Báo cáo thực tập: Ảnh hưởng của sự phát triển dân số tới sự phát triển kinh tế nước ta
Trang 1I/ Phần mở đầu
Trong nhiều năm gần đây , cũng nh các nớc đang phát triển khác ở Châu á và Châu Phi , chúng ta đang phải đối mặt với hiện tợng tăng dân số quá nhanh cùng với những tác động của nó mang lại , đã biến nớc ta trở thành một trong số những
n-ớc đông dân vào loại cao trên thế giới Đầu công nguyên , nn-ớc ta mới chỉ có 1 triệu ngời ( bằng 0,4% dân số thế giơí ) , trong thế kỷ XX này , dân số nớc ta dao động trong khoảng 1,2 - 1,3% dân số thế giới Đặc biệt từ nửa sau thế kỷ XX , dân số
n-ớc ta tăng vọt một cách đáng kể so với thời gian trn-ớc đó Đỉnh cao của thời kỳ sau kháng chiến (1954-1960) , mức tăng dân đạt kỷ lục là 3,93%/ năm Do những nỗ lực của Đảng và Nhà nớc ta trong xây dựng chính sách , tuyên truyền vận động và
kế hoạch hoá dân số mà từ những năm 70 trở lại đây , tốc độ dân số có giảm , tuy vẫn dao động ở mức 2,1- 2,2%/ năm ( mức trung bình của thế giới là 1,65%/ năm ) , cao hơn tỷ lệ tăng dân số của 41 nớc (2%/ năm) trong tổng số 82 nớc đang phát triển trên thế giới Tính đến giữa năm 1997, dân số nớc ta là 76,7 triệu ngời, đứng thứ 13 trên thế giới và đứng thứ 2 ở Đông Nam á ( chỉ sau Indonesia ) Sự tăng nhanh của dân số nh vậy đã làm cản trở lớn tới tốc độ phát triển kinh tế xã hội , hạn chế việc nâng cao chất lợng cuộc sống ; đồng thời nó làm nảy sinh nhiều hiện tợng tiêu cực trong xã hội nh thiếu việc làm , tệ nạn mại dâm , ma tuý , tội phạm thanh thiếu niên gia tăng
Tuy nhiên , tốc độ gia tăng cũng có chiều hớng giảm trong những năm gần đây ( trung bình gần 0,1%/năm ) , điều đó cũng đã có những tác động tích cực đến phát triển kinh tế - xã hội , mà trực tiếp là đến việc nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân Mặc dầu vậy , với tốc độ tăng dân số nh hiện nay , dân số nớc ta
sẽ nhanh chóng đạt đến con số 100 triệu ngời vào đầu thế kỷ tới Đây là kết quả của một thời kỳ dài với mức sinh của dân c cao Khoảng thời gian để nớc ta tăng lên gấp đôi có xu hớng ngày một ngắn lại : từ 17 triệu ngời ( năm 1931) lên 34 triệu ngời ( năm 1965 ) phải mất 35 năm , nhng để tăng dân số từ 30 triệu ngời ( năm 1960) lên 60 triệu ngời ( năm 1985 ) chỉ mất có 25 năm Với tốc độ tăng nh vậy , hàng năm nớc ta có thêm từ 1,5 đến 1,6 triệu công dân mới , đòi hỏi phải đợc chăm sóc và bảo đảm về mọi mặt từ lơng thực , thực phẩm đến các dịch vụ xã hội khác Trong khi đó , không phải khi nào nền sản xuất xã hội và tài nguyên thiên nhiên cũng nh mức tăng trởng của nền kinh tế đều có thể luôn luôn tạo ra đủ của cải vật chất để đáp ứng đợc nhu cầu này Đây là thách thức không phải của riêng nớc ta
mà là của rất nhiều nớc đang phát triển khác Trong điều kiện đó , chúng ta đã thực
Trang 2hiện nhiều chính sách cụ thể, thiết thực để nâng cao mọi mặt đời sống của nhân dân Theo đánh giá của UNDP ( năm 1998 ) , Việt Nam vẫn duy trì đợc sự phát triển con ngời Xếp hạng các nớc theo chỉ tiêu HDI ( chỉ tiêu tổng hợp của tuổi thọ , học vấn và thu nhập bình quân đầu ngời ) , thì HDI của Việt Nam cao hơn 26 bậc so với mức xếp hạng về giá trị GDP bình quân đầu ngời Điều đó có nghĩa là , tuy mức thu nhập của nớc ta còn thấp , nhng chúng ta đã quan tâm nhiều hơn đến việc phát triển con ngời một cách toàn diện UNDP thừa nhận " Việt Nam đã thành công trong việc chuyển hoá thành quả của sự tăng trởng kinh tế thành chất lợng cao hơn tơng ứng cho cuộc sống của ngời dân "
Từ nhận định trên đây về dân số Việt Nam trong những năm qua , chúng ta thấy rằng : tình hình dân số ngày một tăng lên với số lợng không ngừng đã và đang là thách thức không chỉ đối với Đảng , Nhà nớc mà còn đối với toàn xã hội Một xã hội có phát triển hay không cũng còn phụ thuộc nhiều yếu tố tác động đến nó nhng yếu tố quan trọng nhất vẫn là làm sao có thể kiểm soát đợc tình hình gia tăng dân số
để từ đó nêu ra những biện pháp hành động thích hợp , đồng thời sử dụng và đào tạo
có hiệu quả nhất nguồn nhân lực dồi dào này để có thể phục vụ cho việc phát triển
đất nớc Vì vậy , chúng ta vẫn luôn ý thức đợc rằng sự gia tăng dân số có ảnh hởng rất lớn đến quá trình phát triển kinh tế - xã hội của đất nớc
II/ Nội dung chính :
1/
ả nh h ởng của sự phát triển dân số tới sự phát triển kinh tế n ớc ta :
Dân số vừa là lực lợng sản xuất , vừa là lực lợng tiêu dùng trong xã hội Vì vậy , quy mô , cơ cấu và sự gia tăng dân số có liên quan mật thiết tới nền kinh tế nói riêng và với toàn bộ sự phát triển của mỗi quốc gia nói chung Bàn về ảnh hởng của quá trình tăng dân số đối với kinh tế có những vấn đề sau đây :
a/ Dân số - Lao động - Việc làm :
Trong vòng 20 năm qua , các nớc phát triển đã trải qua thời kỳ quá độ dân số , chuyển từ mức sinh và mức tử vong cao xuống dần đến mức thấp Ngày nay , quá trình quá độ dân số ở các nớc đang phát triển diễn ra nhanh hơn là nhờ công tác bảo
vệ sức khoẻ và y học phòng bệnh đã đợc cải thiện trong các thập niên vừa qua làm cho tỷ lệ tử vong , đặc biệt là ở trẻ sơ sinh , giảm xuống và tuổi thọ trung bình tăng
Trang 3lên rõ rệt Tuy vậy , vẫn còn nhiều quốc gia đang phát triển ( phần lỡn thuộc Châu Phi ) , mức sinh và mức chết đã giảm nhng vẫn còn cao
Riêng ở Việt Nam , dân số cũng trong thời kỳ quá độ tơng tự nh các nớc đang phát triển khác và nguồn lao động qua từng năm cũng đang còn nhiều biến động Kết quả nghiên cứu cho thấy , từ cuối những năm 80 và đầu những năm 90 của thế
kỷ này , tỷ lệ gia tăng dân số cũng nh mức sinh ở Việt Nam đã giảm rõ rệt Nếu nh năm 1960 , tỷ lệ tăng dân số nớc ta là 3,4% và số con trung bình của một phụ nữ trong độ tuổi sinh đẻ ( tuổi từ 15 đến 49) là 6,3 con thì vào năm 1989 , tỷ lệ tơng ứng là 2,29% và số con là 3,8 ; năm 1996 là 1,87% và 2,7 Tỷ lệ gia tăng dân số ở nớc ta tuy đang giảm dần nhng vẫn còn cao và do mức sinh cao trong mấy thập niên trớc , nên đà gia tăng dân số hiện nay còn lớn Số lợng dân số tăng mỗi năm khoảng 1,5 triệu ngời ( tơng đơng dân số của một tỉnh trung bình ) Tuy nhiên , để
có thể đáp ứng cho nhu cầu sống và phát triển của một lợng dân số ngày càng tăng lên nh vậy , cần phải có một lực lợng tham gia vào quá trình sản xuất t liệu sinh hoạt để con ngời tiêu dùng vào trong cuộc sống nh : lơng thực , thực phẩm , vải vóc , nhà ở , phơng tiện giao thông liên lạc , thuốc phòng chữa bệnh Song không phải toàn bộ dân số tham gia vào sản xuất , mà chỉ có một bộ phận có đủ sức khoẻ
và trí tuệ thực hiện đợc điều đó Khả năng đó , nói chung chỉ gắn với 1 độ tuổi nhất
định , thông thờng từ 15 đến 59 tuổi , gọi là " độ tuổi lao động " Luật pháp một số nớc quy định " độ tuổi lao động " dài hơn Chẳng hạn từ 15 đến 64 tuổi Đối với nữ giới , giới hạn trên của tuổi lao động có thể thấp hơn ở nớc ta và tỷ lệ dân số trong
độ tuổi lao động so với tổng dân số đang còn tăng lên cả về tuyệt đối và tơng đối
Dân số Việt Nam trong độ tuổi lao động qua một số năm gần đây:
Đơn vị : Triệu ngời
1/ Tổng dân số
2/ Dân số trong
độ tuổi lao động
3/tỷ lệ (%) so với
tổng số dân
67,774 34,690 51,18%
71,025 37,245 52,43%
73,962
39, 854 53,88%
75,709 42,575 56,23%
76,325 45,03 59%
Từ số liệu trên cho thấy , dân số trong độ tuổi lao động ở nớc ta tăng dần từ năm
1991 đến năm 1999 , năm sau nhiều hơn năm trớc phản ánh tỷ suất sinh đang giảm , tuổi thọ bình quân tăng lên Dân số nớc ta thuộc diện dân số trẻ nguồn nhân
Trang 4lực dồi dào , đó là d lợi dân số để phát triển kinh tế , đồng thời cũng là áp lực về việc làm của ngời lao động đã và đang đặt ra đối với Đảng và Nhà nóc ta trong giai
đoạn hiện nay và vài thập niên nữa
Tuy nhiên , không phải mọi ngời trong độ tuổi lao động đều tham gia hoạt động kinh tế và ngợc lại , không phải cứ ai ngoài độ tuổi lao động thì không tham gia hoạt động kinh tế Trong nghiên cứu nguồn lao động , ngời ta rất chú ý đến dân số hoạt động kinh tế trong độ tuổi lao động , vì đây là lực lợng nòng cốt nhất của mỗi quốc gia Dân số hoạt động kinh tế bao gồm những ngời đang hoạt động hoặc đang tích cực tìm cách tham gia hoạt động trong một nghành nào đó của nền kinh tế trong một khoảng thời gian xác định
Tỷ lệ tham gia lực lợng lao động so với dân số từ đủ 15 tuổi trở lên ở nớc ta năm
1997 thấp hơn năm 1996 là 1,72% phù hợp với xu hớng chung Nhờ kinh tế phát triển , dân số trên độ tuổi lao động phần lớn đợc nghỉ ngơi , không phải đi làm thêm ngày càng tăng và trẻ em ở độ tuổi vị thành niên ( trong độ tuổi lao động ) không
đ-ợc đi học phải tham gia lao động ngày càng giảm Cũng tỷ lệ này , bình quân trên thế giới giảm nhanh hơn ở Việt Nam ( năm 1995 là 63,63% ; năm 1996 là 61,07% , giảm 2,56% )
Tỷ lệ tham gia lực lợng lao động ở Việt Nam năm 1996 cao hơn tỷ lệ bình quân toàn thế giới 12,95% vì còn nhiều ngời đã hết tuổi lao động và trẻ em vị thành niên trong độ tuổi đến trờng ở nớc ta vẫn phải tham gia lao động Đồng thời , tỷ lệ tham gia lao động của dân số trong độ tuổi lao động năm sau ( 1997 ) thấp hơn năm trớc (
1996 ) Đây là một biểu hiện không bình thờng Một mặt , do tác động của quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế và ảnh hởng của cuộc khủng hoảng tài chính tiền
tệ trong khu vực đã làm cho số ngời bị mất việc làm trong độ tuổi lao động tăng lên Mặt khác , vì cha làm tốt chính sách phát triển nguồn nhân lực đã khiến cho nhiều ngời bớc vào tuổi lao động mà cha đợc đào tạo , không thể tìm đợc việc làm ngay trong năm
Đối với ngời lao động mà nói , trình độ văn hoá là cơ sở rất quan trọng để nâng cao trình độ năng lực và kỹ năng làm việc Số ngời biết đọc , biết viết trở lên ở nớc
ta chiếm 94,23% - 94,87% lực lợng lao động là tỷ lệ khá cao và có xu hớng tăng lên qua mỗi năm Số ngời tốt nghiệp cấp II ( trung học cơ sở ) và cấp III (trung học phổ thông) chiếm 45,53% - 46,49% và cũng có xu hớng tăng dần lên cho thấy khả năng tiềm ẩn về đào tạo nghề và nâng cao tay nghề của lực lợng nớc ta là khá lớn Tuy nhiên , số ngời cha qua đào tạo nghề còn rất lớn , chiếm từ 87,69% - 87,71% lực
Trang 5l-ợng lao động và có xu hớng tăng dần Điều này cũng dễ hiểu , vì 80% lực ll-ợng lao
động ở nớc ta còn làm việc ở địa bàn nông thôn và hầu nh cha qua đào tạo Tỷ lệ công nhân kỹ thuật còn thấp , chỉ có 4,37% , điều đáng lu ý ở chỗ có đến một nửa trong số họ đợc đào tạo nhng không có bằng cấp Rõ ràng , đào tạo nghề cho ngời lao động đang là vấn đề bức xúc đối với lực lợng lao động ở nớc ta Dân số ngày một tăng lên , kéo theo nó la` nguồn nhân lực dồi dào , nếu nh ta biết cách quản lý
và tích cực đào tạo về trình độ , tay nghề cho ngời lao động , chắc chắn đây sẽ trở thành một tiềm lực vững mạnh để phát triển các mặt kinh tế - xã hội cho đất nớc Nền kinh tế nớc ta , sản xuất nông nghiệp còn là chủ yếu nên lực lợng lao động
có việc làm thờng xuyên trong khu vực này chiếm tỷ lệ gần 70% Song do tác động của quá trình công nghiệp hoá nên lao động nông nghiệp có xu hớng giảm dần , năm 1996 : 69,8% ; năm 1997 : 65,84% Lao động trong khu vực công nghiệp , xây dựng và dịch vụ tăng dần , năm 1996 : 30,2% ; năm 1997 : 34,16%, trong đó tăng lên chủ yếu ở khu vực dịch vụ Mặc dù vậy, cho đến nay , Việt Nam vẫn có một cơ cấu lao động theo nghành hết sức lạc hậu Tuy lao động trong công nghiệp
và dịch vụ có tăng lên , nhng cha đáng kể , và điều đáng nói ở đây là lao động chủ yếu vẫn làm việc trong khu vực nông , lâm ng nghiêp Việc cải thiện cơ cấu lạc hậu này diễn ra rất chậm chạp Điều này phụ thuộc nhiều nguyên nhân, trong đó có yếu
tố mức sinh ở nông thôn luôn cao khoảng gấp đôi ở thành phố Do vậy , lao động tích tụ ở đây cũng ngày một nhiều và tỷ trọng giảm chậm , mặc dù đã diễn ra luồng
di dân mạnh mẽ từ nông thôn ra thành thị kèm theo sự chuyển đổi nghành nghề Trong nông nghiệp , khi số dân và lao động khu vực này tăng lên nhanh chóng thì quỹ đất canh tác lại có hạn Hơn nữa quá trình công nghiệp hoá đất nớc càng diễn ra mạnh mẽ thì đất nông nghiệp càng phải chuyển giao cho công nghiệp , dịch
vụ , các công trình công cộng khác Diện tích đất nông nghiệp không ngừng giảm xuống trong thời gian qua Năm 1921 , bình quân 0,4 ha/ngời ; năm 1993 còn 0,098 ha/ngời Bình quân hộ giàu ở nông thôn Việt Nam mới có 1,2 ha đất canh tác trong khi ở Mỹ là 80ha , ở Châu Âu là 9ha Chính sức ép về đất đai hạn hẹp đã gây
ra tình trạng thiếu việc làm trở nên phổ biến ở nông thôn nớc ta
Công nghiệp , các nghành dịch vụ là những nghành cần tập trung vốn đầu t lớn nhng do quy mô dân số tăng nhanh , cơ cấu dân số trẻ đòi hỏi cần sử dụng nhiều thu nhập quốc dân sử dụng cho giáo dục , y tế , phúc lợi xã hội dẫn đến tình trạng thiếu trầm trọng vốn tích luỹ đầu t cho công nghiệp , dịch vụ
Trang 6Một trong những vấn đề đáng lu tâm hiện nay có liên quan đến việc sử dụng có hiệu quả nguồn lao động trong nớc đi làm việc , lao động ở nớc ngoài đó là chiến
l-ợc xuất khẩu lao động ở nớc ta Nếu nh những năm 1991, 1992 , xuất khẩu lao
động khi mới chuyển sang hoạt động theo cơ chế mới , còn thiếu nhiều kinh nghiệm trong việc tìm kiếm , khai thác thị trờng mới nên số lao động đa đi còn khiêm tốn
và không ổn định, đặc biệt năm 1998 đợc coi là một năm khó khăn cho xuất khẩu lao động Việt Nam , lợng lao động giảm tử 18000 ngời năm 1997 xuống còn 10300 ngời năm 1998 do cuộc khủng hoảng tài chính - tiền tệ ; thì đến năm 2002 , số l ợng lao động của Việt Nam đã tăng vọt lên 46120 ngời nhờ khai thác đợc thị trờng Malaysia Riêng trong năm 2002 , với 43 doanh nghiệp tham gia xuất khẩu lao
động đã đa đợc 20 nghìn lao động Việt Nam sang lao động ở Malaysia Và cho đến nay , Việt Nam đã có gần 400 ngàn lao động đang làm việc tại 40 nớc và vùng lãnh thổ , trong 30 nghành nghề khác nhau ( xây dựng , cơ khí , điện tử , dệt may , chế biến hải sản , dịch vụ , vận tải biển , chuyên gia y tế , giáo dục, giúp việc gia đình , khám hộ )
Nh vậy , bằng con đờng xuất khẩu lao động đi làm việc ở nớc ngoài , Chính phủ
ta đã giải quyết đợc một lợng lao động d thừa trong nớc đang rất cần việc làm , đem lại cho đất nớc một khoản ngoại tệ mỗi năm khoảng 1,4 tỷ USD ( theo báo Diễn đàn doanh nghiệp , số 32 , ngày 18/4/2003 ) , tạo điều kiện cho kim nghạch xuất khẩu lao động ở nớc ta chỉ đứng sau xuất khẩu dầu mỏ , dệt may , thuỷ sản và du lịch Không những thế đã đem lai công ăn việc làm cho số lợng lao động ngày một tăng , tạo điều kiện nâng cao đời sống vật chất - tinh thần cho ngời dân Việt Nam
Mặc dù đã có những kết quả khả quan , song xuất khẩu lao động của Việt Nam
so với những nớc trong khu vực nh : Philipines , Thái Lan , Indonesia vẫn còn thua kém Hiện nay , xuất khẩu lao động của Việt Nam mới đợc gần 400 ngàn ngời , trên 40 nớc và vùng lãnh thổ , thu về cho đất nớc mỗi năm hơn 1 tỷ USD , trong khi
đó Philipines - nớc xuất khẩu lao động đứng đầu trong khu vực hiện có khoảng 5 - 6 triệu lao động đang làm việc ở 133 nớc trên khắp các châu lục mỗi năm thu đợc từ 8
- 10 tỷ USD từ xuất khẩu lao động Thái Lan cũng thu đợc mỗi năm 3 tỷ USD từ hoạt động này Trong xu thế hội nhập kinh tế quốc tế , việc nâng cao năng lực cạnh tranh trên thị trờng quốc tế là yếu tố sống còn của doanh nghiệp Để xuất khẩu lao
động của Việt Nam có thể cạnh tranh đợc với xuất khẩu lao động của các nớc trong khu vực , trớc hết xuất khẩu lao động cần phải đợc coi nh 1 nghành xuất khẩu mang lại nguồn ngoại tệ lớn cho đất nớc , mà sản phẩm hàng hoá của nó là sức lao động
Trang 7và trình độ tay nghề của ngời lao động xuất khẩu Xuất khẩu lao động cần phải đợc
đầu t thoả đáng nhằm nâng cao năng lực quản lý , nâng cao chất lợng lao động xuất khẩu và mở rộng thị trờng Tức là phải giải quyết cả 3 yếu tố quyết định : nguồn nhân lực , thị trờng và công tác quản lý
Song bên cạnh đó, với các nớc trong khu vực và trên thế giới , tỷ lệ thất nghiệp của Việt Nam hiện nay tơng đối cao và không ổn định Theo số liệu của Tổng cục Thống kê từ năm 1976 đến năm 1994 và kết quả điều tra lao động - việc làm trong 3 năm 1996, 1997 , 1998 thì tỉ lệ thất nghiệp ở nớc ta khi chuyển sang kinh tế thị tr-ờng đều ở mức xấp xỉ 6% trở lên
Tỷ lệ thất nghiệp của lao động Việt Nam phân theo vùng :
Đơn vị : %
Miền núi và trung du phía Bắc 6,13 6,01 6,25
Đồng bằng sông Cửu Long 5,59 4,56 6,44
Bình quân cả nớc 5,62 5,81 6,85
Lực lợng thất nghiệp thờng tập trung ở các vùng đông dân và đô thị lớn Năm
1996 , tỷ lệ thất nghiệp của Việt Nam là 5,62% trong khi đó ở Trung Quốc và Malaysia là 3% , Thái Lan là 2% Cho đến năm 2002 , số lao động thất nghiệp và thiếu việc làm của nớc ta là hơn 8,2 triệu ngời Điều đáng nói ở đây là : tuy lực l-ợng lao động đông đảo về số ll-ợng nhng chất ll-ợng thì lại rất kém Sự thiếu hụt và yếu kém của lao động có trình độ chuyên môn , cha đáp ứng đợc yêu cầu của các doanh nghiệp Điều đó nói lên tính bức bách của việc nâng cao hơn nữa hệ thống
đào tạo : từ trờng lớp , cơ sở vật chất - kỹ thuật , giáo viên , giáo trình Với mục tiêu hớng tới xây dựng một nền kinh tế tri thức , đòi hỏi từ bây giờ cần có một chiến lợc phát triển dân số một cách hợp lý , một hệ thống giáo dục - đào tạo đợc đầu t thoả đáng Về lâu dài , trong chiến lợc nâng cao chất lợng nguồn lao động , đáp ứng cho nhu cầu công nghiệp hoá - hiện đại hoá : ngời lao động cần phải đợc trang bị cả
Trang 8chuyên môn nghiệp vụ và ngoại ngữ Việc dạy ngoại ngữ cho ngời lao động phải
đ-ợc thực hiện có hiệu quả từ các cấp phổ thông , sao cho khi bớc vào độ tuổi lao
động , họ có thể sử dụng đợc một ngoại ngữ thông dụng trên thế giới
b/ Gia tăng dân số và phát triển kinh tế :
Để phát triển kinh tế đòi hỏi chúng ta phải tăng cờng sức sản xuất xã hội , từ đó nâng cao thu nhập quốc dân Muốn đẩy nhanh quá trình này đòi hỏi phải tăng mức
đầu t Tuy nhiên , do sự gia tăng dân số , do tác động của mức sinh còn quá cao; tất cả đã dẫn tới một thực trạng là tỷ lệ dân số phụ thuộc trong tổng số dân (hoặc trong tổng số dân làm việc ) cao lên Đây là gánh nặng đối với từng gia đình và toàn bộ nền kinh tế , vì tỷ lệ tiêu dùng lớn lên , tỷ lệ tích luỹ ắt sẽ giảm đi và dẫn đến làm giảm khả năng đầu t để tăng năng lực cần thiết cho nền sản xuất xã hội Mặt khác ,
do tỷ lệ dân số phụ thuộc lớn mà phải tăng đầu t cho y tế , cho giáo dục và các loại phúc lợi xã hội khác , đầu t trực tiếp cho sản xuất phải giảm đi Hậu quả là sản xuất tăng chậm Hơn nữa , dân số tăng nhanh có thể làm cho chất lợng vốn con ngời giảm xuống ở mức thấp và hầu nh không cải thiện đợc Điều này trớc hết liên quan
đến việc cung cấp không đủ dinh dỡng và chăm sóc y tế cho trẻ em và cả ngời lao
động , trình độ học vấn thấp và lao động phần lớn không đợc đào tạo Do đó , năng suất lao động không cao , khiến cho Tổng sản phẩm quốc dân tăng chậm Sức sản xuất tăng chậm đợc thể hiện càng rõ hơn trong bối cảnh khủng hoảng tài chính tiền
tệ trong khu vực trở nên trầm trọng và có xu hớng kéo dài , làm giảm đầu t nớc ngoài vào Việt Nam , công nghiệp và dịch vụ tăng trởng chậm lại , nguồn thu ngân sách không đảm bảo yêu cầu chi thờng xuyên , nhiều công trình xây dựng cơ bản phải giảm tiến độ xây dựng , hàng hoá ứ đọng , công nhân thiếu việc làm dẫn đến tình trạng một số doanh nghiệp phải tạm ngừng hoặc thu hẹp quy mô sản xuất
Điều này dẫn đến việc mọi nỗ lực nhằm gia tăng vốn đầu t cho sản xuất giảm ( hoặc tăng chậm) thì thu nhập quốc dân tăng chậm Trong khi đó , tỷ lệ tăng dân số vẫn cao làm quy mô dân số lớn lên , dẫn đến thu nhập quốc dân tính theo đầu ng ời không tăng hoặc tăng chậm
Đối với yếu tố công nghệ , có nhiều lập luận cho rằng quy mô dân số lớn và tăng trởng nhanh sẽ tạo ra sức ép làm nảy sinh các phát minh khoa học và đẩy nhanh tiến
bộ công nghệ Những thành tựu trong nông nghiệp là một ví dụ Dân số đông , thị trờng lớn , triển vọng về mức thu lợi lớn hơn làm cho các nhà đầu t dễ chấp nhận triển khai các công nghệ mới tăng thêm sản lợng để thu lợi nhiều hơn Ngời ta cũng cho rằng " hiệu quả sản xuất tỷ lệ thuận với quy mô sản xuất " Điều này cũng có
Trang 9nghĩa là tỷ lệ thuận với quy mô dân số và tốc độ tăng trởng của nó Tuy nhiên , tiến
bộ kỹ thuật cũng cần phải có thời gian vả lại cần những đầu t lớn nh thuỷ lợi , thuỷ
điện Hơn nữa , nếu đông dân mà nghèo , sức mua kém thì cũng không có thị tr -ờng lớn
Từ những lập luận trên đây có thể thấy rằng : Tăng nhanh dân số ở các nớc nghèo và đang phát triển là bất lợi cho tăng trởng kinh tế Các chuyên gia dân số cho rằng : khi dân số tăng lên 1% thì GDP phải tăng lên từ 3% đến 4% mới đáp ứng
đợc nhu cầu dân c và nền kinh tế khi đó mới phát triển bình thờng
Từ thực tế trên cho thấy , muốn thực hiện đợc mục tiêu phát triển kinh tế thì ngoài phần đầu t trực tiếp cho các chơng trình , dự án phát triển sản xuất cụ thể ; Nhà nớc cần đa vào quy hoạch , kế hoạch tạo việc làm cho lực lợng lao động ngày một tăng để có thể giảm bớt áp lực từ phía tỷ lệ dân phụ thuộc Trớc mắt , Nhà nớc
và các doanh nghiệp thuộc các thành phần kinh tế cần tập trung giải quyết việc làm cho số lao động mất việc tạm thời trong các năm trớc trên cơ sở phục hồi và mở rộng sản xuất , kinh doanh Việc tạo thêm việc làm mới cho số lao động bổ sung từ các nguồn cần thực hiện phơng châm : Nhà nớc , doang nghiệp và nhân dân cùng làm , không thể chỉ trông chờ vào nhà nớc Vấn đề nâng cao chất lợng lao động và tạo việc làm phù hợp với trình độ cho số lao động d thừa trong nớc sẽ làm cơ sở cho việc chuyển dịch cơ cấu lao động từ nông nghiệp sang phi nông nghiệp cũng cần phải đợc quan tâm và giải quyết đồng bộ , bắt đầu lại từ quy hoạch thị trờng lao
động , từ đầu vào , dạy nghề , đến đầu ra phải có các chính sách khuyến khích học nghề và dạy nghề , chuyển mạnh trọng tâm và đầu t kinh phí ngân sách từ đào tạo " thầy" sang đào tạo "thợ" theo yêu cầu của sự nghiệp công nghiệp hoá , hiện đại hoá
đất nớc Nhằm thực hiên mục tiêu tăng trởng kinh tế qua mỗi năm và giảm thiểu bớt những tác động tiêu cực của quá trình tăng dân số mang lại
c/
ả nh h ởng của dân số đến tiêu dùng và tích luỹ :
Trớc hết , tiêu dùng là một yếu tố thúc đẩy sản xuất phát triển , mở rộng thị tr-ờng Có nhiều yếu tố xác định khối lợng và cơ cấu vật phẩm tiêu dùng và các loại dịch vụ nhng quy mô , cơ cấu dân số là những yếu tố quan trọng
Nghiên cứu tác động của dân số đến tiêu dùng trên phạm vi toàn xã hội trớc tiên cho thấy khối lợng vật phẩm tiêu dùng và dịch vụ phụ thuộc chặt chẽ vào dân số Khẩu phần ăn chủ yếu của nớc ta hiện nay là lơng thực Mức ăn bình quân nhân khẩu hàng năm phải đạt trên 300kg lơng thực quy thóc mới đảm bảo đủ calo cho cơ thể Cho đến năm 1989 , sản lợng lơng thực sản xuất qua các năm có tăng , song do
Trang 10tỷ lệ gia tăng dân số cao nên lơng thực quy thóc bình quân đầu ngời giảm và cha đạt mức 300 kg/ ngời/ năm Từ năm 1940 đến 1980 , sản lợng lơng thực nớc ta tăng lên 2,6 lần nhng dân số tăng 2,8 lần nên bình quân lơng thực lai giảm từ 298kg/ ngời/ năm còn 268 kg Từ năm 1989 trở lại đây , nhờ đờng lối đổi mới , sản xuất nông nghiệp phát triển sản lợng lơng thực tăng nhanh , tỷ lệ tăng dân số lại giảm dần nên lơng thực bình quân đầu ngời đã đạt mức trên 300kg Điều đáng lu ý , tuy tỷ lệ tăng dân số đã giảm đáng kể nhng còn ở mức cao , nên tỷ lệ tăng lơng thực bình quân
đầu ngời vẫn thấp so với tỷ lệ tăng tổng sản lợng lơng thực quy thóc cùng kỳ Do đó
ta thấy, nếu chỉ nâng cao tổng sản lợng lơng thực mà không chú ý đến giảm tốc độ tăng dân số thì khó có thể nâng cao bình quân lơng thực đầu ngời ; và để sự gia tăng lơng thực bình quân đầu ngời thực sự bền vững thì năng suất cây lơng thực phải tăng nhanh hơn tốc độ tăng dân số và tốc độ suy giảm diện tích đất canh tác dành cho cây lơng thực
Nh vậy , tăng dân số nhanh là áp lực lớn về lơng thực , thực phẩm và là nguyên nhân chủ yếu của tình trạng đói nghèo Đối với các sản phẩm tiêu dùng khác nh vải vóc , diện tích lớp học , giấy bút , đồ gỗ , nhiên liệu tình hình cũng diễn ra nh vậy
Cùng với quy mô tiêu dùng ngày càng lớn , việc quản lý , khai thác sử dụng tài nguyên , khoáng sản lại thiếu chặt chẽ , đồng bộ đã làm cho tài nguyên ở nớc ta
đang bị cạn kiệt dần , môi trờng bị tàn phá ngày càng trầm trọng Tốc độ khai thác
và sử dụng khoáng sản ở nớc ta cũng khá nhanh Trong vòng 8 năm từ 1991 đến
1998 , sản lợng khai thác dầu , than và đá đều gấp hơn 2 lần trong khi trữ lợng của chúng thì lại có hạn
Bên cạnh tác động của quy mô dân số đến quy mô tiêu dùng , thì cơ cấu tiêu dùng cũng bị ảnh hởng mạnh bởi các yếu tố dân số nh : cơ cấu theo độ tuổi , giới tính Chính sự khác biệt lớn về nhu cầu sử dụng hàng hoá , dịch vụ sinh hoạt giữa trẻ em và ngời già , nữ và nam đã tạo nên cơ cấu sản xuất và tiêu dùng xã hội khác nhau
Xét về mặt giá trị chi phí tiêu dùng trong năm của con ngời phụ thuộc nhiều vào
độ tuổi của họ Các nhà nghiên cứu đã xác định quy luật : hệ số chi phí tiêu dùng tăng dần từ độ tuổi 0 , đạt lớn nhất là nằm trong khoảng tuổi từ 25 đến 29 sau đó giảm dần ở các tuổi tiếp theo Trong cơ cấu dân số Việt Nam , khoảng tuổi có chi phí tiêu dùng cao nhất lại cũng đang chiếm u thế , do vậy tiêu dùng lớn là lẽ tất nhiên