ĐẠIHỌCQUỐCGIATP HỒCHÍMINH TRƯỜNGĐẠIHỌCBÁCH KHOATP HỒCHÍMINH NHÓML17 R PHÁPNHÂNCHỦTHỂCỦAQUANHỆPHÁPLUẬTD ÂNSỰ Bàitậplớnmôn PhápluậtViệtNam đạicương TP HỒCHÍMINH 2021 BÁOCÁOPHÂNCÔNGNHIỆMVỤVÀKẾTQUẢ THỰCHI[.]
Lýdochọn đề tài
Đề tài nghiên cứu tập trung vào lĩnh vực luật Dân sự, cụ thể là trong Bộ luật Dân sự năm 2015, nhằm phân tích và làm rõ vai trò của pháp nhân trong quan hệ pháp luật dân sự Pháp nhân được xác định là một trong những chủ thể quan trọng của hệ thống pháp luật dân sự, đóng vai trò thiết yếu trong việc thực hiện các quyền và nghĩa vụ pháp lý Nghiên cứu này hướng đến việc làm rõ đặc điểm, quyền hạn và trách nhiệm của pháp nhân theo quy định của pháp luật dân sự Việt Nam.
Hiện nay, Việt Nam đang trên con đường phát triển nhanh chóng và tích cực hội nhập kinh tế quốc tế, đặc biệt sau khi gia nhập Tổ chức Thương mại Thế giới WTO vào năm 2007 Nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước và hoàn thiện hệ thống pháp luật điều chỉnh các chủ thể kinh doanh là yếu tố then chốt để thúc đẩy phát triển kinh tế Trong hệ thống các chủ thể của quan hệ pháp luật, có chủ thể cá nhân truyền thống tham gia các quan hệ dân sự, nhưng trong thực tế quản lý và hoạt động kinh doanh, cần có chủ thể pháp nhân để đảm bảo hiệu quả pháp lý rõ ràng và phù hợp Pháp nhân là chủ thể cơ bản tham gia vào các quan hệ dân sự và các lĩnh vực pháp luật khác nhau, qua đó góp phần điều chỉnh các quan hệ xã hội, nhất là khi đề cập đến pháp nhân trong lĩnh vực pháp luật dân sự.
Việc giải quyết cụ thể và triệt để đề tài này góp phần quan trọng vào xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật của Việt Nam Các quan điểm, kiến nghị mới xuất phát từ thực tiễn của nhóm nghiên cứu sẽ giúp phát hiện và khắc phục các thiếu sót, lỗ hổng trong Bộ luật Dân sự 2015 Điều này đảm bảo tính hợp lý, khả thi của pháp luật, đồng thời phù hợp với yêu cầu phát triển xã hội và nâng cao hiệu quả thi hành pháp luật trong thực tiễn.
Trong nghiên cứu đề tài này, nhóm nghiên cứu sẽ lấy tư liệu từ các vụ việc phá luật xây dựng thực tế mà Bộ luật Dân sự năm 2015 chưa đề cập đến hoặc chưa nêu rõ cách thi hành, nhằm phân tích các trường hợp này để đưa ra giải pháp phù hợp, chính trực, đảm bảo công bằng trong quá trình xử lý.
Người dân sẽ có cái nhìn toàn diện và rõ ràng hơn về hệ thống pháp luật hiện hành, từ đó nâng cao kiến thức và kỹ năng quan trọng để tự bảo vệ quyền lợi cá nhân cũng như quyền lợi của người khác.
Thứ hai, các cơ quan thi hành pháp luật của nhà nước sẽ có cơ sở pháp lý vững chắc để giải quyết các vụ án có tính chất tương tự, dựa trên lập luận khoa học pháp lý và khoa học xã hội Điều này chứng minh việc vận dụng các hiện tượng thực tiễn để nâng cao tính phù hợp của lý luận đang được sử dụng.
Vấn đề mà đề tài của nhóm nghiên cứu đề cập có vai trò đặc biệt quan trọng đối với ngành Luật Dân sự và hệ thống Pháp luật Việt Nam Giải quyết tốt đề tài này góp phần xây dựng một hệ thống pháp lý vững chắc, tạo nền tảng ổn định để nhà nước và nhân dân thúc đẩy phát triển kinh tế hiệu quả và kiểm soát chặt chẽ Điều này sẽ mang lại sự ổn định và phát triển lâu dài của nền kinh tế và xã hội Việt Nam.
Vì những lý do trên, nhóm tác giả thựahiện việc nghiên cứu đề tài “ PHÁPNHÂNCHỦTHỂCỦA QUANHỆPHÁPLUẬTDÂNSỰ”choBàitậplớntrongchương t rìnhhọcmôn Pháp luật ViệtNamĐạicương.
Nhiệmvụcủađề tài
Trong đề tài này, để giải quyết các vấn đề được đặt ra ở trên, nhóm sẽ thực hiện đề tàiphápnhân với việcgiảiquyếtcácnhiệmvụ sau:
Một là,làm rõ lý luận về những chế định về pháp nhân – chủ thể quan hệ pháp luật dânsự.
Trong đó, nhóm tác giả nghiên cứu những vấn đề về khái niệm; các điều kiện để tổ chứcđượcc ô n g n h ậ n l à p h á p n h â n ; n ă n g l ự c c h ủ t h ể c ủ a p h á p n h â n c ũ n g n h ư v i ệ c t h à n h l ậ p , chấmdứt hoạt độngphápnhân.
Hai là, tập trung phân tích, đánh giá những tiêu chí để công nhận tổ chức có tư cáchphápnhân trongpháp luật dânsựViệt Nam.
Balà,nghiêncứutìnhhuốngtừthựctiễnToàánđểnhậndiệntổchứccótưcáchphápnhântrong thực tế,pháthiệnra bất cậpquyđịnhphápluậtvàthựctiễn.
NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ PHÁP NHÂN – CHỦ THỂ QUAN HỆPHÁPLUẬTDÂNSỰ
Kháiniệmvàphân loạipháp nhântheophápluậtdânsựViệtNam
Trong lịch sử, pháp luật chưa từng biết đến khái niệm pháp nhân, nhưng từ thời cổ đại đến thời kỳ phong kiến, các tổ chức như giáo hội đã hình thành dựa trên cơ sở liên kết, không tham gia vào các quan hệ pháp luật hay dân sự Các tổ chức này không nhận danh mình là danh nghĩa của các thành viên, mà là chủ sở hữu của các tài sản dùng để thực hiện các giao dịch Khi thực hiện nguyên tắc tách bạch về tài sản, đã xuất hiện một nhân cách pháp lý mới tách biệt với chủ sở hữu hoặc cộng đồng sở hữu, dẫn đến sự ra đời của khái niệm pháp nhân Hiện nay, các khái niệm về pháp nhân được trình bày và diễn giải theo nhiều cách khác nhau qua các giai đoạn khác nhau của lịch sử pháp luật.
Chữpháp-法cónghĩalàphéptắc,khuônphép,khuônmẫu.Chữnhân-人làngười.
Việtlàdanhtừluậtpháp,chỉmộttổchức,đoànthể,cóđầy đủnghĩavụvàquyềnlợi trướcphápluật nhưmộtcánhân 1
Trong ngành luật, pháp nhân là thuật ngữ dùng để phân biệt tư cách của các chủ thể là tổ chức với cá nhân trong các quan hệ pháp lý Thông thường, pháp nhân được áp dụng cho các loại hình doanh nghiệp đã được hình thành và đáp ứng đầy đủ các điều kiện pháp luật quy định để trở thành pháp nhân Điều này đồng nghĩa với việc không phải bất kỳ doanh nghiệp hay tổ chức nào cũng đều có tư cách pháp nhân.
1 NguyễnQuốc Hùng:Từđiển hán–nôm.
5 cáchchủthểnày.Vìkhiđãđượcxáclậplàphápnhânđồngnghĩavớiviệctổchứcđócómộtsốq uyềnlợinhất địnhmànhữngchủ thểkháckhôngthể nào đạtđược 2
“1 Mộttổchức đượccôngnhậnlàphápnhânkhicóđủcácđiềukiện sauđây: a) Đượcthànhlậptheoquyđịnhcủa Bộluậtnày, luậtkháccóliênquan; b) Cócơcấutổchức theoquyđịnhtạiĐiều83củaBộluậtnày; c) Có tài sản độc lập với cá nhân, pháp nhân khác và tự chịu trách nhiệm bằng tàisảncủamình; d) Nhândanhmìnhthamgiaquanhệphápluậtmộtcáchđộclập.
2.Mọicánhân,phápnhânđềucóquyềnthànhlậpphápnhân,trừtrườnghợpluậtcóqu y định khác.”
Bộ luật không quy định cụ thể về khái niệm pháp nhân, nhưng đưa ra tất cả các yếu tố cần thiết để một chủ thể trở thành pháp nhân Điều này cho thấy không bắt buộc phải hiểu rõ khái niệm pháp nhân một cách chính xác, mà quan trọng hơn là đáp ứng các điều kiện để tổ chức được công nhận là pháp nhân theo Bộ luật Dân sự năm 2015.
Ví dụ về pháp nhân bao gồm các tổ chức như các cơ quan nhà nước (Đảng Cộng sản Việt Nam, Ủy ban nhân dân các cấp, Tòa án, trường đại học), cũng như các doanh nghiệp như Công ty TNHH và Công ty cổ phần Những tổ chức này có tư cách pháp nhân, nghĩa là có quyền và nghĩa vụ pháp lý độc lập, có khả năng tham gia các hoạt động pháp lý, ký kết hợp đồng và chịu trách nhiệm pháp lý riêng Pháp nhân là khái niệm quan trọng trong hệ thống pháp luật, giúp xác định quyền lợi và nghĩa vụ của tổ chức trong các giao dịch và hoạt động kinh tế, xã hội.
Việcphânloạiđầutiêncóliênquanđếncác mụctiêu của hoạt động Vìvậy, tấtcảcác phápnhânđượcchiathànhphilợinhuậnvàthươngmại.
2 LuậtViệtTín31/08/2018Pháp nhânlàgì?Quy địnhvề tưcáchphápnhân.
Theo Điều 75 Bộ luật Dân sự năm 2015, pháp nhân thương mại là pháp nhân có mục tiêu chính là tìm kiếm lợi nhuận và chia lợi nhuận cho các thành viên, bao gồm doanh nghiệp và tổ chức kinh tế khác Việc thành lập, hoạt động và chấm dứt pháp nhân thương mại được thực hiện theo quy định của Bộ luật Dân sự, Luật doanh nghiệp và các quy định pháp luật liên quan Các pháp nhân thương mại phải tuân thủ các quy định pháp luật để đảm bảo hoạt động hợp pháp và hiệu quả.
Điều 75 quy định đặc điểm của pháp nhân thương mại phù hợp với mục đích của nó và là điều kiện tiên quyết để được coi là pháp nhân thương mại, có lợi nhuận và chia lợi nhuận cho các thành viên Các loại pháp nhân như công ty trách nhiệm hữu hạn hoặc tổ chức kinh tế hoạt động dựa trên vốn góp, nơi các thành viên chỉ chịu rủi ro trong phần vốn của mình Một hình thức khác là công ty cổ phần, trong đó vốn góp được chia thành cổ phần và người tham gia chỉ chịu rủi ro trong cổ phần của mình Pháp nhân thương mại hướng đến mục đích lợi ích riêng, như mục tiêu kiếm lợi nhuận để chia cho cá nhân hoặc pháp nhân góp vốn, hoặc để duy trì hoạt động lâu dài Ví dụ, anh T và công ty P thành lập công ty trách nhiệm hữu hạn PT với vốn điều lệ 10 tỷ đồng, hoạt động nhằm mục đích thu lợi nhuận để chia sẻ với anh T và công ty P, mang lại lợi ích cá nhân và tổ chức.
Pháp nhân phi thương mại, theo Điều 76 Bộ luật Dân sự năm 2015, không có mục tiêu chính là tìm kiếm lợi nhuận và nếu có lợi nhuận cũng không được phân chia cho các thành viên như cơ quan nhà nước, tổ chức chính trị, tổ chức xã hội hay các quỹ từ thiện Việc thành lập, hoạt động và chấm dứt pháp nhân phi thương mại được quy định rõ ràng theo Bộ luật Dân sự, các luật về tổ chức bộ máy nhà nước và các quy định pháp luật liên quan Đây là hình thức pháp nhân phù hợp với các tổ chức phi lợi nhuận nhằm mục đích phục vụ cộng đồng và xã hội.
Pháp nhân phi thương mại không mưu cầu lợi nhuận, chủ yếu là tổ chức nhằm mục đích mang lại lợi ích cộng đồng, không hướng tới kinh doanh hay lợi nhuận cá nhân Các tổ chức này thường là các hiệp hội tự nguyện, các nhóm hỗ trợ người gặp khó khăn như tổ chức tu viện hoặc các tổ chức từ thiện Trước đây, theo quy định tại Điều 100 Bộ luật Dân sự 2005, pháp nhân được phân loại thành năm loại, bao gồm cơ quan nhà nước, tổ chức chính trị, tổ chức kinh tế, tổ chức chính trị xã hội nghề nghiệp, quỹ xã hội, quỹ từ thiện và các tổ chức khác đáp ứng điều kiện quy định tại Điều 8 của luật.
So với Bộ luật Dân sự năm 2015, Bộ luật năm 2005 phức tạp hơn với cách chia phạm nhân đa dạng, tuy nhiên dễ dẫn đến chồng chéo, gây khó khăn trong việc xây dựng hệ thống quản lý và nâng cao hiệu quả hoạt động pháp nhân Trong khi đó, cách phân chia phạm nhân của Bộ luật Dân sự 2015 gọn gàng, dễ hiểu và phù hợp hơn với quy định của Bộ luật Hình sự sửa đổi năm 2015 về trách nhiệm hình sự của pháp nhân thương mại Nếu áp dụng cách phân chia theo Bộ luật năm 2005, việc xác định pháp nhân chịu trách nhiệm hình sự sẽ gặp nhiều khó khăn, ảnh hưởng đến quá trình truy cứu trách nhiệm pháp lý của pháp nhân.
Trách nhiệm hình sự của pháp nhân là một vấn đề mới trong khoa học pháp lý hình sự của Việt Nam, lần đầu được quy định rõ ràng trong Bộ luật Hình sự năm 2015 Ngày 27/11/2015, các đại biểu Quốc hội đã biểu quyết thống nhất thông qua dự thảo Bộ luật Hình sự (sửa đổi) với tỷ lệ tán thành cao là 84.01%, chính thức đưa trách nhiệm hình sự của pháp nhân vào hệ thống pháp luật của nước ta Việc hiểu rõ các quy định về trách nhiệm hình sự của pháp nhân trong Bộ luật Hình sự năm 2015 có ý nghĩa to lớn trong nhận thức pháp luật và góp phần nâng cao hiệu quả trong thực hiện và thi hành các quy định này.
3 HoàngVănVân ( Cậpnhậtlúc:16:0124/04/2017 ) :Mộtsốvấnđề vềtruycứu tráchnhiệmhìnhsựđốivớiphápnhânthươngmại theo Bộ luật Hình sựnăm 2015
(ii) Phân loại theo tiêu chí thủ tục thành lập, nguồn thu và mục đích hoạt động – cóphápnhâncôngpháp vàpháp nhântư pháp.
Pháp nhân công quyền trong luật Việt Nam là pháp nhân do nhà nước thành lập, nắm giữ quyền lực công cộng và thực hiện các chức năng của Nhà nước hoặc đảm nhận vai trò quan trọng trong hệ thống chính trị xã hội chủ nghĩa, với tính mệnh lệnh hành chính bắt buộc, hoạt động dựa trên ngân sách nhà nước Trong khi đó, pháp nhân công pháp không tham gia trực tiếp vào hoạt động sản xuất kinh doanh nhằm tìm kiếm lợi nhuận, ví dụ như Đảng Cộng sản, mặt trận Tổ quốc, lực lượng vũ trang, hay các doanh nghiệp công ích như công ty điện lực, công ty cấp thoát nước,… Pháp nhân tư pháp mang tính chất tự nguyện, dựa trên nguyên tắc tự tài chính, thông qua sự thỏa thuận và thống nhất của các thành viên, như các tổ chức kinh tế, hợp tác xã, công ty trách nhiệm hữu hạn, công ty cổ phần hoặc các hội tự nguyện như hội nuôi heo, hội làm vườn, hội sưu tầm đồ cổ.
Cácđiềukiệnđểtổchứcđượccôngnhận làpháp nhân
Một tổ chức phải được thành lập theo quy định của pháp luật để có tư cách pháp nhân Mặc dù không có khái niệm cụ thể về pháp nhân, nhưng qua các điều kiện pháp luật đưa ra, có thể hiểu rằng pháp nhân là một tổ chức, không phải là cá nhân, do cơ quan nhà nước có thẩm quyền thành lập hoặc cho phép Tổ chức đó được công nhận là có tư cách pháp nhân kể từ ngày được cấp giấy chứng nhận thành lập, theo quy định tại Điều 74 Bộ luật Dân sự 2015.
Một tổ chức hợp pháp được thành lập dựa trên mục đích, nhiệm vụ hợp pháp và tuân thủ các quy định pháp luật về trình tự, thủ tục thành lập Nhà nước công nhận tổ chức hợp pháp thông qua các hình thức như cơ quan nhà nước, cơ quan có thẩm quyền cấp phép, đăng ký hoặc công nhận Việc công nhận sự tồn tại của một tổ chức phụ thuộc vào hoạt động của nó có phù hợp với lợi ích của giai cấp thống trị hay không; nếu hoạt động của tổ chức đe dọa nền tảng xã hội hoặc lợi ích của giai cấp thống trị, nhà nước có thể không cho phép tổ chức đó tồn tại.
Việc thừa nhận sự ra đời và khai sinh pháp nhân là bước quan trọng trong việc thiết lập một hành lang pháp lý rõ ràng cho pháp nhân Quy định này xác định thời điểm pháp lý làm phát sinh tư cách chủ thể pháp nhân và chuyển giao các quyền, nghĩa vụ của người sáng lập viên đã ủy quyền Đây cũng là thời điểm các thủ tục cần thiết để thành lập pháp nhân được tiến hành và hoàn tất, đảm bảo hoạt động pháp lý của pháp nhân diễn ra đúng quy định.
Thông qua các quy định này, nhà làm luật xây dựng các cơ sở pháp lý vững chắc để các cơ quan nhà nước có quyền kiểm tra, giám sát hoạt động thành lập và hoạt động của các tổ chức Điều này giúp ngăn chặn các tổ chức có nguy cơ gây hại cho xã hội, đảm bảo an toàn và trật tự xã hội được duy trì hiệu quả.
Việcthànhlậphợpphápcònlàcơsởpháplýđểtòaáncũngnhưcáccơquantòaán khác xem cái tính hợp pháp của pháp nhân và giải quyết các tranh chấp liên quan đến sựthànhlập vàtồn tạicủapháp nhânnày.
Theo Điều 83 Bộ luật Dân sự 2015, pháp nhân phải là một tổ chức có cơ cấu quản lýchặtchẽ:
Pháp nhân phải có cơ quan điều hành đảm nhiệm chức năng quản lý và điều hành hoạt động của tổ chức Tổ chức, nhiệm vụ và quyền hạn của cơ quan này được quy định rõ trong điều lệ của pháp nhân hoặc trong quyết định thành lập pháp nhân, đảm bảo hoạt động của pháp nhân được thực hiện đúng theo quy định pháp luật.
2 Pháp nhân có cơ quan khác theo quyết định của pháp nhân hoặc theo quy địnhcủapháp luật.”
Pháp nhân bắt buộc phải có cơ quan điều hành để đảm bảo hoạt động trôi chảy và thống nhất, phản ánh yêu cầu cơ bản của một tổ chức pháp nhân Tổ chức pháp nhân không phải là một con người mà là một tập hợp nhiều người cùng hoạt động nhằm đạt mục đích chung, đòi hỏi phải có ý chí và hành động đồng bộ Để vận hành hiệu quả, pháp nhân cần có bộ máy gồm đầy đủ các cơ quan, tổ chức, đơn vị chuyên môn và bộ phận nghiệp vụ, trong đó các bộ phận chuyên môn thực hiện các chức năng chính, còn các bộ phận nghiệp vụ hỗ trợ hoạt động và tạo điều kiện thuận lợi cho các bộ phận chuyên môn phát huy nhiệm vụ Tùy từng loại pháp nhân, các cơ quan điều hành sẽ có cấu trúc và chức năng phù hợp để đảm bảo hoạt động hiệu quả và đúng quy định.
Pháp nhân không chỉ bao gồm cơ quan điều hành mà còn có các cơ quan khác theo quyết định của pháp nhân hoặc quy định của pháp luật Theo Khoản 2, Điều 83, Bộ luật Dân sự 2015, hệ thống tổ chức của một pháp nhân thường bao gồm nhiều bộ phận, đảm bảo hoạt động hiệu quả và phù hợp với quy định pháp luật Các cơ quan này góp phần quản lý, điều hành và duy trì hoạt động của pháp nhân theo pháp luật đã đề ra.
Các bộ phận chức năng nghiệp vụ: bộ phận tổ chức hành chính, bộ phận kế toán, tàivụ,bộ phận quảntrị tàisản,bộphậnphápchếvănphòng.
Pháp nhân là tổ chức gồm nhiều đơn vị, bộ phận khác nhau, vì vậy cần có một cơ quan điều hành hoặc trung tâm chỉ huy như bộ não của con người để điều phối các hoạt động Việc có một cơ quan điều hành giúp liên kết chặt chẽ các thành viên và bộ phận trong pháp nhân, tạo ra sự phối hợp hiệu quả giữa con người và các bộ phận khác nhau Điều này thúc đẩy sự thống nhất trong hoạt động của pháp nhân, giống như một tập thể người, giống như một gia đình hoặc một nhóm người trên đường phố, đảm bảo tính liên kết và phối hợp tốt để duy trì sự ổn định và phát triển của tổ chức.
Tạotiềnđể t h ự c t ếg iú pch ot ổ chức c ó đủ năn g lực cầ n t hi ết đểt hự c h i ệ n đú ng chứ c năng nhiệmvụ củamình vàhoạtđộngcóhiệuquả. Đảm bảosự tồntạiổnđịnhcủatổchức,khônglệthuộcvàosốlượngvàsự thayđổithànhviên.
Giúpc h o p h á p nhânhoạ t đ ộ n g độc l ậ p, k h ô n g lệ t h u ộ c v à o vi ệct ổ c h ứ c đ ố i v ớ i t hànhviên vàcơquansáng lậpcủaphápnhân.
Tiền đề quan trọng để pháp nhân thành lập là phải có tài sản độc lập, được hình thành từ nhiều nguồn khác nhau Tài sản của pháp nhân có thể do thành viên đóng góp, tặng cho từ cá nhân hoặc tổ chức, nhận viện trợ quốc tế hoặc nhà nước giao cho các cơ quan của nhà nước, huy động từ các quỹ xã hội, từ thiện hoặc thu nhập từ quá trình sản xuất kinh doanh của các pháp nhân hoạt động trực tiếp trong lĩnh vực sản xuất và kinh doanh Tài sản này thể hiện qua các cơ sở như nhà xưởng, tư liệu sản xuất, phương tiện vận chuyển, kho hàng, tài khoản ngân hàng, cùng với vốn pháp định hoặc vốn điều lệ của pháp nhân.
Tài sản độc lập của pháp nhân bao gồm cả tài sản riêng và các loại tài sản do nhà nước tạm giao hoặc hỗ trợ nhằm thực hiện các chức năng phi lợi nhuận Đặc biệt, các tài sản này dành cho các cơ quan nhà nước, hợp tác xã nông nghiệp, tổ chức xã hội và các tổ chức chính trị, tổ chức chính trị xã hội để phục vụ mục tiêu hoạt động phi lợi nhuận.
Sự độc lập về tài sản pháp nhân không phản ánh số lượng tài sản mà thể hiện ở chế độ quản lý và kiểm soát tài sản, thể hiện quyền làm chủ của pháp nhân đối với tài sản của mình Các thành viên pháp nhân như tổ chức nhà nước và sáng lập viên không còn quyền khai thác hay định đoạt các tài sản đã đóng góp, bởi vì những tài sản này đã thuộc quyền sở hữu của pháp nhân Điều này cho thấy quyền của pháp nhân trong việc quản lý, kiểm soát tài sản mà không phụ thuộc vào số lượng tài sản ban đầu, qua đó đảm bảo tính độc lập pháp lý của pháp nhân.
Trách nhiệm là nghĩa vụ mà mỗi người phải thực hiện và có ý thức rõ ràng về những việc làm của mình Người có trách nhiệm luôn chủ động trong mọi tình huống, tự tin phát triển bản thân và dám làm những điều mình mong muốn Họ cũng sẵn sàng chịu trách nhiệm về những hành động của mình, thể hiện sự trưởng thành và đáng tin cậy trong cuộc sống.
Pháp nhân có trách nhiệm dựa trên tài sản riêng của mình, không liên quan đến tài sản cá nhân của các thành viên Như một chủ thể độc lập, pháp nhân tham gia vào các quan hệ tài sản và nhân thân, và phải chịu trách nhiệm về hành vi của chính mình Cơ quan cấp trên không chịu trách nhiệm thay hoặc bổ sung trách nhiệm cho pháp nhân, cũng như không chịu trách nhiệm thay cho quản lý cấp trên hoặc thành viên của pháp nhân Các thành viên không sử dụng tài sản cá nhân để thực hiện các nghĩa vụ của pháp nhân, bảo đảm sự tách biệt rõ ràng giữa tài sản của pháp nhân và cá nhân.
Trách nhiệm pháp nhân của tổ chức được giới hạn trong phạm vi tài sản riêng của pháp nhân, đảm bảo sự độc lập về tài sản và trách nhiệm pháp lý Quy định này tạo điều kiện cho tổ chức hoạt động dân sự như một chủ thể độc lập, có khả năng tham gia các giao dịch và chịu trách nhiệm dựa trên tài sản riêng của mình Việc giới hạn trách nhiệm trong phạm vi này là tiền đề quan trọng để pháp nhân có thể tham gia vào các hoạt động pháp lý và kinh doanh một cách an toàn và ổn định.
Giữa tài sản của pháp nhân và sản nghiệp của thành viên cần được phân biệt rõ ràng và công bằng Thành viên góp vốn có trách nhiệm thực hiện nghĩa vụ góp vốn đầy đủ và chịu trách nhiệm đối với pháp nhân về vi phạm nghĩa vụ góp vốn của mình.
Nănglựcchủthểcủaphápnhânvàmộtsốvấnđềvềyếutốlýlịchcủaphápnhân
Năng lực chủ thể của pháp nhân bao gồm năng lực pháp luật dân sự và năng lựchànhvi dânsự.
Năng lực pháp luật dân sự của pháp nhân, theo khoản 1, Điều 86, Bộ luật Dân sự 2015, là khả năng của pháp nhân có các quyền và nghĩa vụ dân sự Năng lực pháp luật dân sự của pháp nhân không bị hạn chế, trừ khi có quy định khác trong Bộ luật này hoặc các luật liên quan.
Pháp nhân là chủ thể hư cấu, không tồn tại bằng xương bằng thịt như cá nhân, do đó có những đặc trưng riêng biệt so với cá nhân Mặc dù pháp nhân có thể tham gia xác lập và thực hiện các giao dịch dân sự, nhưng không tự mình thực hiện các công việc này mà phải thông qua người đại diện theo luật hoặc ủy quyền Vì vậy, năng lực hành vi dân sự của pháp nhân phụ thuộc vào người đại diện, và không được quy định rõ ràng như năng lực hành vi dân sự của cá nhân trong Bộ luật.
Trong Luật Dân sự 2015, không có quy định rõ về năng lực hành vi dân sự của pháp nhân nhưng xác định rõ trách nhiệm dân sự của pháp nhân đối với các quyền và nghĩa vụ dân sự do người đại diện hoặc sáng lập viên xác lập, thực hiện để thành lập và đăng ký pháp nhân Pháp nhân phải chịu trách nhiệm dân sự dựa trên tài sản của mình, không chịu trách nhiệm thay cho người của pháp nhân đối với nghĩa vụ dân sự mà không nhân danh pháp nhân, trừ khi luật có quy định khác Người của pháp nhân không chịu trách nhiệm dân sự thay cho pháp nhân đối với các nghĩa vụ do pháp nhân xác lập, thực hiện, trừ khi có quy định khác trong luật.
2015 Từ đó có thể hiểu pháp nhân vẫn có năng lựchànhvi dânsựđượcbiểuhiện quatráchnhiệmdân sựcủaphápnhân.
5 BộGiáodục –đàotạo(2018),Giáotrìnhphápluậtđạicương,chủ biênGS.TS.MaiHồng Quỳ,NXBĐạihọcsưphạm,tr91.
Năng lực pháp luật dân sự của pháp nhân và năng lực hành vi dân sự của pháp nhân là những yếu tố quan trọng tạo nên năng lực chủ thể của pháp nhân, có mối liên hệ chặt chẽ với nhau Năng lực chủ thể của pháp nhân có những đặc trưng khác với năng lực chủ thể của cá nhân, đặc biệt là việc cả hai cùng xuất hiện và chấm dứt cùng một lúc Cụ thể, theo khoản 2, khoản 3 Điều 86 Bộ luật Dân sự 2015, năng lực pháp luật dân sự của pháp nhân phát sinh khi cơ quan nhà nước có thẩm quyền thành lập hoặc cho phép thành lập, và nếu pháp nhân phải đăng ký hoạt động thì năng lực này bắt đầu từ thời điểm ghi vào sổ đăng ký Năng lực pháp luật dân sự của pháp nhân chấm dứt từ thời điểm pháp nhân chấm dứt hoạt động Ngoài ra, pháp nhân chỉ có thể thực hiện năng lực pháp luật dân sự và năng lực hành vi dân sự qua người đại diện theo pháp luật hoặc ủy quyền, trong khi cá nhân có thể tự thực hiện hoặc thông qua chính mình hoặc qua đại diện.
Bộ luật Dân sự 2015 quy định rõ về yếu tố lý lịch của pháp nhân, trong đó Điều 78 yêu cầu pháp nhân phải có tên gọi bằng tiếng Việt phản ánh rõ loại hình tổ chức và phân biệt với các pháp nhân khác trong cùng một lĩnh vực, đồng thời tên gọi này được pháp luật công nhận và bảo vệ Điều 79 quy định trụ sở của pháp nhân là nơi đặt cơ quan điều hành, và trong trường hợp thay đổi, pháp nhân phải công bố công khai, với địa chỉ liên lạc là địa chỉ trụ sở hoặc nơi khác do pháp nhân chọn Điều 80 xác định pháp nhân theo pháp luật Việt Nam là pháp nhân Việt Nam, còn Điều 81 quy định tài sản của pháp nhân gồm vốn góp của chủ sở hữu, sáng lập viên, thành viên và các tài sản khác mà pháp nhân được xác lập quyền sở hữu theo quy định của pháp luật.
Theo Điều 84 khoản 1 quy định, chi nhánh và văn phòng đại diện là đơn vị phụ thuộc của pháp nhân, không phải là pháp nhân độc lập Tuy nhiên, theo khoản 6 cùng điều luật, pháp nhân vẫn có quyền và nghĩa vụ dân sự phát sinh từ các giao dịch dân sự do chi nhánh hoặc văn phòng đại diện xác lập và thực hiện Do đó, trách nhiệm pháp lý sẽ thuộc về tổ chức của văn phòng đại diện hoặc chi nhánh khi họ thực hiện các giao dịch dân sự.
THỰC TIỄN XÁC ĐỊNH TƯ CÁCH PHÁP NHÂN TRONG TRANHCHẤPTHỰCTẾ
Vấnđềpháplýpháp sinhtrongvụviệc vàquanđiểmcủacáccấpTòaán
2.1.1 Vấnđềpháplýphápsinhtrongvụviệc Đây là bản án của cấp xét xử phúc thẩm Tòa án Nhân dân Thành phố Hồ Chí Minhchính là Tòa án cấp phúc thẩm giải quyết vụ việc này “Thủ tục phúc thẩm vụ án được thựchiện do kháng cáo hoặc kháng nghị theo quy định của pháp luật Đương sự, người đại diệncủa đương sự, cơ quan, tổ chức khởi kiện có quyền làm đơn kháng cáo bản án, quyết địnhtạm đình chỉ, đình chỉ giải quyết vụ án của Tòaáncấp sơ thẩm để yêu cầu Tòa án cấp trêntrực tiếp giải quyết lại theo thủ tục phúc thẩm.”6 T r o n g v ụ v i ệ c n à y , T ò a á n c ấ p s ơ t h ẩ mgiảiquyếtvụviệclàTòaánNhândânQuận1,ThànhphốHồChíMinh.Sauđó,Cơquanđại diện đã kháng cáo nên Tòa án cấp trên trực tiếp của Tòa án Nhân dân Quận 1 là Tòa ánNhândânThànhphốHồChíMinh giảiquyếtlạitheo thủtụcphúc thẩm.
Nguyên đơn ông Nguyễn Ngọc Hùng yêu cầu hủy quyết định cho thôi việc nhưng không mong muốn trở lại làm việc, đồng thời yêu cầu Cơ quan đại diện giải quyết chế độ phúc lợi và bồi thường Yêu cầu này liên quan mật thiết đến chủ đề của bài tập lớn là “Pháp nhân chủ thể của quan hệ pháp luật dân sự”, nhằm làm rõ vai trò và trách nhiệm của pháp nhân trong các quan hệ pháp luật Trong vụ việc, Tòa án cấp sơ thẩm đã xác nhận tính hợp lệ của các yêu cầu của nguyên đơn, góp phần làm rõ mối liên hệ giữa pháp nhân và quyền lợi của cá nhân trong quan hệ pháp luật dân sự.
Dựa trên yêu cầu của nguyên đơn là Cơ quan đại diện của Bộ Tài nguyên và Môi trường, nhưng tư cách pháp nhân của Cơ quan đại diện chưa được xác định rõ ràng, dẫn đến việc cần làm rõ lại vai trò và tư cách pháp lý để đảm bảo tính chính xác trong quá trình tranh chấp pháp lý.
Văn bản quy phạm pháp luật là cơ sở pháp lý để điều chỉnh tranh chấp này theo Bộ Luật Dân sự 2005, vì vào thời điểm xảy ra tranh chấp, Bộ luật Dân sự 2015 chưa có hiệu lực thi hành.
Các vấn đề pháp lý phát sinh trong vụ việc cần được Tòa án xác định rõ ràng, bao gồm việc xác định lại tư cách pháp nhân của Cơ quan đại diện Bộ Tài nguyên và Môi trường nhằm xác định đúng tư cách bị đơn Đồng thời, Tòa án cần giải quyết các yêu cầu của nguyên đơn sau khi đã làm rõ tư cách pháp lý của bị đơn để đảm bảo công bằng và đúng quy định pháp luật.
Theo quy định tại khoản 3, Điều 56 Bộ luật Tố tụng Dân sự 2004, bị đơn trong vụ án dân sự là người bị nguyên đơn khởi kiện hoặc cơ quan, tổ chức khác do Bộ luật này quy định khởi kiện để yêu cầu Toà án giải quyết vụ án dân sự khi quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn bị xâm phạm Trong vụ việc này, Tòa án cấp sơ thẩm xác định Cơ quan đại diện thuộc Bộ Tài nguyên và Môi trường là bị đơn do nguyên đơn không yêu cầu trở lại làm việc mà yêu cầu Cơ quan này giải quyết chế độ phụ cấp và bồi thường, đồng thời Cơ quan đại diện được xác định có tư cách pháp nhân.
Trong vụ án này, Tòa án cấp phúc thẩm xác định rõ rằng các thủ tục pháp lý liên quan đến vụ việc phải do Bộ Tài nguyên và Môi Trường thực hiện, không phải Cơ quan đại diện Tòa án đã xem xét quyết định của Bộ trưởng Bộ Tài nguyên và Môi Trường về chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Cơ quan đại diện tại TP Hồ Chí Minh, trong đó nội dung quan trọng là “Cơ quan đại diện có tư cách pháp nhân, có con dấu và tài khoản riêng.” Mặc dù quyết định của Bộ trưởng nêu rõ “Cơ quan đại diện có tư cách pháp nhân,” nhưng Cơ quan đại diện vẫn là một đơn vị trực thuộc Bộ Tài nguyên và Môi Trường.
Môi Trường là cơ quan đại diện hạch toán báo sổ khi thực hiện dự toán và quyết toán, theo phân cấp của Bộ và phụ thuộc vào ngân sách Nhà nước Cơ quan này không phải là cơ quan hạch toán độc lập, mặc dù có tư cách pháp nhân nhưng không đầy đủ, do thuộc quyền quản lý của Bộ Tài Nguyên và Môi Trường.
Quanđiểmcủanhómnghiêncứuvềtranhchấpvàkiếnnghịhoànthiệnquyđịnh phápluậthiệnhành
Chúng tôi không đồng tình với phương án giải quyết của Tòa án Nhân dân Quận 1, do tòa đã xác định sai tư cách pháp nhân của bị đơn theo Điều 92 Bộ luật Dân sự, gây ảnh hưởng đến quyền lợi của ông Hùng Trong vụ án này, cơ quan đại diện của Bộ TN&MT chỉ có tư cách pháp nhân đầy đủ khi được ủy quyền tham gia tố tụng từ Bộ, và thực tế hoạt động của cơ quan này vẫn phụ thuộc vào Bộ, làm rõ tư cách pháp nhân là rất quan trọng để xác định đúng đối tượng tố tụng Nếu tòa sơ thẩm xác định đúng tư cách pháp nhân của bị đơn, Cơ quan đại diện sẽ không thể kháng cáo và mới có thể thực hiện các chế độ bồi thường, quyền lợi cho ông Hùng đúng luật Ngược lại, tòa cũng xác nhận sai dẫn đến quyền lợi của ông Hùng bị ảnh hưởng Sau đó, Tòa án Nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh đã phát hiện sai sót của Tòa Quận 1 trong phiên sơ thẩm, và trong phiên phúc thẩm đã xác định đúng tư cách pháp nhân của bị đơn theo quy định của pháp luật dân sự, từ đó xét xử lại vụ án nhằm bảo vệ quyền lợi hợp pháp của ông Hùng.
Dựa theo chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Cơ quan đại diện Bộ TN&MT, chúng tôi nhận định rằng cơ quan này có tư cách pháp nhân nhưng chưa đầy đủ, vẫn là đơn vị phụ thuộc vào Bộ Theo khoản 4 Điều 92 Bộ luật Dân sự 2015, văn phòng đại diện, chi nhánh không phải là pháp nhân, và người đứng đầu thực hiện nhiệm vụ trong phạm vi ủy quyền của pháp nhân Mặc dù Quyết định thành lập cơ quan tại TP.HCM ghi rõ “cơ quan đại diện có tư cách pháp nhân, có con dấu và tài khoản riêng”, nhưng về mặt pháp lý, cơ quan này vẫn là bộ phận của Bộ TN&MT Bộ luật Dân sự 2015 quy định rõ các điều kiện để một tổ chức có tư cách pháp nhân đầy đủ, và mọi cá nhân, tổ chức đều phải tuân thủ Ngoài ra, lý luận pháp luật cũng cho thấy cơ quan đại diện của Bộ không thể coi là pháp nhân vì không thỏa mãn điều kiện tại khoản 4 Điều 84 Bộ luật Dân sự 2015, vì hoạt động của cơ quan này vẫn nằm dưới sự quản lý và điều hành của Bộ.
Bộ luật Dân sự 2015 quy định về pháp nhân gồm hai loại là pháp nhân thương mại và pháp nhân phi thương mại, tuy nhiên không đề cập đến một số chủ thể như hộ gia đình, doanh nghiệp tư nhân hay các tổ chức không phải là pháp nhân, gây khó khăn trong vấn đề tham gia giao dịch dân sự của những chủ thể này Các quy định hiện hành chỉ tập trung vào cá nhân và pháp nhân, khiến cho các chủ thể không có tư cách pháp nhân gặp nhiều hạn chế khi tham gia các giao dịch dân sự Điều này đã tạo ra rào cản pháp lý đối với các tổ chức và doanh nghiệp nhỏ trong việc thực hiện các hoạt động thương mại, đồng thời cần có các điều chỉnh phù hợp để mở rộng phạm vi đăng ký và tham gia giao dịch cho các chủ thể không phải là pháp nhân.
Khi tham gia giao dịch tại ngân hàng, khách hàng buộc phải chuyển tài khoản sang chế độ cá nhân để tiếp tục thực hiện giao dịch; nếu không, ngân hàng sẽ đóng tài khoản, điều này gần như xóa bỏ các doanh nghiệp tư nhân và các thực thể pháp lý khác Chủ thể pháp luật luôn tồn tại dưới hai dạng chính là cá nhân và tổ chức, trong đó tổ chức có thể có hoặc không có tư cách pháp nhân Một doanh nghiệp tư nhân do một cá nhân làm chủ, có nhân sự, mục tiêu, chức năng, vốn và tài sản riêng, đặt ra câu hỏi về năng lực chủ thể pháp luật của doanh nghiệp đó theo quy định của Bộ luật Dân sự 2015 Do những bất cập này, chúng tôi kiến nghị Quốc hội rà soát, sửa đổi các quy định không phù hợp về xác định chủ thể của quan hệ pháp luật dân sự trong Bộ luật Dân sự 2015 Đồng thời, Chính phủ cần có các biện pháp cụ thể và hướng dẫn thực thi luật để đảm bảo quyền lợi hợp pháp của các tổ chức, cộng đồng doanh nghiệp, góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội.
Trong quá trình nghiên cứu, nhóm đã hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ làm rõ các vấn đề pháp lý quan trọng liên quan đến chủ đề pháp nhân và chủ thể của pháp luật dân sự Các nội dung chính được trình bày rõ ràng, tập trung vào vai trò và đặc điểm của pháp nhân trong hệ thống pháp luật Việt Nam Đồng thời, bài viết phân tích các quy định pháp lý liên quan, giúp xác định quyền và nghĩa vụ của các chủ thể pháp luật, góp phần nâng cao nhận thức về pháp lý trong lĩnh vực dân sự.
Nhóm nghiên cứu đã nghiên cứu rõ về pháp nhân và những điều kiện, điểm mới của tổ chức được công nhận là pháp nhân, cùng với năng lực chủ thể và một số vấn đề về lý lịch của pháp nhân Những nội dung này đã được quy định trong Bộ luật Dân sự năm 2015 thông qua các biện pháp phân loại, phân tích, giải thích, so sánh với Bộ luật Dân sự 2005 và đưa ra ví dụ thực tế để làm rõ các điểm khác biệt và tiến bộ của luật mới.
Nhóm nghiên cứu đã vận dụng linh hoạt kiến thức pháp lý trong việc giải quyết vụ án thực tế, từ đó thể hiện những vấn đề pháp lý bị tòa án bỏ qua hoặc chưa xử lý triệt để Qua quá trình phân tích, họ đã phát hiện và chỉ ra những bất cập trong Bộ luật Dân sự hiện hành Cuối cùng, dựa trên kiến thức thực tế và các hạn chế đó, nhóm đã đề xuất các giải pháp nhằm củng cố và hoàn thiện hệ thống pháp luật của nhà nước, góp phần nâng cao hiệu quả thi hành pháp luật dân sự.