PHẠM KHƯƠNG DUY (Chủ biên) NGUYỄN THANH HỒNG – TRẦN MỸ HẰNG – TRẦN THỊ THU HÀ VŨ TRỌNG HÙNG – NGUYỄN VĂN LÂM UỶ BAN NHÂN DÂN TỈNH VĨNH PHÚC SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO 7 TỈNH VĨNH PHÚC Tài liệu giáo dục đị[.]
Trang 1PHẠM KHƯƠNG DUY (Chủ biên)NGUYỄN THANH HỒNG – TRẦN MỸ HẰNG – TRẦN THỊ THU HÀ
VŨ TRỌNG HÙNG – NGUYỄN VĂN LÂM
UỶ BAN NHÂN DÂN TỈNH VĨNH PHÚC
SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
7
TỈNH VĨNH PHÚC
Tài liệu giáo dục địa phương
Lớp
Trang 2Câu hỏi gợi ý.
HƯỚNG DẪN SỬ DỤNG TÀI LIỆU
Trang 3LỜI NÓI ĐẦU
Các em học sinh yêu quý!
Tiếp nối những nội dung đã học ở lớp 6, cuốn Tài liệu Giáo dục địa phương
tỉnh Vĩnh Phúc lớp 7 sẽ giúp các em tiếp tục tìm hiểu về quê hương với các lĩnh
vực văn hoá, lịch sử, địa lí, kinh tế, chính sách, xã hội, môi trường,
Trải qua các thời kì lịch sử, cùng với các địa phương khác trong cả nước, Vĩnh Phúc đã lập được nhiều chiến công trong đấu tranh giành độc lập và kháng chiến bảo vệ Tổ quốc Từ khi nước nhà thống nhất đến nay, Vĩnh Phúc
đã đổi mới, phát triển và đạt được nhiều thành tựu đáng tự hào trên tất cả các lĩnh vực kinh tế, văn hoá, xã hội,…
Tài liệu Giáo dục địa phương tỉnh Vĩnh Phúc lớp 7 gồm 7 chủ đề, cung cấp cho
các em những kiến thức về văn hoá, lịch sử, địa lí, kinh tế, chính sách, xã hội, môi trường,… của địa phương Qua các bài học, các em sẽ có thêm hiểu biết, càng thêm yêu quý, tự hào về quê hương mình, đóng góp cho sự phát triển chung của quê hương, đất nước
Tài liệu Giáo dục địa phương Vĩnh Phúc lớp 7 do Ủy ban nhân dân tỉnh Vĩnh Phúc
biên soạn, ban hành, đáp ứng Chương trình Giáo dục phổ thông 2018 của Bộ
Giáo dục và Đào tạo Mong rằng, Tài liệu giáo dục địa phương tỉnh Vĩnh Phúc
lớp 7 sẽ mang lại cho các em những kiến thức khái quát, dễ hiểu, giúp các em
hoàn thành tốt nội dung giáo dục địa phương lớp 7 theo Chương trình giáo dục phổ thông 2018
Chúng tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành tới các tác giả, các Sở, Ban, ngành, địa phương đã cung cấp nguồn tư liệu, các thầy cô giáo, các nhà khoa học, đã đóng góp ý kiến để chúng tôi hoàn thành tài liệu này
Sở Giáo dục và Đào tạo Vĩnh Phúc
Trang 4Chủ đề 4 Đặc điểm dân số và phân bố dân cư ở Vĩnh Phúc 36
Chủ đề 5 Lao động, việc làm và chất lượng cuộc sống
của dân cư tỉnh Vĩnh Phúc
Trang 51 Dù ai đi đâu về đâu
Nhớ về Bàn Giản cướp cầu hội xuân.
2 Tép đầm Vạc, lạc chợ Cói.
3 Có công mài sắt có ngày nên kim.
4 Dù ai đi ngược về xuôi
Nhớ ngày giỗ Tổ mồng Mười tháng Ba.
¾ Nhận biết được những đặc điểm nổi bật về hình thức của tục ngữ, ca dao Vĩnh Phúc
¾ Phân tích, lí giải được những đặc điểm nổi bật của tục ngữ, ca dao Vĩnh Phúc
¾ Viết được đoạn văn nêu cảm nghĩ về một số câu tục ngữ, một bài ca dao của Vĩnh Phúc
¾ Có tình yêu, ý thức giữ gìn, sử dụng hiệu quả tục ngữ, ca dao Vĩnh Phúc; hình thành và bồi dưỡng niềm tự hào, tình yêu quê hương, đất nước
Mục tiêu
Trang 6A Tục ngữ của Vĩnh Phúc
Văn bản
1 Tam Đảo đội mũ, nước lũ sẽ về
2 Mưa đồng Bay vừa trông vừa chạy
Mưa Tam Đảo bảo nhau đi cày
3 Động mây Độc Tôn, vác nồi rang thóc
Động gió núi Sóc, đổ thóc ra phơi
4 Lúa đồng Oai, khoai đồng Bầu
2 Viết đoạn văn phân tích từng câu tục ngữ theo những nội dung sau:
– Nghĩa của câu tục ngữ
– Cơ sở thực tiễn của kinh nghiệm nêu trong câu tục ngữ (Câu tục ngữ nhắc đến tên địa danh nào ở Vĩnh Phúc? Địa danh ấy có điều gì đặc biệt?)
– Giá trị kinh nghiệm mà câu tục ngữ thể hiện?
B Ca dao của Vĩnh Phúc
Văn bản
1 Sông Lô một dải trong ngần
Thảnh thơi ta rũ bụi trần cũng nên
Trang 72 Kẻ Rưng đi bán cá con
Kẻ Cánh gánh đất nỉ non nặn nồi
Kẻ Tự gánh đá nung vôi
Kẻ Rau nấu rượu cho người ta mua
3 Nón em mua ở chợ Giang
Hôm nay đi chợ gặp chàng cùng vui
Nón em che gió che trời
Che sao Bắc Đẩu, che người tri âm
Đọc - hiểu văn bản
1 Hình ảnh của quê hương Vĩnh Phúc được nhắc đến trong bài 1 là gì? Thông qua
đó, tình cảm của nhân vật trữ tình được thể hiện như thế nào? Em hãy nêu cái hay của ngôn ngữ, hình ảnh, âm điệu của bài ca dao này Tìm những bài ca dao cũng nhắc đến các địa danh của Vĩnh Phúc tương tự như trong bài này
2 Bài 2 là lời của người lao động Vĩnh Phúc nói về các làng nghề thủ công truyền thống xưa Viết đoạn văn về tình yêu, niềm tự hào với các sản phẩm của quê hương Vĩnh Phúc được thể hiện trong bài ca dao
3 Trong bài 3, tình cảm đôi lứa được thể hiện tinh tế, ý nhị qua hình ảnh sản phẩm đặc trưng tạo nên nét văn hóa nổi bật của Vĩnh Phúc Theo em, sản phẩm đặc trưng
đó là gì? Cái hay trong cách thể hiện đó là gì?
4 Những biện pháp nghệ thuật nào được sử dụng trong cả 3 bài ca dao trên?
1 Chọn một số câu tục ngữ, ca dao của Vĩnh Phúc mà em thích và thực hiện các nhiệm vụ sau:
a) Nêu nhận xét của em về cách sử dụng ngôn ngữ, hình ảnh, nhịp điệu trong các câu tục ngữ, ca dao mà em đã chọn
b) Phân tích nội dung, ý nghĩa của câu tục ngữ, ca dao mà em đã chọn
Trang 82 Tìm một số câu tục ngữ, ca dao khác có nội dung tương tự với câu tục ngữ,
ca dao em thích ở trên theo gợi ý:
STT Câu tục ngữ, ca dao em thích Câu tục ngữ, ca dao có nội dung tương tự
3 Có ý kiến cho rằng: “Những kinh nghiệm, tri thức dân gian trong kho tàng tục ngữ,
ca dao ở địa phương không còn phù hợp với xã hội hiện nay” Em có đồng ý với ý kiến
Trang 9Vĩnh Phúc là vùng đất có bề dày lịch sử Trải qua hàng nghìn năm dựng nước
và giữ nước, con người và vùng đất nơi đây đã để lại một kho tàng di sản văn hoá phong phú và đặc sắc Nhân dân Vĩnh Phúc đã gửi gắm những kinh nghiệm sống,
tư tưởng, tình cảm của mình trong tục ngữ, ca dao
1 Nội dung của tục ngữ, ca dao Vĩnh Phúc
Vĩnh Phúc cũng có những đồng bằng trù phú, là niềm tự hào của con người nơi đây:
Nhất Tam Đái, nhì Khoái Châu Nam Chân, bắc Dũng, đông Kỳ, tây Lạc.
Các huyện thuộc phủ Tam Đái thời Lê, nhất là vùng Vĩnh Tường, Yên Lạc là đồng bằng màu mỡ, là món quà vô giá mà thiên nhiên ban tặng cho con người
b) Ca dao về con người
Trong tục ngữ, ca dao của Vĩnh Phúc có rất nhiều câu ca ngợi vẻ đẹp, tài năng của con người Mỗi vùng đất, miền quê đều mang đậm dấu ấn của con người nơi đây:
TÌM HIỂU THÊM
Trang 10Con gái kẻ Điền Như tiên trời giáng Con trai kẻ Quảng Như hoẵng lạc rừng.
Kẻ Điền (hoặc Bố Điền) là một làng nay thuộc xã Vũ Di, huyện Vĩnh Tường Con gái nơi đây nổi tiếng xinh đẹp, thuỳ mị, nết na Kẻ Quảng (hay Quảng Cư), xưa là Quảng A, một làng nay thuộc xã Tuân Chính, huyện Vĩnh Tường Con trai vùng này có tiếng tài giỏi, nhanh nhẹn
Ca dao cũng là nơi để người con trai, con gái Vĩnh Phúc thề hẹn tình yêu đôi lứa Trong những câu ca giao duyên cũng thấp thoáng hình bóng quê hương với chiếc nón Dịch Đồng - niềm tự hào của một vùng quê Vĩnh Phúc:
Tay cầm chiếc nón Dịch Đồng Hỏi chàng có biết má hồng em đâu Nắng mưa chiếc nón đội đầu
Sá nào chàng giữ cho nhau bận lòng?
Dịch Đồng - một làng nay thuộc xã Đồng Cương, huyện Yên Lạc, tỉnh Vĩnh Phúc, trước đây có nghề làm nón
c) Tục ngữ, ca dao về lao động, sản xuất
Về sản xuất nông nghiệp
Kho tàng tục ngữ, ca dao của người Việt có rất nhiều câu phản ánh kinh nghiệm của nhân dân lao động Người nông dân Vĩnh Phúc cũng dựa trên sự quan sát tự nhiên mà tổng kết thành những kinh nghiệm, hiểu biết có tác dụng thiết thực đối với công việc sản xuất:
Tam Đảo đội mũ, nước lũ tràn về.
Theo sách Địa chí Vĩnh Phúc: Vào mùa mưa, thấy mây đen dày đặc trên đỉnh núi
Tam Đảo thì biết là nước lũ sẽ đổ về Nước lũ chia làm hai luồng Một luồng qua thôn
Xạ Hương (xã Minh Quang, huyện Tam Đảo) và thôn Thanh Lanh (xã Trung Mỹ, huyện Bình Xuyên) theo sông Cầu Bòn tràn về sông Hương Canh (huyện Bình Xuyên), một luồng theo sông Sơn Tang (sông Phan) đổ vào Đầm Vạc (thành phố Vĩnh Yên), có thể làm ngập úng cả vùng lòng chảo nam Bình Xuyên - bắc Yên Lạc
Trang 11Động mây Độc Tôn, vác nồi rang thóc Động gió núi Sóc, đổ thóc ra phơi.
Vùng Kim Anh, Đa Phúc (huyện Sóc Sơn, Thành phố Hà Nội) thấy mây đen đỉnh núi Độc Tôn là sẽ có mưa, thấy gió núi Sóc (còn gọi là núi Vệ Linh) là trời sẽ nắng
về những người thợ xây, thợ đắp tượng
Nhiều làng nghề truyền thống nổi tiếng của Vĩnh Phúc đã đi vào tục ngữ, ca dao hồn hậu, chân thật như chính cuộc sống và con người nơi đây:
Kẻ Rưng đi bán cá con
Kẻ Cánh gánh đất nỉ non nặn nồi
Kẻ Tự gánh đá nung vôi
Kẻ Rau nấu rượu cho người ta mua.
Kẻ Rưng nay là thị trấn Tứ Trưng (huyện Vĩnh Tường), Kẻ Cánh là thị trấn Hương Canh (huyện Bình Xuyên), Kẻ Tự ở xã Đại Tự; Kẻ Rau là thôn Cựu Ấp, xã Liên Châu đều
ở huyện Yên Lạc Mỗi địa danh đều nổi tiếng với những nghề thủ công truyền thống đặc trưng, lâu đời của mình
Về thương nghiệp
Nghề buôn bán và kinh nghiệm giao thương đã được người Vĩnh Phúc xưa đúc kết trong rất nhiều tục ngữ, ca dao:
Bỏ con bỏ cháu, không ai bỏ mồng Sáu chợ Rưng.
Chợ Rưng nằm ở thị trấn Tứ Trưng, huyện Vĩnh Tường Nơi đây từng là chợ chính của các
xã phía nam huyện Vĩnh Tường (Tứ Trưng, Phú Đa, Vũ Di, ) Chợ Rưng có nhiều hàng hoá phong phú, đặc biệt gần đầm Rưng nên còn có nguồn thuỷ sản rất đa dạng và tươi ngon
Trang 12Thậm chí, trong lời tâm sự của trai gái lứa đôi cũng thấp thoáng hình bóng của những phiên chợ:
Nón em mua ở chợ Giang Hôm nay đi chợ gặp chàng cùng vui Nón em che gió che trời Che sao Bắc Đẩu, che người tri âm.
Chợ Giang nằm ở trung tâm thị trấn Thổ Tang, huyện Vĩnh Tường Nơi đây được mệnh danh là “thủ phủ hàng hóa” lớn nhất của khu vực miền Bắc với nhiều loại mặt hàng, đặc biệt là các mặt hàng nông sản, thủ công nghiệp
d) Tục ngữ, ca dao về phong tục, lễ hội
Về đình, chùa
Hỡi ai qua bến đò Then Dừng chân mà ngắm tháp nghiêng bên đường.
Câu ca dao trên nhắc đến một công trình kiến trúc uy nghi, cổ kính có từ thế kỉ XIII,
đó là tháp Bình Sơn ở chùa Vĩnh Khánh thuộc thị trấn Tam Sơn, huyện Sông Lô Tháp còn có tên gọi khác là tháp Then Đây được coi là niềm tự hào về kiến trúc chùa, tháp của người dân Vĩnh Phúc nói riêng và người dân cả nước nói chung
Về lễ hội
Vĩnh Phúc là nơi có nhiều lễ hội văn hoá cổ truyền đặc sắc Nhiều câu tục ngữ được sưu tầm ở địa phương có nhắc đến điều này
Bơi Me, vật Triệu, hát làng Dầu.
Làng Me hay Diễm Xuân thuộc xã Yên Lập (huyện Vĩnh Tường) có hội đua chải vào tháng Năm Xã Triệu Đề (huyện Lập Thạch) có lò vật nổi tiếng Làng Dầu tức phường Dữu Lâu (thành phố Việt Trì) nổi tiếng về hát ví
Hình ảnh lễ hội còn đi vào ca dao:
Dù ai đi đâu về đâu Nhớ về Bàn Giản cướp cầu hội xuân.
Bàn Giản là một xã thuộc huyện Lập Thạch, tỉnh Vĩnh Phúc Nơi đây vào ngày 7 tháng Giêng âm lịch hằng năm, lễ hội đả cầu cướp phết được tổ chức Đây là một
Trang 13trong những lễ hội truyền thống độc đáo, mang bản sắc văn hóa của người dân Bàn Giản nói riêng và của tỉnh Vĩnh Phúc nói chung.
2 Đặc điểm nghệ thuật nổi bật của tục ngữ, ca dao Vĩnh Phúc
a) Ngôn ngữ trong sáng, giản dị, mộc mạc, dễ hiểu
Những đặc điểm nghệ thuật của tục ngữ, ca dao Vĩnh Phúc biểu hiện một cách tập trung đặc điểm của ngôn ngữ Việt Nam, trước hết là ở ngôn ngữ trong sáng, giản dị, mộc mạc, dễ hiểu Ngôn từ như được đi thẳng từ cuộc sống lao động dân dã thường ngày vào lời hát, tục ngữ, ca dao Nó phản ánh đời sống tâm hồn chân chất, mộc mạc của người lao động bình dân xưa:
Bích Chu đan cót đan nong, Vân Giang nấu rượu, làng Thùng đánh dao.
Nước Thanh Lanh, ma Kẽm Dõm.
c) Yếu tố địa phương rõ nét
Điểm đặc biệt của tục ngữ, ca dao Vĩnh Phúc là mang đậm tính địa phương Dễ thấy ở đây sự xuất hiện nhiều địa danh, tên đất, tên làng đặc trưng của tỉnh Mỗi địa danh lại gắn với một đặc điểm riêng không thể trộn lẫn:
Tép đầm Vạc, lạc chợ Cói.
Hoặc:
Nghinh Tiên chắp chạc quay thừng Trung Nguyên thúng mủng đã từng có nhau.
* Các thông tin, văn bản sử dụng trong Chủ đề 1 được tham khảo từ sách Dư địa chí Vĩnh Phúc, phần
Văn hoá – xã hội.
Trang 14Theo em, trong những câu ca dao dưới đây, câu nào liên quan đến phong tục cưới hỏi? Hãy kể tên một số nghi lễ cưới hỏi mà em biết.
1 Miếng trầu ai rọc, ai têm
Miếng cau ai bổ mà nên vợ chồng.
2 Miếng trầu thật tay em têm
Trầu phú, trầu quý, trầu nên vợ chồng
Trầu này khấn nguyện tơ hồng
Trầu này kết nghĩa loan phòng từ đây.
4 Trầu em, trầu quế, vừa vôi
Anh ăn một miếng kết đôi vợ chồng.
5 Trầu cay mà cuống không cay
Trách người bạn cũ, thẹn thay với người.
Trang 15Trong đời sống hôn nhân của người Việt Nam, khi trai gái lấy nhau, người Kinh (Việt) gọi là đám cưới, lễ cưới hay là cưới hỏi Cưới hỏi là một nghi lễ không thể thiếu tại rất nhiều quốc gia trên thế giới hiện nay Tùy vào mỗi nước, mỗi vùng miền, mỗi dân tộc sẽ có những nghi thức cưới hỏi riêng Tại Việt Nam, tục lệ cưới hỏi là nét đẹp văn hóa được lưu truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác và là sự kiện đánh dấu để các cặp đôi bước vào cuộc sống hôn nhân Việt Nam có 54 dân tộc anh em, mỗi dân tộc lại có những cách tổ chức cưới hỏi theo phong tục riêng của dân tộc mình.
Từ xưa, việc tổ chức cưới hỏi thực hiện đầy đủ các nghi lễ và thủ tục theo quy ước của từng dân tộc Hiện nay, một số nghi lễ, thủ tục chưa phù hợp hoặc vì điều kiện hoàn cảnh không thực hiện được đã giản lược đi, chỉ giữ lại một số nghi lễ như dạm ngõ, ăn hỏi, đón dâu Việc chuẩn bị đầy đủ các nghi thức trong các nghi lễ được quan tâm và thực hiện với mong muốn cô dâu chú rể có cuộc sống gia đình luôn luôn vui
vẻ, ấm no, hạnh phúc, con cái đủ đầy
Ngày xưa, trai gái kết hôn rất sớm Con trai, con gái đến tuổi 15 – 17 đã được dựng
vợ gả chồng, có dân tộc con trai 8 tuổi đã được bố mẹ lấy vợ cho Con trai, con gái nếu ngoài 20 tuổi mà vẫn chưa lấy vợ, lấy chồng thì bị coi là ế và bị dân làng bàn tán Tuy nhiên, người Cao Lan lại không dựng vợ gả chồng cho con sớm Độ tuổi kết hôn thông thường của con gái là 18, con trai là 20 do họ quan niệm 18 tuổi trở lên mới đủ
tư chất làm cha mẹ Hiện nay, người dân ở Vĩnh phúc nói riêng và người dân Việt Nam nói chung thường kết hôn theo quy định của Luật Hôn nhân và Gia đình: nam đủ 20 tuổi trở lên, nữ đủ 18 tuổi trở lên Dưới đây là phong tục cưới hỏi còn lưu truyền đến ngày nay của một số dân tộc ở tỉnh Vĩnh Phúc
1 Phong tục cưới hỏi của người Kinh (Việt)
Việc cưới hỏi của người Kinh ở Vĩnh Phúc thường trải qua các nghi lễ sau:
Lễ dạm hỏi: Lễ này người dân ở một số vùng thuộc tỉnh Vĩnh Phúc vẫn gọi một
cách nôm na là “cành cau dấp ngõ” Đại diện nhà trai cùng người làm mối mang trầu cau đến nhà gái để chính thức ngỏ lời Nhà gái nhận trầu cau tức là ưng thuận
Lễ vấn danh: Trước đây, lễ vấn danh là lễ nhà
trai đến nhà gái để hỏi tên, tuổi cô gái (có nơi
gộp cả lễ dạm hỏi và lễ vấn danh cùng một lúc,
gọi là lễ dạm hỏi) Hai bên gia đình sẽ thống
nhất với nhau về ngày giờ tổ chức hôn lễ và lễ
ăn hỏi, số lượng tráp lễ theo yêu cầu của nhà gái,
địa điểm đặt tiệc, dịch vụ, cách thức tổ chức,…
Lễ vật sử dụng thường là trầu cau, thuốc lá, chè
khô, bánh kẹo, hoa quả được chuẩn bị theo số
lượng chẵn
Hình 2.2 Tráp chạm ngõ hiện nay của
Trang 16Lễ ăn hỏi: Sau khi nhà gái nhận lời, nhà trai chọn ngày lành tháng tốt để chuẩn bị
lễ ăn hỏi Ngày xưa, lễ ăn hỏi gồm: một buồng cau to, chè khô, thuốc lá, tiền thách cưới, gạo nếp và gà Hiện nay, lễ ăn hỏi của nhà trai là các tráp đựng trầu cau, hoa quả, rượu, chè khô, thuốc lá, bánh kẹo,… và tiền thách cưới theo yêu cầu của nhà gái Số tráp ăn hỏi phải là số lẻ Thời gian từ lúc ăn hỏi đến lúc cưới do hai bên gia đình quyết định Sau ngày ăn hỏi, chàng trai được coi như con rể trong gia đình và phải có bổn phận với nhà gái như đi sêu, lễ tết hoặc đến làm giúp khi gia đình có việc
Lễ xin cưới (nạp tài): Đoàn nhà trai gồm có bố chú rể hoặc chú bác ruột chú rể và
một số người thân mang lễ vật đến nhà gái để làm lễ cúng gia tiên Mục đích của lễ này là bàn về đồ thách cưới và cách thức, trình tự, ngày giờ tổ chức cưới Ngày xưa, trong lễ này, nhà gái thông báo khoản tiền “cheo” nhà trai phải nộp cho làng, xã của nhà gái Hiện nay, khoản tiền “cheo” này đã không còn nữa
Lễ cưới: Đây là lễ đón dâu hay còn gọi là “nghênh hôn” Lễ cưới ngày xưa bao giờ
cũng kèm theo đồ dẫn cưới Đồ dẫn cưới có thể được chuyển đến nhà gái từ chiều hôm trước, do một số nam nữ thanh niên chưa lập gia đình đảm nhiệm Đồ dẫn cưới nhiều hay ít tùy thuộc vào gia cảnh nhà chú rể Ngày nay không còn phong tục này nữa Vào ngày cưới, đoàn đi rước dâu gồm có chú rể và ông bà, chú bác nội ngoại, anh chị em, bạn bè của chú rể Trong đoàn có một người cao niên là họ hàng bên nội, gia đình phải song toàn được cử làm trưởng đoàn đến nhà gái xin rước dâu Khi mọi thủ tục nghi lễ bên nhà gái đã hoàn tất, đại diện họ nhà trai xin phép được đưa cô dâu
về nhà chồng Đoàn đưa dâu về nhà chồng không có mẹ cô dâu mà chỉ có họ hàng, anh chị em và bạn bè của cô dâu Khi đón dâu hoặc rước dâu về, nhà trai phải chờ đến giờ tốt mới được xuất hành Theo lệ cũ, người đầu tiên cô dâu gặp khi bước vào nhà chồng là mẹ chồng, mẹ chồng dắt con dâu vào nhà và thực hiện nghi thức lễ gia tiên Sau đó, chú rể dẫn cô dâu đi mời trầu, mời thuốc lá, bánh kẹo và giới thiệu các
cụ bên nhà trai Lúc này, bố mẹ, anh chị em và họ hàng tặng quà cưới cho cô dâu, chú
rể Tuy nhiên, có nơi khi con dâu vừa vào đến nhà, mẹ chồng cầm chiếc bình vôi tạm
Hình 2.3 Tráp ăn hỏi nhà trai mang sang nhà gái hiện nay
ở huyện Lập Thạch
Trang 17lánh sang hàng xóm ít phút Khi con dâu làm lễ gia tiên xong thì mẹ chồng mới quay
về nhà mình Sau nghi thức cưới, nhà trai mời khách dự tiệc cùng với gia đình.
Sau lễ cưới còn có tục chú rể đưa cô dâu về nhà gái để lại mặt
Hãy lập sơ đồ trình tự các bước theo phong tục cưới hỏi của người Kinh ở tỉnh Vĩnh Phúc.
2 Phong tục cưới hỏi của người Sán Dìu
Tục lệ cưới hỏi cổ truyền của người Sán Dìu phong phú Chủ động trong việc cưới hỏi là phía nhà trai Các nghi thức từ khi dạm hỏi đến ngày cưới tuần tự trải qua nhiều
bước: Lễ xin lá số (loổng nén sang) và so tuổi, lễ báo cưới (hỵ hạ thênh) do ông mối
đảm nhận; lễ xem mặt (hỵ mong men), lễ ăn hỏi (hỵ mun nghén cạ), lễ sang bạc (hỵ
cộ nghén), lễ chọn ngày cưới (tháy nhít tan), lễ báo ngày cưới (cộ nhít tan), lễ gánh gà (tam cay bạo nhít), lễ nộp cheo (nạp cheo).
Sau lễ nộp cheo, để tiến tới lễ cưới chính thức, nhà trai, nhà gái đều có sự chuẩn
bị chu đáo, bởi đây là bước quan trọng nhất trong quá trình cưới hỏi Người Sán Dìu thường sắm sửa lễ vật, chọn ngày cưới, chọn người đi đón dâu theo số chẵn Đồng bào cho rằng số chẵn mang ý nghĩa tốt đẹp vì số chẵn là số sinh, mang lại điều tốt đẹp cho mọi người
Lễ cưới (sênh ca chíu)
Lễ cưới của người Sán Dìu ngày xưa kéo dài 5 ngày
Ngày thứ nhất: Nhà trai, đại diện là quan lang trưởng khiêng lợn sang nhà gái và
giúp việc tổ chức đám cưới cho nhà gái Buổi tối, quan lang trưởng, ông mối và một
số quan lang ở lại nhà gái hát “soọng cô” và ngủ lại
Hình 2.4 Tráp lễ ăn hỏi hiện nay của người Sán Dìu, tỉnh Vĩnh Phúc
Trang 18Ngày thứ hai: Là ngày chính đám của nhà gái Nhà trai dẫn lễ sang nhà gái Các
đồ lễ đều dán giấy đỏ Sau bữa cơm trưa, đoàn đón dâu nhà trai xuất phát Thành phần đoàn đón dâu gồm: quan lang khiêng lợn lễ, quan lang gánh rượu, quan lang
út (người dẫn lễ) Khi đến nhà gái, nhà trai phải hát giải được các câu đố của nhà gái (gọi là hát xin mở cổng) thì nhà trai mới được vào nhà Khi nhà trai vào trong nhà, ông trưởng họ nhà gái thắp hương khấn vái tổ tiên và cho phép nhà trai dâng lễ vật lên bàn thờ Sau đó, nhà trai ở lại ăn uống với nhà gái và hát “khai hoa tửu” Sau khi kết thúc màn đối đáp “khai hoa tửu”, một người đại diện cho họ ngoại của cô dâu đứng
ra hát “soọng cô” được gọi là “họ nhà mẹ đố chuyện” và hát quan lang (hát đối đáp)
Ngày thứ ba: Ngày chính đám ở nhà trai và cũng là ngày đón dâu Buổi sáng,
gia chủ mời trai gái trong bản đến dựng rạp, kê bàn ghế, trang trí nhà cửa Đồng bào Sán Dìu thường đưa dâu vào buổi chiều, nhưng cũng có trường hợp do phụ thuộc theo giờ, ngày, tháng, năm sinh của cô dâu nên cô dâu phải xuất giá vào buổi sáng Đến giờ xuất giá, cô dâu bước qua ngưỡng cửa, anh trai ruột hoặc anh trai họ cõng trên lưng đi ra khỏi giọt gianh nhà thì đặt xuống
Hình 2.5 Nhà trai mang lễ vật sang nhà gái
Hình 2.6 Anh trai cõng cô dâu ra khỏi nhà
Trang 19Trước khi cô dâu qua giọt gianh về nhà chồng, quan lang trưởng có nhiệm vụ cầm sẵn
ô che đầu cho mọi người đi qua giọt gianh Khi ra khỏi giọt gianh, cô dâu được phủ lên đầu hai chiếc khăn dài màu hồng và đội một chiếc nón, có em gái dìu hai bên, đi từng bước chậm chạp, dùng dằng và khóc thảm thiết để tỏ lòng quyến luyến cha mẹ, nhớ thương người thân Theo tập quán, chú rể không đi đón dâu Do quan niệm cô dâu đến nhà chồng khi mặt trời lặn sẽ tránh được rủi ro trong cuộc sống nên đoàn đưa dâu phải chờ ở ngoài làng, đợi đến khi tối hẳn mới vào nhà để thực hiện các nghi lễ và dự tiệc tối Sau khi ăn cỗ, đại diện thanh niên nam nữ nhà trai có cơi trầu xin phép các cụ ông, cụ bà đại diện nhà gái được hát “soọng cô” đám cưới với mong muốn chúc mừng tổ tiên, gia chủ, cô dâu, chú rể
Ngày thứ tư: Buổi sáng tại nhà trai, cuộc hát “soọng cô” bước vào giai đoạn kết thúc
Cũng trong buổi sáng này, nhà trai vẫn tổ chức tiệc cưới giống như tối hôm trước Sau khi ăn cỗ, nhà trai bố trí cho cô dâu nhận họ hàng nhà chồng và nhận lời chúc phúc cùng lời dạy bảo của các bậc bề trên
Ngày thứ năm: Nhà trai tổ chức cho cô dâu về nhà bố mẹ đẻ và làm lễ lại mặt ông
bà mối Đoàn đi gồm: mẹ chồng, bà bá, cô dì, chị em gái của chồng cùng cô dâu và phù dâu (chú rể không cùng cô dâu đi lại mặt)
Hiện nay, nghi lễ cưới hỏi của người dân tộc Sán Dìu ở Vĩnh Phúc đã có nhiều thay đổi theo nếp sống mới Một số bước tiến hành lễ cưới đã bỏ qua hoặc gộp lại, các thủ tục và lễ vật cũng được giản lược Lễ vật thách cưới như trâu, lợn, gà, có rất ít người
sử dụng mà thay bằng tiền mặt, có nơi lễ vật trong nghi lễ cưới xin giống với lễ vật của người Kinh Lễ đón dâu được tiến hành vào ban ngày Vai trò của ông mối bị bỏ qua Thời gian tổ chức đám cưới được rút gọn lại từ 1 đến 2 ngày Trong ngày cưới, hầu như cô dâu và chú rể không mặc trang phục truyền thống mà thay vào đó cô dâu mặc váy cưới, chân đi giày cao gót, chú rể mặc quần âu, áo vest, chân đi giày Tây Hát
“soọng cô” trong đám cưới hầu như không còn mà thay vào đó là hát nhạc mới hoặc phát bài hát qua loa đài, băng đĩa
Hình 2.7 Đoàn đưa đón dâu của hai họ về nhà trai
Trang 20Hãy lập sơ đồ trình tự các bước theo phong tục cưới hỏi của người Sán Dìu ở tỉnh Vĩnh Phúc.
3 Phong tục cưới hỏi của người Cao Lan 1
Về thủ tục cưới hỏi, người Cao Lan ngày xưa trải qua những nghi lễ sau:
Chọn người làm mối (chọn mòi): Sau khi gia đình và họ hàng quyết định cho một
đôi nam nữ lấy nhau thì nhà trai sẽ chọn và nhờ người mai mối Với người Cao Lan, người làm mối có trách nhiệm giúp đỡ đôi vợ chồng trẻ suốt đời Sau khi đám cưới được tổ chức, cô dâu và chú rể nhận vợ chồng ông mối là bố mẹ nuôi Khi đôi vợ chồng này có con thì các con của họ gọi ông bà mối là ông tháu, bà tháu Khi ông bà mối qua đời, hai vợ chồng sẽ cúng tế và để tang như bố mẹ đẻ Hôn nhân của người Cao Lan bền vững, rất hiếm có trường hợp vợ chồng ly dị
Lễ dạm hỏi (hoi mạc): Khi người con trai đồng ý thì cha mẹ chàng trai nhờ ông mối
mang lễ vật đến nhà gái để dạm hỏi và xin ngày tháng năm sinh của cô gái để so tuổi với chàng trai xem có hợp nhau không Nếu hai người hợp nhau thì sẽ tiến hành các bước tiếp theo
Lễ ăn hỏi (phạn ngằn): Sau khi chọn ngày lành tháng tốt, nhà trai nhờ ông mối và một cậu
thiếu niên tầm 14 – 15 tuổi gánh lễ vật sang nhà gái Lễ vật gồm có 1 con gà thiến, 12 chiếc bánh giày, 1 chai rượu và trầu cau Trong lễ ăn hỏi, ông trưởng họ nhà gái sẽ thách cưới theo tục lệ
Hẹn ngày cưới (hiền nghền): Sau lễ ăn hỏi, theo đề nghị của nhà gái, nhà trai nhờ thầy
cúng chọn ngày để tổ chức đám cưới Sau khi chọn được ngày, nhà trai nhờ ông mối đến nhà gái để thông báo ngày cưới và chuẩn bị lễ nộp cheo cho làng nhà gái
Lễ cưới: Người Cao Lan gọi đám cưới ở nhà trai là “đám au lìu” (đám lấy dâu) và gọi đám
cưới nhà gái là “đám hai lực thao” (đám gả con gái) Đám cưới bên nhà gái thường tổ chức trong hai ngày (ngày hôm trước và ngày nhà trai đến đón dâu); công việc chuẩn bị cũng như nghi lễ đơn giản, không phức tạp như nhà trai Người Cao Lan quy ước, đi đón dâu, đưa dâu đều phải theo con đường chính Trên đường đi, nếu gặp trẻ chăng dây ngang đường thì chú rể phải đưa tiền hoặc kẹo để chúng thu dây lại, không được tự ý cắt dây Trong quá trình đón dâu, nhà trai và nhà gái thường xuyên hát sình ca Ngày đón dâu, nhà trai trao lễ vật thách cưới cho nhà gái Nhận lễ vật xong, nhà gái dâng lên mâm lễ cúng gia tiên và thầy cúng thắp hương cúng báo tổ tiên Đoàn đón dâu tập trung trước bàn thờ tổ tiên nhà gái, dưới sự hướng dẫn của ông mối, chàng rể vái lạy tổ tiên và bố mẹ vợ Lễ vái
xong, ông mối đại diện cho nhà trai có đôi lời với nhà gái, tiếp đó ông ao đại diện cho nhà
gái phát biểu đáp lễ nhà trai Nghi lễ kết thúc, mọi người cùng ăn uống vui vẻ Sáng sớm hôm sau, nhà trai bày mâm cỗ lên bàn thờ để thầy cúng làm lễ cúng gia tiên, báo cáo với
tổ tiên rằng gia đình có thêm một thành viên mới Sau lễ cưới, cô dâu về nhà bố mẹ đẻ thực hiện nghi thức “lại mặt”, lúc này đám cưới coi như đã hoàn tất
1 Người Cao Lan là một nhánh của dân tộc Sán Chay.
Trang 21Phong tục cưới hỏi của người Cao Lan ở Vĩnh Phúc thường có những nghi lễ nào? Trong đó, nghi lễ nào không thể bỏ qua?
Hiện nay, nghi lễ cưới hỏi của người Cao Lan cũng như của người Sán Dìu đều giản lược đi nhiều nghi thức để bớt phần rườm rà Việc hát Sình ca trong đám cưới cũng bị mai một nhiều, các nghi thức không còn tuân thủ đầy đủ theo các bước trên, trang phục cưới và lễ vật cũng bị ảnh hưởng theo phong cách của người Kinh, đặc biệt là khi cô dâu, chủ rể làm đám cưới với người dân tộc khác
4 Quy định thực hiện nếp sống văn minh trong việc cưới của Ủy ban nhân dân tỉnh Vĩnh Phúc hiện nay
Ngày 10/01/2019, Ủy ban nhân dân tỉnh đã ra quyết định số 02/2019/QĐ-UBND
về Quy định thực hiện nếp sống văn minh trong đó có quy định các thủ tục quy định hoặc khuyến khích trong nghi lễ cưới hỏi theo nếp sống mới như:
– Có Giấy chứng nhận kết hôn trước khi tổ chức cưới
– Tổ chức đám cưới trong 1 ngày, với lễ ghi đơn giản, tiết kiệm phù hợp với phong tục, tập quán, truyền thống tốt đẹp của địa phương, tôn giáo, dân tộc và hoàn cảnh của hai gia đình
– Tổ chức tiệc cưới vào thời gian thích hợp như ngày cuối tuần, giờ ăn trưa hoặc tối Không mời thuốc lá trong nghi lễ
– Khách mời tổ chức trong phạm vi gia đình, dòng họ, hàng xóm, bạn bè, tránh mời tràn lan
– Trang phục cô dâu, chú rể mặc lịch sự, phù hợp với hoàn cảnh kinh tế gia đình
và tập quán địa phương Khuyến khích cô dâu chú rể, gia đình, dòng họ, bạn bè, làng xóm mặc trang phục truyền thống hoặc trang phục dân tộc mình trong ngày cưới.– Trang trí lễ cưới phù hợp, không cầu kì, phô trương Âm nhạc trong đám cưới lành mạnh, vui tươi Âm thanh không vượt quá độ ồn cho phép và tắt nhạc từ sau 22 giờ đêm đến 06 giờ sáng
Trang 22Dựa vào thông tin trong bài và hiểu biết của bản thân, em hãy:
1 Nêu điểm giống và khác nhau về phong tục cưới hỏi của người Kinh, người Sán Dìu và người Cao Lan trên địa bàn tỉnh Vĩnh Phúc
Trang 23Bước 1: Sưu tầm và tìm hiểu các tư liệu, hình ảnh, nghi lễ,… về
phong tục cưới hỏi ở địa phương em
Bước 2: Sắp xếp hình ảnh các nghi lễ trong đám cưới theo trình
tự từ trước đến sau
Bước 3: Chia sẻ
– Kể tên các nghi lễ trong đám cưới xưa và nay
– Nhận xét nghi lễ nào thể hiện nét đẹp văn hoá, nghi lễ nào
không còn phù hợp với xã hội hiện nay Những thủ tục, nghi lễ
nào cần bỏ
Sưu tầm và sắp xếp các tư liệu, hình ảnh về phong tục cưới hỏi của các dân tộc ở tỉnh Vĩnh Phúc Trao đổi, chia sẻ với các bạn về các phong tục tập quán đó
Các thông tin trong Chủ đề 2 được tham khảo từ các nguồn tư liệu sau:
1 Nguyễn Xuân Kính, Phan Đăng Nhật (2011), Kho tàng ca dao người Việt, 2 tập, Nxb Văn hóa -
Thông tin và Trung tâm Văn hoá ngôn ngữ Đông Tây xuất bản.
2 Lâm Quý (2009), Văn hoá các dân tộc thiểu số Vĩnh Phúc, Sở Thông tin và Truyền thông xuất bản.
3 Nguyễn Ngọc Thanh (2012), Địa chí Vĩnh Phúc, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội.
Trang 241 Khái quát bối cảnh lịch sử, kinh tế và đời sống văn hóa vùng đất Vĩnh phúc giai đoạn từ thế kỉ X – XVI.
1.1 Vĩnh Phúc thời Ngô – Đinh – Tiền Lê
Sau chiến thắng Bạch Đằng năm 938, Ngô Quyền xưng vương, đóng đô ở Cổ Loa, thiết lập chính quyền tự chủ Năm 944, Ngô Quyền mất, triều đình nhà Ngô ngày càng suy yếu, thổ hào, tướng lĩnh nổi lên tiến đánh lẫn nhau, chiếm cứ các địa phương, sử gọi là loạn 12 sứ quân Vùng đất Vĩnh Phúc do thế lực của Nguyễn Khoan và Kiều Công Hãn chiếm đóng
Trang 25Hình 3.1 Cổng chính Hoàng thành Thăng Long ngày nay
Sau khi chấm dứt tình trạng cát cứ, năm 968, Đinh Bộ Lĩnh lên ngôi, đóng đô ở Hoa
Lư (Ninh Bình), đặt tên nước là Đại Cồ Việt
Năm 979, Đinh Tiên Hoàng cùng con trai trưởng Đinh Liễn bị ám hại, con thứ là Đinh Toàn nối ngôi, nội bộ triều đình nhà Đinh lục đục Nhà Tống nhân cơ hội này, mang quân sang xâm luộc nước ta Trước tình thế đó, Thái hậu Dương cùng các tướng
sĩ, quan lại tôn Lê Hoàn lên ngôi, lãnh đạo cuộc kháng chiến chống Tống
Kháng chiến thắng lợi, Lê Hoàn củng cố chính quyền, tăng cường kiểm soát địa phương, giao cho các cùng một số người thân cận trấn giữ các vùng trọng yếu Lúc này, Vùng đất Vĩnh Phúc thuộc đất Phong Châu được Lê Hoàn giao cho người con thứ
tư cai quản
1.2 Vĩnh Phúc thời Lý
Năm 1009, Lê Long Đĩnh chết, triều đình do Đào Cam Mộc khởi xướng, suy tôn Lý Công Uẩn lên ngôi, lập ra triều Lý Mùa thu năm 1010, Lý Công Uẩn dời đô từ Hoa Lư
ra Đại La và đổi tên thành là Thăng Long Năm 1054, nhà Lý đổi tên nước là Đại Việt
Thời Lý, cả nước chia thành 24 lộ, phủ, châu Ở vùng đồng bằng chủ yếu gọi là
lộ hay phủ, ở miền núi gọi là châu hay đạo Dưới phủ là huyện, dưới huyện có các hương Vĩnh Phúc thời kỳ này thuộc lộ (châu) Quốc Oai Vĩnh Phúc là vùng đất trọng yếu, tiếp giáp với kinh thành Thăng Long trên con đường lên vùng Tây Bắc nên được triều Lý coi trọng
Dưới thời Lý, nhà nước rất chăm lo đến hoạt động sản xuất nông nghiệp Ruộng đất thuộc quyền sở hữu của nhà nước, triều đình trực tiếp quản lý các loại ruộng quốc khố, đồn điền, tịch điền, ruộng đất công làng xã, đồng thời sử dụng để bạn thưởng phân phong cho các công thần Ngoài ra, ruộng của nhà chùa là một loại hình sở hữu ruộng đất phổ biến ở thời kỳ Phật giáo thịnh đạt
Trang 26Bên cạnh nông nghiệp, thủ công nghiệp cũng khá phát triển Tại Vĩnh Phúc, nghề gốm tương đối phổ biến Người thợ nung gốm Vĩnh Phúc đã đúc kết được nhiều kinh nghiệm, kỹ thuật tinh xảo, làm được những viên gạch xây tháp Đạo Trù, tháp Kim Tôn, đặc biệt là tháp Bình Sơn rất đẹp Tại Phong Châu, triều đình mở công xưởng luyện sắt Công xưởng này thiết lập trên khu mỏ sắt lộ thiên tại Thanh Vân, Đạo Tú (nay thuộc huyện Tam Dương).
Đạo Phật được truyền bá
vào Vĩnh Phúc từ sớm Thời Lý,
khi Phật giáo phát triển, nhiều
ngôi chùa nổi tiếng được xây
dựng trên đất Vĩnh Phúc: chùa
Cói (nay thuộc phường Hội
Hợp, thành phố Vĩnh Yên),
chùa Yên Nhiên (nay thuộc
xã Vũ Di, huyện Vĩnh Tường),
chùa Then (nay thuộc thị trấn
Tam Sơn, huyện Sông Lô),
Từ giữa thế kỷ XII, triều Lý dần suy yếu Kinh tế, nhất là nông nghiệp, ngày càng
sa sút, các phe phái phong kiến đấu đá lẫn nhau Vua Lý phải nhiều phen chạy loạn
và nương tựa vào thể lực họ Trần Từ thế kỷ XIII, họ Trần dần nắm quyền hành trong triều Năm 1226, Trần Thủ Độ ép Lý Chiêu Hoàng nhường ngồi cho chồng là Trần Cảnh Triều Lý kết thúc, triều Trần được thành lập (1226) Nhà Trần áp dụng nhiều biện pháp để khôi phục sức mạnh của chính quyền trung ương, củng cố nền quyền lực, xây dựng kinh tế, ổn định xã hội Các vua Trần truyền ngồi cho con sớm, lên làm Thái thượng hoàng, cùng với vua trẻ lo việc chính sự
Về mặt hành chính, năm 1942, nhà Trần đổi 24 lộ, phủ thời Lý thành 12 lộ (nhà Hồ đổi các lộ thành trấn) Dưới lộ (hay trấn) là các phủ, dưới phủ là châu, huyện, xã Xã
là đơn vị hành chính cơ sở, đứng đầu là Đại tư xã (từ ngũ phẩm trở lên), Tiểu tự xã (từ ngũ phẩm trở xuống), đặt xã quan, xã chính, xã sử, xã giám
Vùng đất Vĩnh Phúc cho đến cuối thời Trần thuộc vào các châu Tam Đới (sau đổi thành phủ Vĩnh Tường, lộ Đông Đô và trấn Tuyên Quang) Thuộc châu Tam Đới nay
có các huyện: Yên Lạc, Lập Thạch, thuộc trấn Tuyên Quang nay có huyện Tam Dương
Hình 3.2 Tháp Bình Sơn (thị trấn Tam Sơn, Sông Lô)
Trang 27(vốn là huyện Dương) Thời nhà Hồ và thời thuộc Minh, đơn vị hành chính Vĩnh Phúc
cơ bản không thay đổi”
Về kinh tế, đầu triều Trần, nông nghiệp được triều đình quan tâm phát triển Công cuộc khẩn hoang, xây dựng điền trang cũng được chú ý
Về quân sự, nhà Trần rất chăm lo xây dựng và củng cố quân đội theo phương châm
“binh lính cốt tinh nhuệ không cốt nhiều” Ngoài lực lượng quân đội chính quy, nhà Trần cho phép các vương hầu, chủ trại, phụ đạo tự lập quân đội riêng Ở các xã, nhà Trần thành lập lực lượng dân binh phụ trách trật tự trị an; khi có giặc, lực lượng này tham gia chiến đấu bảo vệ quê hương
Với địa hình trải theo các triền sông lớn (sông Lô, sông Hồng), vùng đất Vĩnh Phúc trở thành vị trí hết sức xung yếu, từ Vân Nam (Trung Quốc) có thể theo ngả sông Hồng, qua vùng đất này vào kinh đô Thăng Long và tiến sâu vào lãnh thổ Đại Việt Nhà Trần đã chọn vùng đất Vĩnh Phúc làm nơi chức phòng ngự, tấn công tiêu diệt địch trong ba lần kháng chiến chống quân Nguyên – Mông xâm lược
Trong các trận đánh quân Mông Cổ trên đất Vĩnh Phúc, bên cạnh các đội quân chính quy của triều đình, lực lượng dân binh của các thể tù, chủ trại địa phương đã góp phần không nhỏ vào việc cản bước quân giặc Tiêu biểu là các đội quân của Hà Bổng, Hà Đặc, bảy anh em họ Lỗ …
1.4 Vĩnh Phúc thời Lê Sơ
Nửa sau thế kỷ XIV, sau một thời kỳ hưng thịnh, triều Trần dần suy yếu Năm 1400, Hồ Quý
Ly chính thức đoạt ngôi vua Trần, lập nên nhà Hồ (1400 - 1407), lấy quốc hiệu là Đại Ngu.Trước và sau khi lên ngôi, Hồ Quý Ly đã thi hành nhiều biện pháp cải cách nhưng
Hình 3.3 Ngã 3 sông, đoạn xã Việt Xuân, giáp ranh với Bạch Hạc, Việt Trì
Trang 28không hiệu quả Đất nước ngày càng rối loạn Tháng 11 năm 1406, lấy danh nghĩa “phù Trần diệt Hồ”, nhà Minh huy động 80 vạn quân xâm lược nước ta Chiếm được nước ta, nhà Minh áp đặt hàng loạt chính sách cai trị hà khắc, ra sức bóc lột, vơ vét của cải, thâm độc hơn cả là chủ trương phá hoại, thủ tiêu nền văn hóa dân tộc của Đại Việt.
Tháng Giêng 1418, tại Lam Sơn (Thanh Hóa), Lê Lợi chính thức dựng cờ khởi nghĩa, xưng Bình Định Vương Cuộc khởi nghĩa nhanh chóng được đông đảo sĩ phu, những người yêu nước thuộc đủ các thành phần hưởng ứng Trần Nguyên Hãn, người Sơn Đông (Lập Thạch) đã tìm vào tụ nghĩa với nghĩa quân Lam Sơn ngay từ những ngày đầu của cuộc kháng chiến Ông đã tham gia chỉ huy nhiều trận đánh quan trọng.Khởi nghĩa Lam Sơn thắng lợi Tháng 3 năm Mậu Thân (1428), Lê Lợi lên ngôi Hoàng
đế, thăng thưởng các quan văn, võ; Trần Nguyên Hãn - người con ưu tú của đất Vĩnh Phúc - được phong Tả Tướng quốc
Công cuộc kiến thiết đất nước sau khởi nghĩa chống quân Minh (1428 – 1527)
Sau thắng lợi của cuộc khởi nghĩa Lam Sơn, năm 1428, Lê Lợi lên ngôi, đặt niên hiệu Thuận Thiên, bắt tay vào củng cố chính quyền, khôi phục kinh tế, văn hóa, ổn định đời sống xã hội
Về mặt hành chính, năm 1428, vua Lê chia đất nước làm 5 đạo: Nam đạo, Bắc đạo, Đông đạo, Tây đạo và Hải Tây đạo Đứng đầu mỗi đạo có chức Hành khiển trông coi mọi mặt quân dân, hành chính và tư pháp; chức Tổng quản chỉ huy quân đội Dưới đạo, chia làm trấn hay lộ, rồi đến châu, huyện Vùng đất Vĩnh Phúc lúc này thuộc Tây đạo.Năm Quang Thuận thứ 7 (1466), Lê Thánh Tổng tiến hành cải cách hành chính, chia
cả nước thành 12 đạo (sau đổi thành thừa tuyên) Vùng đất Vĩnh Phúc thuộc thừa tuyên Quốc Oai và thừa tuyên Thái Nguyên Năm Quang Thuận thứ 10 (1469), Vua
Lê Thánh Tông định bản đồ cả nước, gọi thừa tuyên Quốc Oai là thừa tuyên Sơn Tây Năm Hồng Đức thứ 21 (1490), đổi gọi các thừa tuyên là xứ, sau đổi lại là trấn Theo
đó, phạm vi hành chính của Vĩnh Phúc dưới thời Lê Sơ thuộc phủ Tam Đới, phủ Đoan Hùng (thừa tuyên Sơn Tây) và phủ Phú Bình (thừa tuyên Thái Nguyên)
Về nông nghiệp, năm 1428, Lê Thái Tổ cho điều tra tình hình ruộng đất và tài sản trong nước Cuối năm, sai lập địa bạ (số ruộng đất) và hộ tịch Ruộng lộc điện thời
Lê Sơ được ban cấp với diện tích lớn, tuy nhiên chỉ dành cho quý tộc và quan lại cao cấp từ hàng tử phẩm trở lên Ruộng đất công làng xã theo định kỳ phân chia cho mọi người trong xã cày cấy, gọi là quân điển Chế độ quân điện này do Lê Thái Tổ quy định lần đầu tiên vào năm 1429 Đời Lê Thánh Tông, phép quân điển được hoàn chỉnh Ruộng tư tiếp tục phát triển, được nhà nước thừa nhận nhưng cũng không khuyến khích; ruộng tư không phải nộp tô cho Nhà nước
Cùng với quá trình phục hồi kinh tế nông nghiệp, các làng nghề ở Vĩnh Phúc giai đoạn này cũng từng bước phát triển, xuất hiện nhiều làng nghề thủ công như: làm
Trang 29gốm Kẻ Cánh (Tam Canh, Bình Xuyên), rèn sắt, làm nông cụ Thùng Mạch (Lý Nhân, Vĩnh Tường), đục cối đá Hải Lựu (Sông Lô)
Thời Lê Sơ, triều đình đề cao Nho giáo, khuyến khích khoa cử Nho học Vĩnh Phúc
đã có nhiều người đỗ đạt cao, giữ trọng trách trong bộ máy nhà nước cũng như có đóng góp lớn cho sự phát triển văn hóa - giáo dục nước nhà và quê hương Vĩnh Phúc Trong số đó có thể kể đến Triệu Thái, quê huyện Lập Thạch, đỗ Tiến sĩ thời Vĩnh Lạc (ở Trung Quốc), sau về nước theo Lê Lợi lại đỗ khoa Minh kinh năm 1429 Dưới triều
Lê, Triệu Thái làm quan tới chức Thị Ngự sử Nguyễn Văn Chất, Đệ nhị giáp Tiến sĩ xuất thân (Hoàng giáp) khoa thi năm Đại Hòa thứ 6 (1448), từng giữ chức Thượng thư Đào
Sư Tích đỗ đầu cả ba khoa: thi Hương, thi Hội, thi Đình, ông cũng là tác giả của bộ sách
“Việt điện u linh tập”
1.5 Vĩnh Phúc thời Mạc
Những năm đầu thế kỷ XVI đánh dấu sự suy yếu của triều đình nhà Lê, đất nước rơi vào cảnh loạn lạc, tình trạng cát cứ lại diễn ra Vùng đất Vĩnh Phúc trở thành nơi đóng quân, cát cứ của nhiều tướng lĩnh
Tuy vậy, vượt lên hoàn cảnh chiến tranh, đời sống kinh tế - xã hội của Vĩnh Phúc vẫn
có những bước tiến đáng kể, nhất là các ngành nghề thủ công như gốm (Kẻ Cánh), đục cối đá (Hải Lựu) Về văn hóa, nhiều công trình đền chùa, miếu được xây dựng.Các tấm bia Đại Đồng tự bi và Đại Đồng Linh Am nhị tự bi dựng vào các năm Hưng Trị thứ nhất (1588) và Hưng Trị thứ 3 (1590) tại chùa Đại Đồng, xã Cẩm Viên, huyện Yên Lạc cho biết việc các nho sinh và quan lại địa phương đã bỏ công, bỏ của xây dựng và tôn tạo ngôi chùa, xây thêm các công trình công cộng Hai tấm bia Phượng Trường tự
và Phương Trường tự bi ký dựng ở chùa Phượng Tường, xã Ngũ Kiên, huyện Vĩnh Tường vào năm Đoan Thái thứ 2 (1587), cuối đời Mạc Mậu Hợp, cho biết chùa Phượng Tường
là một danh lam, bị phá hủy sau nạn binh đao, nay đã được khối phục nhưng quy mô còn nhỏ Nhân dân địa phương cùng với nhiều quý tộc của nhà Mạc như Đô úy Thái bảo Mạc Ngọc Liên, Trưởng Công chúa Mạc Ngọc Lâm, Quận chúa Mạc Ngọc Lương cùng nhau góp tiền sửa chữa, mua ruộng tam bảo Nhân dân nhớ ơn ấy bèn khắc bia lưu truyền mãi mãi Bia Trùng tu Bảo Quang tự bi ký dựng năm Đoan Thái thứ 2 (1587)
và Tân tạo ngọc hoàng chư Phật Bảo Quang tự bi ký dựng năm Hưng Trị thứ 4 (1591) tại chùa Bảo Quang, xã Thượng Trung, huyện Vĩnh Tường ghi lại ngôi chùa Bảo Quang, một ngôi chùa cổ nổi tiếng ở huyện Bạch Hạc, sau nạn binh đao đã được tu sửa, sau đó được bổ sung, làm mới thêm tượng thờ
1 Nêu khái quát bối cảnh lịch sử của đất nước và vùng đất Vĩnh Phúc giai đoạn
từ thế kỉ X – XVI.
2 Trình bày những thành tựu về kinh tế, văn hoá của vùng đất Vĩnh Phúc giai đoạn từ thế kỉ X – XVI.
Trang 302 Một số người con tiêu biểu của vùng đất Vĩnh Phúc giai đoạn từ thế kỉ X – XVI
2.1 Phạm Công Bình (chưa rõ năm sinh, năm mất).
Ông người xã An Lạc, huyện An Lạc, phủ Tam Đái, Sơn Tây, nay là thôn An Lạc, xã Đồng Văn, huyện Yên Lạc
Ông thi đỗ Đệ nhất giáp khoa thi năm Giáp Thìn (1124) triều Lý và ra làm quan cho triều đình, ông được mọi người rất nể trọng vì tài giỏi cả văn lẫn võ, được xếp đứng vào bậc đại thần của triều Lý
Ông có tài quân sự, từng tham gia lãnh đạo cuộc kháng chiến chống quân xâm lược Chân Lạp năm 1128, 1136 Triều Nguyễn, đời vua Khải Định thứ 9 (1924) sắc phong và suy tôn ông là Thượng Đẳng Phúc Thần
Hiện nay, tại Yên Lạc có ngôi đền thờ mang tên Phạm Công Bình, nhân dân quen gọi là đền Quan Trạng Đền thờ Phạm Công Bình được xếp hạng di tích lịch sử văn hóa cấp tỉnh năm 1992 Tên tuổi và sự nghiệp của ông được ghi tạc trên tấm bia thứ nhất (thời Lý, thế kỉ XI-XII) tại Văn Miếu tỉnh Vĩnh Phúc
2.2 Lỗ Đinh Sơn Thất vị đại vương (Bảy anh em họ Lỗ)
Bảy anh em nhà họ Lỗ đều là con ông Lỗ Trọng và bà Khổng Thị Liên, người xã Bồ
Lý, huyện Tam Đảo, vốn làm nghề hái thuốc nam chữa bệnh
Khi lớn lên, bảy anh em được Thái sư Trần Thủ Độ thu dùng, sáu anh trai được phong chức quan Điển bình thị nội, người em út Lỗ Thị Bồ được phong làm Tham mưu việc quân
Đầu năm 1258, quân Mông – Nguyên xâm lược nước ta, Bảy anh em nhà họ Lỗ
Hình 3.4 Đền thờ Phạm Công Bình (Yên Lạc – Vĩnh Phúc)
Trang 31nhập vào đoàn quân cứu nước do Trần Thủ Độ chỉ huy và đều được phong chức Tướng quân, trực tiếp cầm quân ra trận
Khi quân Nguyên rút hết về nước, bảy anh em họ Lỗ đều được Vua Trần phong tước Đại vương Riêng bà Lỗ Thị Bồ được ban tước hiệu: Đô dũng Thống chế Đại vương, Lỗ Thị Bồ đệ nhất Đại tướng quân, lại còn được ban thưởng rất hậu và phong đất ngụ lộc ở vùng Đinh Sơn (Núi Đanh) Nhân dân quen gọi là Thất vị Lỗ Đinh Sơn
Về sau, cả bảy anh em họ Lỗ khi hóa thân đều táng ở chân núi Đinh, triều đình cho lấy ngày mồng Bốn tháng Giêng là ngày cúng giỗ chung, sắc phong đề là Lỗ Đinh Sơn Thất vị Đại vương
Trang 322 3 Đỗ Khắc Chung (1247 – 1330)
Ông sinh ngày 24 tháng 11 năm Đinh Mùi (1247) tại làng Cam Lộ, huyện Giáp Sơn
(còn gọi là Hiệp Sơn), tỉnh Hưng Yên
Tuy không sinh ra ở Vĩnh Phúc song Đỗ Khắc Chung lại gắn bó sâu sắc với vùng đất
Vĩnh Phúc, chủ yếu là huyện Lập Thạch
Năm 1280 (Canh Thìn) đời Vua Trần Nhân Tông, năm Thiệu Bảo thứ 2, Đỗ Khắc
Chung đã làm quan tới chức Chi hậu cục thủ
Năm 1285, sau chiến thắng quân Nguyên - Mông, vì có công biện luận với Ô Mã
Nhi nên ông được ban quốc tính, cho đổi từ họ Đỗ sang họ Trần Đây là một ân sủng
đặc biệt
Năm 1307, niên hiệu Hưng
Long thứ 15, ông được thăng
chức Tả phụ, tước quan Phục
hầu Tháng 10, lại được ban
tước Á quan Nội hầu Cũng
trong năm này, ông còn được
giao đi đón công chúa Huyền
Trân (Hậu chúa Huyền Trân
Chiêm Thành) về nước Đại Việt
Đỗ Khắc Chung là một trong số ít quan văn được đảm nhận nhiều chức vụ quan
trọng ở bốn đời Vua Trần trong suốt hơn 60 năm làm quan, ông là một nhà quân sự,
nhà ngoại giao có tài, thông thạo văn chương
2.4 Trần Nguyên Hãn (1390 - 1429)
Ông là người trang Sơn Đông, nay là thôn Đa Cai, xã Sơn Đông, huyện Lập Thạch
Cuối năm Đinh Dậu (1417), ông vào Lam Sơn tụ nghĩa dưới ngọn cờ do Lê Lợi
khởi xướng được giữ chức quan Tư đồ Suốt 10 năm kháng chiến chống quân Minh
(1418 - 1427), ông luôn là người được Lê Lợi tin tưởng
Đất nước thanh bình, hết bóng giặc ngoại xâm, ngày mồng Tám tháng Ba năm
Mậu Thân (1428), ông được phong chức Tả Tướng quốc (Hữu Tướng quốc là Thái
tử Tư Tề, con cả của nhà vua) Sau đó, ông xin về hưu, trở về quê hương là ấp Đông
Sơn, nay đổi là Sơn Đông Nhưng sau đó, có kẻ vu cho ông mưu phản Lê Thái Tổ sai
người về bắt ông Trên đường về kinh đô, đến bến Đông Hồ thì thuyền của ông bị
chìm Ông và 42 người “gia thần nội thủ” đều mất, chỉ có hai người sống sót
Lê Thái Tổ sau đó ra lệnh tịch thu ruộng đất, bắt giam vợ và con ông làm kẻ hầu
người hạ Đến năm Diên Ninh thứ hai (1455), tức là 26 năm sau khi xảy ra vụ “chìm
thuyền” ở bến Đông Hồ, Vua Lê Nhân Tông xét rõ nỗi oan của ông, mới ra lệnh trả
Hình 3.9 Bia ghi tên Nguyễn Duy Tường (Văn miếu tỉnh Vĩnh Phúc)
Hình 3.7 Đền thờ Đỗ Khắc Chung (xã Sơn Đông, huyện Lập Thạch)
Hình 3.6 Đền thờ Đỗ Khắc Chung (xã Sơn Đông, huyện Lập Thạch)