụngcành" Tác giả không nói "đôi ba ”, mà lại viết "hơn một" cách dùng số từ ấy cũng là một cáchnói rất mới Trong vườn, màu đỏ (từng chấm nhỏ) đang lấn dần, đã và đang "rũa màu xanh"!Cũng nói về sự biến đổi ấy, trong bài "Cảm thu, tiễn thu” thi sĩ Tản Đà viết:
"Sắc đâu nhuộm ố quan hà Cỏ vùng cây đỏ bóng tà tà dương"
Cây cối bắt đầu rụng lá trơ cành như đang "run rẩy", khẽ "rung rinh" trước những làn gió thulành lạnh, se sắt Khổ thơ thứ hai, chất thơ ấy là sự lay động xôn xao từ cảnh vật, từ hoa lá hơimay mà thấm vào hồn thi sĩ:
"Hơn một loài hoa đã rụng cànhTrong vườn sắc đỏ rũa màu xanh
Những luồng run rẩy, rung rinh lá,Đôi nhánh khô gầy xương mỏng manh"
Các từ láy: "run rẩy", "rung rinh”, "mỏng manh" là những nét vẽ thần diệu gợi tả cái run rẩy,cái rùng mình của cây lá buổi chiều thu Nghệ thuật sử dụng các phụ âm , “r" (rụng, rũa, runrẩy, rung rinh) và phụ âm "m" (một, màu, mỏng manh) với dụng ý thẩm mĩ trong gợi tả và biểucảm đặc sắc Đó cũng là một nét mới trong thi pháp của Xuân Diệu
Khổ thơ thứ 3, thi liệu vừa hiện thực vừa ước lệ tượng trưng, vừa kế thừa vừa cách tân sángtạo Cũng có trăng nhưng là "nàng trăng tự ngẩn ngơ" trên bầu trời Không nói là trăng non đầutháng, không hỏi "Trăng bao nhiêu tuổi trăng già" mà lại nói là "nàng trăng" Một hình ảnh đẹp,thơ mộng tả vầng trăng thu Cũng ó núi, có non, lúc ẩn lúc hiện, "khởi sự" nhô lên cuối chântrời xa, qua lớp sương thu mờ Trăng và núi trong thơ Xuân Diệu chứa đựng cái hồn thu muônthuở của xứ sở quê hương, gần gũi và thân thuộc từ bao đời nay được vẽ lên thật đẹp:
"Thỉnh thoảng nàng trăng tự ngẩn ngơNon xa khởi sự nhạt sương mờ "
Hai tiếng "đã nghe", "đã vắng" gợi tả cái không gian bao la, vắng vẻ của những buổi chiều thulành lạnh:
"Đã nghe rét mướt luồn trong gió,
Đã vắng người sang những chuyến đò”
Cấu trúc câu thơ song hành và cách diễn tả cũng rất mới Có chuyển đổi cảm giác giữa xúcgiác và thính giác Như vậy, sự cảm nhận của thi nhân về rét, về gió, về cái xa vắng không chỉbằng giác quan mà còn bằng cả linh hồn nữa Chữ "luồn" đã cụ thể hóa cái rét, cảm nhận được
nó bằng trực giác Rét mướt luồn trong gió thu hiu hắt chứ không phải là gió rét Rõ ràng làchưa rét đậm, rét tê tái, đúng là cái rét, cái lành lạnh những chiều thu, những đêm tàn thu
Khổ cuối là một bức tranh thu tuyệt đẹp Có vẻ đẹp của thiên nhiên, của mây trời, cánh chim
Có vẻ đẹp thiếu nữ Cảnh đẹp, người đẹp mà thoáng buồn mơ hồ mênh mông Mây và cánhchim gợi lên nỗi buồn đẹp chia li như "bèo dạt mây trôi" của tình ca! Thi sĩ đã lấy cái "động"của cánh chim bay, của áng mây chiều trôi để đặc tả cái êm đềm, yên tĩnh của cõi vật và lòngngười:
"Mây vẩn từng không chim bay đi,Khí trời u uất hận chia li"
Trong cái êm đềm, xa vắng ấy hiện lên hình ảnh thiếu nữ "ít nhiều" chưa xác định Buồntương tư, "buồn không nói" Một dáng điệu "tựa cửa nhìn xa", một tâm hồn "nghĩ ngợi gì" rất
Trang 40mơ hồ, xa xăm:
"Ít nhiều thiếu nữ buồn không nói,Tựa cửa nhìn xa, nghĩ ngợi gì"
Là mùa xuân hay mùa thu, là mùa hè hay mùa đông, giữa thiên nhiên trăm sắc nghìn hương
ấy, hình ảnh thiếu nữ đa tình, duyên dáng luôn luôn thấp thoáng qua những vần thơ của XuânDiệu Thi sĩ đa tình nên thiếu nữ cũng đa tình?
"Bên cửa ngừng kim thêu bức gấmHây hây thục nữ mắt như thuyền"
("Nụ cười xuân" - Thơ thơ) Trong chùm thơ thu của Yên Đổ, tình thu buồn thấm thía cô đơn được thể hiện qua hình ảnhmột ông lão, lúc đang "tựa gối ôm cần" trên một chiếc thuyền câu "bé tẻo teo" giữa chiếc ao thu
"lạnh lẽo", lúc là một cụ già đang ngồi uống rượu ngà ngà say trong đêm sâu, có lúc lại là mộtnhà nho đang lặng ngắm cảnh thu, muốn cầm bút đề thơ mà phân vân, lưỡng lự Còn trong thơthu của Xuân Diệu là hình bóng một giai nhân trong tương tư, đang mộng tưởng Đó cũng làmột nét mới nói về mùa thu trong thơ Xuân Diệu Có thể nói trạng thái buồn mơ hồ, buồnkhông rõ nguyên cớ là một nét tâm trạng rất điển hình của hồn thơ Xuân Diệu:
"Ít nhiều thiếu nữ buồn không nói "
Tôi buồn không hiểu vì sao tôi buồn "
Đây mùa thu tới" là một bài thơ thu tuyệt bút của Xuân Điệu Bao nhiêu nét thu là bấy nhiêunét vẽ tài hoa Dáng thu, sắc thu, tình thu đều đẹp mà buồn, bao nên cái hồn thu mênh mang,xao xuyến Đáng yêu nhất là hình ảnh thiếu nữ, một dáng thu yêu kiều mộng tưởng "Tựa cửanhìn xa nghĩ ngợi gì" Một trái tim đa tình, một ngòi bút tài hoa Cách cảm và cách diễn tả rấtmới, rất thơ Đằng sau những sắc thu của đất trời, hoa lá, cây cỏ, của núi xa, của nàng trăng, củalàn gió thu se lạnh, là tiếng thu xôn xao, rung động trong tâm hồn thi sĩ tuổi đôi mươi và tronglòng thiếu nữ tuổi trăng tròn Bài thơ cho ta nhiều ngẩn ngơ say cái hương sắc mùa thu xưa,mùa thu Hà Nội hơn nữa