ĐẠI HỌC QUỐC GIA TP HỒ CHÍ MINH TRƯỜNG ĐẠI HỌC BÁCH KHOA TP HỒ CHÍ MINH NHÓM L17 R PHÁP NHÂN CHỦ THỂ CỦA QUAN HỆ PHÁP LUẬT DÂN SỰ Bài tập lớn môn Pháp luật Việt Nam đại cương TP HỒ CHÍ MINH 2021 BÁO C[.]
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA TP HỒ CHÍ MINH
TRƯỜNG ĐẠI HỌC BÁCH KHOA TP HỒ CHÍ MINH
Trang 2BÁO CÁO PHÂN CÔNG NHIỆM VỤ VÀ KẾT QUẢ THỰC HIỆN ĐỀ TÀI CỦA TỪNG THÀNH VIÊN NHÓM R LỚP L17
1 Phan Đoàn Phi Tiến 2010692 Mở Đầu ; 1.1.1;1.1.2;
Kết Luận; Tổng Hợp BàiTập Lớn
NHÓM TRƯỞNG (ghi rõ họ tên, ký tên)
Phan Đoàn Phi Tiến
Phan Đoàn Phi Tiến
SĐT : 0833136477
Trang 3Email:tien.phan2432002@hcmut.edu.vn
Trang 4Mục lục
PHẦN MỞ ĐẦU 1
1 Lý do chọn đề tài 1
2 Nhiệm vụ của đề tài 2
CHƯƠNG I NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ PHÁP NHÂN – CHỦ THỂ QUAN HỆ PHÁP LUẬT DÂN SỰ 3
1.1 Khái niệm và phân loại pháp nhân theo pháp luật dân sự Việt Nam 3
1.1.2 Khái niệm pháp nhân 3
1.1.2 Phân loại pháp nhân 4
1.2 Các điều kiện để tổ chức được công nhận là pháp nhân 7
1.2.1 Được thành lập theo quy định của Bộ luật Dân sự, luật khác có liên quan 7
1.2.2 Có cơ cấu tổ chức theo quy định tại Điều 83 của Bộ luật Dân sự 8
1.2.3 Có tài sản độc lập với cá nhân, pháp nhân khác và tự chịu trách nhiệm bằng tài sản của mình 10
1.2.4 Nhân danh mình tham gia quan hệ pháp luật một cách độc lập 12
1.3 Năng lực chủ thể của pháp nhân và một số vấn đề về yếu tố lý lịch của pháp nhân 12
1.3.1 Năng lực chủ thể của pháp nhân 12
1.3.2 Một số vấn đề về yếu tố lý lịch của pháp nhân 14
CHƯƠNG II THỰC TIỄN XÁC ĐỊNH TƯ CÁCH PHÁP NHÂN TRONG TRANH CHẤP THỰC TẾ 15
2.1 Vấn đề pháp lý pháp sinh trong vụ việc và quan điểm của các cấp Tòa án 16
2.1.1 Vấn đề pháp lý pháp sinh trong vụ việc 16
2.1.2 Quan điểm của các cấp Toà án xét xử vụ việc 17
2.2 Quan điểm của nhóm nghiên cứu về tranh chấp và kiến nghị hoàn thiện quy định pháp luật hiện hành 18
2.2.1 Quan điểm của nhóm nghiên cứu về tranh chấp 18
2.2.2 Bất cập và kiến nghị hoàn thiện quy định pháp luật hiện hành 19
PHẦN KẾT LUẬN 21
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 22
Trang 5PHẦN MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Đề tài được nhóm nghiên cứu lựa chọn thuộc lĩnh vực luật Dân sự điều chỉnh (cụ thểtrong Bộ luật Dân sự năm 2015) Đối tượng nghiên cứu chính của đề tài là pháp nhân mộttrong những chủ thể của quan hệ pháp luật dân sự
Hiện nay, nước ta đang trên con đường phát triển và hội nhập mạnh mẽ vào nền kinh tếquốc tế đặc biệt sau khi Việt Nam gia nhập tổ chức thương mại quốc tế WTO năm 2007.Nâng cao hiệu quả của quản lý nhà nước và hoàn thiện hệ thống pháp luật điều chỉnh cácchủ thể kinh doanh nói riêng và chủ thể các quan hệ pháp luật nói chung sẽ là một điều kiệnthen chốt, một đòi hỏi bắt buộc để phát triển nền kinh tế Trong hệ thống các chủ thể củaquan hệ pháp luật có chủ thể cá nhân - một chủ thể truyền thống tham gia vào các quan hệdân sự nhưng mà trong cuộc sống, trong quá trình quản lý nhà nước, trong quá trình kinhdoanh thì không phải lúc nào cá nhân tham gia cũng đạt hiệu quả chính vì vậy hình thànhchủ thể pháp nhân Pháp nhân là một chủ thể cơ bản tham gia vào các quan hệ dân sự đượcquy định tại các ngành luật khác nhau, bao quát các quan hệ pháp luật trong đời sống xã hội
Vì thế, khi nhắc đến pháp nhân với tư cách chủ thể quan hệ pháp luật người ta thường nhắcđến đầu tiên trong pháp luật Dân sự
Dưới góc độ lý luận, việc giải quyết cụ thể và triệt để đề tài được nêu trên sẽ góp phầnquan trong việc trong xây dựng và hoàn thiện bộ khung pháp luật hiện hành của Nhà nướcCộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam Với những quan điểm, kiến nghị mới và xuất phát từthực tiễn của nhóm nghiên cứu, những thiếu sót, “lỗ hổng” trong Bộ luật Dân sự năm 2015
sẽ được phát hiện và sửa chữa đồng thời bổ sung hay bác bỏ nhằm đảm bảo tính xã hội củapháp luật
Dưới góc độ thực tiễn, khi nghiên cứu đề tài này, nhóm nghiên cứu sẽ lấy tư liệu từchính những vụ việc pháp lý xảy ra trong thực tế mà Bộ luật Dân sự năm 2015 chưa đề cập
Trang 6đến hoặc chưa nêu rõ cụ thể cách thi hành Việc giải quyết những trường hợp này một cáchphù hợp, chính trực và đảm bảo công bằng sẽ cải thiện hai những điều sau:
Thứ nhất, về phía người dân, sẽ có những cái nhìn bao quát, rõ ràng hơn về hệ thốngpháp luật hiện hành Từ đó có kiến thức và kĩ năng quan trọng để bảo vệ chính quyền lợi củamình và người khác
Thứ hai, về phía nhà nước (hay cụ thể là những cơ quan thi hành pháp luật) sẽ có cơ sởpháp lý vững chắc để giải quyết những vụ án có tính chất tương tự dưới góc độ khoa họcpháp lý và khoa học xã hội nói chung, đề tài này sẽ là một minh chứng cho việc vận dụngnhững hiện trạng thực tiễn để đặt yêu cầu cho sự phù hợp của lí luận đang được sử dụng
Vì vậy, những vấn đề mà đề tài của nhóm nghiên cứu đề cập đến có vai trò đặc biệtquan trọng và cấp thiết đối với ngành Luật Dân sự hay hệ thống Pháp luật Việt Nam nóichung Nói rộng hơn, việc giải quyết tốt đề tài này sẽ góp phần xây dựng một hành langpháp lý vững chắc, đảm bảo làm nền tảng vững chắc để nhà nước và nhân dân thực hiện việcphát triển kinh tế một cách hiệu quả và dễ kiểm soát Từ đó dẫn đến sự ổn định và phát triểnlâu dài và liên tục cho nền kinh tế và xã hội nước nhà
Vì những lý do trên, nhóm tác giả thựa hiện việc nghiên cứu đề tài “PHÁP NHÂNCHỦ THỂ CỦA QUAN HỆ PHÁP LUẬT DÂN SỰ” cho Bài tập lớn trong chương trìnhhọc môn Pháp luật Việt Nam Đại cương
2 Nhiệm vụ của đề tài
Trong đề tài này, để giải quyết các vấn đề được đặt ra ở trên, nhóm sẽ thực hiện đề tàipháp nhân với việc giải quyết các nhiệm vụ sau:
Một là, làm rõ lý luận về những chế định về pháp nhân – chủ thể quan hệ pháp luật dân
sự Trong đó, nhóm tác giả nghiên cứu những vấn đề về khái niệm; các điều kiện để tổ chứcđược công nhận là pháp nhân; năng lực chủ thể của pháp nhân cũng như việc thành lập,chấm dứt hoạt động pháp nhân
Hai là, tập trung phân tích, đánh giá những tiêu chí để công nhận tổ chức có tư cách
pháp nhân trong pháp luật dân sự Việt Nam
Trang 7Ba là, nghiên cứu tình huống từ thực tiễn Toà án để nhận diện tổ chức có tư cách pháp
nhân trong thực tế, phát hiện ra bất cập quy định pháp luật và thực tiễn
Bốn là, kiến nghị hoàn thiện pháp luật về chế định pháp nhân trong quan hệ Dân sự.
CHƯƠNG I.
NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ PHÁP NHÂN – CHỦ THỂ QUAN HỆ
PHÁP LUẬT DÂN SỰ 1.1 Khái niệm và phân loại pháp nhân theo pháp luật dân sự Việt Nam
1.1.2 Khái niệm pháp nhân
Trong lịch sử đã có thời kỳ pháp luật còn chưa hề biết đến khái niệm pháp nhân Từ thời
cổ đại đến thời kỳ phong kiến đã xuất hiện những giáo hội, đây là những tổ chức hình thànhtrên cơ sở hợp tác liên kết, không tham gia vào các quan hệ pháp luật, quan hệ dân sự Các
tổ chức này không nhân danh mình mà nhân danh các thành viên của hội - nhân danh cácchủ sở hữu của các tài sản được đưa vào sử dụng để thực hiện các hành động giao dịch Khithực hiện nguyên tắc tách bạch về tài sản cũng là khi xuất hiện một nhân cách pháp lý mớitách bạch với nhân cách của chủ sở hữu hoặc cộng đồng sở hữu Để đặt tên cho nhân cáchpháp lý mới đó, khái niệm pháp nhân ra đời Dưới đây là các khái niệm khác nhau của phápnhân được hiểu với nhiều cách và qua nhiều giai đoạn:
Chữ pháp-法 có nghĩa là phép tắc, khuôn phép, khuôn mẫu Chữ nhân - 人 là người.Khái niệm pháp nhân (法人) theo từ điển Hán – Việt là danh từ luật pháp, chỉ một tổ chức,đoàn thể, có đầy đủ nghĩa vụ và quyền lợi trước pháp luật như một cá nhân.1
Theo cách hiểu của người làm ngành luật luật thì pháp nhân – một thuật ngữ được dùng
để phân biệt tư cách của các chủ thể là tổ chức với cá nhân trong các quan hệ pháp lý Thôngthường đây sẽ là cách gọi được dùng cho những loại hình doanh nghiệp được hình thành vàđáp ứng được các điều kiện để hình thành pháp nhân theo quy định của pháp luật Điều nàyđồng nghĩa với việc không phải bất cứ doanh nghiệp hay loại hình tổ chức nào cũng có tư
1 Nguyễn Quốc Hùng : Từ điển hán – nôm.
Trang 8cách chủ thể này Vì khi đã được xác lập là pháp nhân đồng nghĩa với việc tổ chức đó cómột số quyền lợi nhất định mà những chủ thể khác không thể nào đạt được.2
Còn trong văn bản pháp luật pháp nhân được quy định tại Điều 74 Bộ luật Dân sự 2015định nghĩa pháp nhân:
“1 Một tổ chức được công nhận là pháp nhân khi có đủ các điều kiện sau đây:a) Được thành lập theo quy định của Bộ luật này, luật khác có liên quan;
b) Có cơ cấu tổ chức theo quy định tại Điều 83 của Bộ luật này;
c) Có tài sản độc lập với cá nhân, pháp nhân khác và tự chịu trách nhiệm bằng tàisản của mình;
d) Nhân danh mình tham gia quan hệ pháp luật một cách độc lập
2 Mọi cá nhân, pháp nhân đều có quyền thành lập pháp nhân, trừ trường hợp luật
có quy định khác.”
Với Bộ luật trên tuy không quy định cụ thể về khái niệm, nhưng lại rất ngắn gọn đưa rađược tất cả những yếu tố để trở thành pháp nhân của một chủ thể Qua điều này ta thấy đượckhông nhất thiết chúng cần phải biết được khái niệm về pháp nhân một cách rành mạch màđiều quan trọng hơn cả đã được nhấn mạnh trong Bộ luật Dân sự năm 2015 là các điều kiện
để một tổ chức được công nhân là pháp nhân
Ví dụ về pháp nhân: Các cơ quan nhà nước (như Đảng Cộng sản Việt Nam, Ủy ban nhân
dân các cấp, Tòa án, các trường đại học, ), Công ty TNHH, Công ty cổ phần là những tổchức có tư cách pháp nhân
1.1.2 Phân loại pháp nhân
(i) Phân loại theo Bộ luật Dân sự 2015.
Việc phân loại đầu tiên có liên quan đến các mục tiêu của hoạt động Vì vậy, tất cảcác pháp nhân được chia thành phi lợi nhuận và thương mại
2 Luật Việt Tín 31/08/2018 Pháp nhân là gì? Quy định về tư cách pháp nhân.
Trang 9Theo Điều 75 Bộ luật Dân sự năm 2015: “Pháp nhân thương mại là pháp nhân có mụctiêu chính là tìm kiếm lợi nhuận và lợi nhuận được chia cho các thành viên bao gồm doanhnghiệp và các tổ chức kinh tế khác Việc thành lập, hoạt động và chấm dứt pháp nhânthương mại được thực hiện theo quy định của Bộ luật này, Luật doanh nghiệp và quy địnhkhác của pháp luật có liên quan.”
Trong các đặc điểm được nêu ra ở Điều 75 ở trên thì đặc điểm được coi là phù hợpvới mục đích của nó nhất và là điều kiện tiên quyết để được coi là pháp nhân thương mại làkiếm lợi nhuận và lợi nhuận được chia cho các thành viên Một công ty trách nhiệm hữuhạn hay một tổ chức kinh tế có vốn được chia thành nhiều phần và những người tham giachỉ nên chịu rủi ro thua lỗ trong cổ phiếu của mình Một hình thức khác của loại pháp nhânnày là một công ty cổ phần Đây là một tổ chức có vốn ủy quyền được chia thành cổ phần
và người tham gia chỉ chịu rủi ro trong chính cổ phiếu của mình Có thể thấy, pháp nhânthương mại mang yếu tố mục đích lợi ích riêng của pháp nhân, thành lập ra để kiếm lợinhuận phân chia cho cá nhân hoặc pháp nhân góp vốn đầu tư hoặc tiếp tục cho vào quỹ phápnhân nhằm mục đích duy trì lâu dài Ví dụ: anh T và công ty P thành lập ra công ty tráchnhiệm hữu hạn PT, với vốn điều lệ là 10 tỷ, công ty PT hoạt động nhằm mục đích thu lợinhuận sau đó sẽ chia cho anh T và công ty P để kiếm lợi nhuận cho riêng cá nhân anh T và
tổ chức P
Theo Điều 76 Bộ luật Dân sự năm 2015: “Pháp nhân phi thương mại là pháp nhânkhông có mục tiêu chính là tìm kiếm lợi nhuận; nếu có lợi nhuận thì cũng không được phânchia cho các thành viên bao gồm cơ quan nhà nước, đơn vị vũ trang nhân dân, tổ chức chínhtrị, tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức chính trị xã hội - nghề nghiệp, tổ chức xã hội, tổ chức
xã hội - nghề nghiệp, quỹ xã hội, quỹ từ thiện, doanh nghiệp xã hội và các tổ chức phithương mại khác Việc thành lập, hoạt động và chấm dứt pháp nhân phi thương mại đượcthực hiện theo quy định của Bộ luật này, các luật về tổ chức bộ máy nhà nước và quy địnhkhác của pháp luật có liên quan.”
Cũng như pháp nhân thương mại điều kiện tiên quyết để chủ thể này được coi là phápnhân phi thương mại là nó không mưu cầu lợi nhuận Hiện nay, qua khái niệm về phápnhân phi thương mại trên có thể thấy pháp nhân phi thương mại là tổ chức, có tư cách pháp
Trang 10nhân, hoạt động nhằm mục đích, lợi ích cộng đồng Có thể hiểu, mục đích của pháp nhân phithương mại mục đích chính không phải kinh doanh, cũng càng không phải vì kiếm lợi nhuậncho cá nhân hay tổ chức nào, mục đích chính là mang lợi ích cho một nhóm đối tượng nhấtđịnh mà pháp nhân phi thương mại thành lập ra hướng tới để hỗ trợ cho những nhóm đốitượng đó Đây có thể là các hiệp hội của công dân được hình thành trên cơ sở tự nguyện,những người tham gia trong một tổ chức như vậy không có quyền tài sản đối với tài sảnđược chuyển giao cho họ Ví dụ: một số tổ chức tu viện, một số tổ chức hỗ trợ những người
từ thiện; các tổ chức khác có đủ các điều kiện quy định tại Điều 8 của bộ luật này.”
So với Bộ luật năm 2015 thì Bộ luật năm 2005 phức tạp hơn, cách chia đa dạng hơnnhưng cách chia đó dễ bị chồng chéo từ đó gây khó khăn cho việc xây dựng để quản lí nhànước và thúc đẩy hiệu quả hoạt động của pháp nhân Còn về cách chia pháp nhân của Bộluật Dân sự 2015 thì gọn gàng, dễ hiểu và hơn hết với cách phân chia này thì nó tương thíchvới Bộ luật Hình sự (sửa đổi năm 2015) về việc truy cứu trách nhiệm hình sự của pháp nhânthương mại nếu phân loại như năm 2005 thì khó xác định pháp nhân nào bị truy cứu tráchnhiệm hình sự
“Trách nhiệm hình sự của pháp nhân là một vấn đề mới trong khoa học pháp lý hình sựcủa nước ta, ngày 27/11/2015, các đại biểu Quốc hội làm việc tại hội trường, biểu quyếtthông qua dự thảo Bộ luật Hình sự (sửa đổi) với 84.01% đại biểu tán thành, Quốc hội đãthông qua Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi) Việc hiểu rõ các quy định về trách nhiệmhình sự của pháp nhân trong Bộ luật Hình sự năm 2015 có ý nghĩa lớn về mặt nhận thức vàđưa ra các giải pháp thực thi hiệu quả trong thực tiễn.” 3
3 Hoàng Văn Vân ( Cập nhật lúc: 16:01 24/04/2017 ) : Một số vấn đề về truy cứu trách nhiệm hình sự đối với pháp nhân thương mại theo Bộ luật Hình sự năm 2015
Trang 11(ii) Phân loại theo tiêu chí thủ tục thành lập, nguồn thu và mục đích hoạt động – có pháp nhân công pháp và pháp nhân tư pháp.
Pháp nhân công pháp trong luật Việt Nam là pháp nhân công quyền do nhà nước thànhlập nắm giữ quyền lực công cộng và thực hiện một trong các chức năng của Nhà nước hoặcđảm nhận một vai trò quan trọng trong hệ thống chính trị xã hội chủ nghĩa Pháp nhân côngpháp mang tính mệnh lệnh hành chính bắt buộc, hoạt động từ sự cấp phát ngân sách từ nhànước Bên cạnh đó, pháp nhân công pháp không được trực tiếp tham gia sản xuất hoạt độngthương mại nhằm mục đích tìm kiếm lợi nhuận Ví dụ về pháp nhân công pháp như Ðảngcộng sản, giữ vị trí trung tâm trong hệ thống chính trị, mặt trận tổ quốc, lực lượng vũtrang, , các doanh nghiệp sản xuất, hoạt động lĩnh vực công ích như công ty điện lực, công
ty cấp thoát nước,…
Pháp nhân tư pháp không mang tính mệnh lệnh hành chính tư pháp nhân công pháp.Bản chất của pháp nhân tư pháp là trên nguyên tắc tự nguyện tài chính, thông qua sự thỏathuận và thống nhất của các thành viên Tổ chức kinh tế là ví dụ điển hình về pháp nhân tưpháp Tổ chức kinh tế có thể là doanh nghiệp, các hợp tác xã, các công ty trách nhiệm hữuhạn, công ty cổ phần, các hội tự nguyện của những người có cùng nghề nghiệp, cùng sởthích, cùng lợi ích cá nhân chung (như hội những người nuôi heo, hội làm vườn, hội sưu tằm
đồ cổ, ) cũng là các pháp nhân tư pháp
1.2 Các điều kiện để tổ chức được công nhận là pháp nhân
1.2.1 Được thành lập theo quy định của Bộ luật Dân sự, luật khác có liên quan
“Tổ chức phải được thành lập theo quy định của pháp luật Tuy không quy định cụthể về khái niệm, nhưng qua các điều kiện thì có thể đưa ra một khái niệm cơ bản của phápnhân Pháp nhân không phải là một cá nhân mà là một tổ chức Tổ chức này được cơ quannhà nước có thẩm quyền thành lập hoặc cho phép thành lập Vì vậy tổ chức đó được côngnhận là có tư cách pháp nhân kể từ ngày được cấp giấy chứng nhận thành lập.” Điều 74 Bộluật Dân sự 2015
“Được thành lập một cách hợp pháp Một tổ chức được coi là hợp pháp nếu có mụcđích, nhiệm vụ hợp pháp và được thành lập hợp pháp theo trình tự và thủ tục do luật quy
Trang 12định Tổ chức hợp pháp được Nhà nước công nhận dưới các dạng: Cơ quan nhà nước cóthẩm quyền thành lập, cho phép thành lập, đăng kí hoặc công nhận Nhà nước bằng các quyđịnh về thẩm quyền ra quyết định thành lập, trình tự, thủ tục thành lập, điều kiện thành lậpcác tổ chức chi phối đến các tổ chức tồn tại trong xã hội Việc công nhận sự tồn tại một tổchức phụ thuộc vào hoạt động của tổ chức đó có phù hợp với lợi ích của giai cấp thống trịhay không Một khi sự tồn tại của một tổ chức (không chỉ là tổ chức chính trị) có nguy cơđến tồn tại của nền tảng xã hội, ảnh hưởng đến lợi ích của giai cấp thống trị thì Nhà nướckhông cho phép nó tồn tại.”4
Ý nghĩa của quy định này là:
Thừa nhận sự ra đời và khai sinh pháp nhân, tạo ra một hành lang pháp lý cho sự rađời của pháp nhân, quy định sự kiện pháp lý cái sự kiện pháp lý làm phát sinh cái tư cáchchủ thể pháp nhân, đồng thời đó còn là thời điểm chuyển giao các quyền và nghĩa vụ từngười được các sáng lập viên ủy quyền tiến hành các thủ tục cần thiết đề thành lập phápnhân sang cho pháp nhân
Thông qua các quy định này, nhà làm luật tạo các cơ sở pháp lý để cho các cơ quannhà nước kiểm tra giám sát việc thành lập các tổ chức, đồng thời cũng là ngăn ngừa không
để cho các tổ chức nguy hại cho xã hội được ra đời
Việc thành lập hợp pháp còn là cơ sở pháp lý để tòa án cũng như các cơ quan tòa
án khác xem cái tính hợp pháp của pháp nhân và giải quyết các tranh chấp liên quan đến sựthành lập và tồn tại của pháp nhân này
1.2.2 Có cơ cấu tổ chức theo quy định tại Điều 83 của Bộ luật Dân sự
Theo Điều 83 Bộ luật Dân sự 2015, pháp nhân phải là một tổ chức có cơ cấu quản lýchặt chẽ:
“1 Pháp nhân phải có cơ quan điều hành Tổ chức, nhiệm vụ và quyền hạn của cơ quan điều hành của pháp nhân được quy định trong điều lệ của pháp nhân hoặc trong quyết định thành lập pháp nhân.
4 Huy Hà (2018), Phân tích các điều kiện của pháp nhân
Trang 132 Pháp nhân có cơ quan khác theo quyết định của pháp nhân hoặc theo quy định của pháp luật.”
Theo các quy định vừa nêu thì pháp nhân phải có cơ quan điều hành Đây là yêu cầu
cơ bản của một tổ chức pháp nhân Pháp nhân không phải là một con người mà là một tổchức, tổ chức ở đây là tập hợp nhiều người cùng hoạt động theo một mục đích nhất định Đểcho cái hoạt động một cách trôi chảy nhất quán thì tổ chức đó không thể là sự kết hợp rời rạccủa các cá nhân đơn thuần mà phải là một tập thể có ý chí và hành động thống nhất Vì thế,
để có thể vận hành pháp nhân cần có bộ máy làm việc tương đối hoàn chỉnh, bao gồm đầy
đủ các cơ quan tổ chức, các đơn vị chuyên môn và các bộ phận nghiệp vụ của tổ chức đó.Các bộ phận chuyên môn thì sẽ thực hiện các chức năng nhiệm vụ chính của pháp nhân, còncác bộ phận nghiệp vụ thì sẽ thực hiện các công việc chung để hỗ trợ và tạo các điều kiệncần thiết cho các bộ phận chuyên môn hoạt động tốt Tùy theo những loại pháp nhân khácnhau mà có các cơ quan điều hành tương ứng
“Pháp nhân không chỉ có cơ quan điều hành mà còn có các cơ quan khác Pháp nhân
có cơ quan khác theo quyết định của pháp nhân hoặc theo quy định của pháp luật.” theokhoản 2, Điều 83, Bộ luật Dân sự 2015 Cơ cấu tổ chức thông thường của một pháp nhânbao gồm:
Cơ quan điều hành: giám đốc, tổng giám đốc, chủ tịch
Các bộ phận chức năng nghiệp vụ: bộ phận tổ chức hành chính, bộ phận kế toán, tài
vụ, bộ phận quản trị tài sản, bộ phận pháp chế văn phòng
Cũng vì pháp nhân là một tổ chức có nhiều đơn vị, bộ phận khác nhau vì vậy mà phápnhân cần có một cơ quan điều hành, đó chính là bộ phận đầu não, một trung tâm chỉ huycũng giống như con người chúng ta cũng cần có một não bộ để điều phối các hoạt động củatừng cá nhân, từng bộ phận của pháp nhân cũng như là sự phối hợp của các con người bộphận khác nhau trong nội bộ của pháp nhân đó Có cơ quan điều hành, điều phối và chỉ đạocác hoạt động sẽ làm cho pháp nhân trở thành một tập hợp người, tạo ra được sự liên kếttương đối bền vững, cũng như làm cho pháp nhân khác với một tập hợp người giản đơn