1. Trang chủ
  2. » Tất cả

Đổi tác động của lãnh đạo chuyển đổi xanh đến hiệu quả môi trường và hiệu suất doanh nghiệp thông qua yếu tố đổi mới xanh của doanh nghiệp sme trên địa bàn tphcm

36 28 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Đổi tác động của lãnh đạo chuyển đổi xanh đến hiệu quả môi trường và hiệu suất doanh nghiệp thông qua yếu tố đổi mới xanh của doanh nghiệp SME trên địa bàn TP. HCM
Người hướng dẫn Cô PGS-TS. Lê Nhật Hạnh
Trường học Trường Kinh Doanh UEH
Chuyên ngành Khoa Quản Trị
Thể loại Bài luận cuối kỳ
Năm xuất bản 2022
Thành phố TP. HCM
Định dạng
Số trang 36
Dung lượng 586,05 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Các nghiên cứu trước đây cũng cho thấyrằng hiệu quả hoạt động môi trường phụ thuộc vào chất lượng của các sản phẩm thânthiện với môi trường, đổi mới sản phẩm và quy trình xanh cũng như k

Trang 1

ĐẠI HỌC UEH TRƯỜNG KINH DOANH UEH

KHOA QUẢN TRỊ

�㵠�㵠�㵠�㵠�㵠

BÀI LUẬN CUỐI KỲ

MÔN HỌC: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

ĐỀ TÀI:

XANH ĐẾN HIỆU QUẢ MÔI TRƯỜNG VÀ HIỆU SUẤT DOANH NGHIỆP THÔNG QUA YẾU TỐ ĐỔI MỚI XANH CỦA DOANH NGHIỆP SME TRÊN ĐỊA BÀN TP.

Trang 2

DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT

Từ viết tắt Nội dung

TP HCM Thành phố Hồ Chí Minh

GI Đổi mới xanh (Green Innovation)

GTL Lãnh đạo chuyển đổi xanh (Green Transformational Leadership)

GT Tư duy xanh (Green Thinking)

GHRM Quản trị nguồn nhân lực xanh (Green Human Resource Management)

1

Trang 3

1.1 Lý do chọn đề tài 1

CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU 5

2.2.1 Nghiên cứu của Sanjay Kumar Singh, Manlio Del Giudice và cộng sự

2.2.3 Nghiên cứu của Saira Begum, Muhammad Ashfaq và cộng sự (2020) 92.2.5 Nghiên cứu của Mingfeng Tang và cộng sự (2017) 11

2.3.1 Mối quan hệ giữa lãnh đạo chuyển đổi xanh (GTL) và đổi mới xanh (GI) 132.3.2 Mối quan hệ giữa lãnh đạo chuyển đổi xanh (GTL) và Quản trị nguồn nhân

CHƯƠNG 3: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 19

Trang 4

3.2.3 Nghiên cứu định lượng 21

3.3.2 Thang đo về quản trị nguồn nhân lực xanh (GHRM) 23

3.3.6 Thang đo về hiệu suất hoạt động của doanh nghiệp 25

TÀI LIỆU THAM KHẢO 26

DANH MỤC HÌNH ẢNH

Hình 2.1: Mô hình giả thuyết: Áp lực của các bên liên quan, đổi mới xanh và hiệu suấttrong các doanh nghiệp vừa và nhỏ lên hiệu suất hoạt động 8Hình 2.2: Mô hình giả thuyết: mối quan hệ giữa đổi mới xanh và hiệu quả hoạt động

Trang 5

Hình 2.3: Mô hình giả thuyết: sự tương quan giữa đổi mới xanh và lãnh đạo chuyển

Hình 2.4: Mô hình giả thuyết: Giả thuyết về ảnh hưởng của lãnh đạo lên đổi mới xanh

Hình 2.5: Mô hình giả thuyết: đổi mới sản phẩm xanh và quy trình xanh ảnh hưởng

Hình 2.6: Mô hình khái niệm và mối quan hệ giả thuyết: sự tác động của lãnh đạo

DANH MỤC BẢNG

Bảng 3.6: Thang đo về hiệu suất hoạt động của doanh nghiệp 25

Trang 6

CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ NGHIÊN CỨU

1.1 Lý do chọn đề tài

Trong nhiều thập kỷ qua, sự phát triển nhanh chóng của nền kinh tế thế giới kéotheo sự gia tăng của các hoạt động công nghiệp và tiêu thụ quá mức tài nguyên, gâyảnh hưởng tiêu cực đến môi trường Các tài liệu học thuật cũng như các thông điệptruyền tải ngày càng phát triển nhiều hơn với các xu hướng gần đây ngày càng nhấnmạnh sự cần thiết phản ứng để giảm thiểu sự suy thoái môi trường (Ashfaq, Zhang, vàcộng sự, 2021; Ren cộng sự, 2021) Nhiều nghiên cứu đã cho thấy rằng đổi mới xanh

là một hiện tượng phổ biến giúp các doanh nghiệp giảm thiểu tác động tiêu cực củadoanh nghiệp thông qua các quy trình sản xuất thân thiện với môi trường hơn Chen vàcộng sự (2006) đã cho rằng các sáng kiến đổi mới xanh sẽ đem lại danh tiếng cho tổchức, giảm chi phí và ứng phó hiệu quả với các thách thức môi trường Các doanhnghiệp theo đuổi đổi mới xanh đồng thời theo đuổi các cơ hội dồi dào để giải quyếtđược các vấn đề môi trường và thúc đẩy sự phát triển bền vững cho doanh nghiệp(Mittal và Dhar, 2016; Rehman và cộng sự, 2021) Do đó, đổi mới xanh là thật sự cầnthiết cho môi trường và sự phát triển bền vững trong doanh nghiệp Trong bối cảnhhiện nay, trách nhiệm xã hội của các doanh nghiệp ngày càng tăng cao, các hành độngtác động tiêu cực đến môi trường đều bị lên án gay gắt Dưới áp lực của các luật vàchính sách về môi trường, các doanh nghiệp phải chủ động áp dụng các thông lệ mới

để đối phó với các thách thức về môi trường (Chan, 2005) Việc đổi mới xanh cũngnhư hướng đến các hành động đem lại lợi ích cho môi trường trở nên cấp thiết trongcác doanh nghiệp, đặc biệt là các doanh nghiệp vừa và nhỏ nếu muốn có nhiều lợi thếcạnh tranh hơn

Nhiều nghiên cứu trước đây đã đưa các các tuyên bố và lập luận về tiền thâncủa đổi mới xanh cũng như đổi mới xanh là tiền đề quan trọng của một số yếu tố hiệusuất khác cho doanh nghiệp Kể đến như vai trò của lãnh đạo chuyển đổi xanh đượcnhắc tới như một yếu tố quan trọng ảnh hưởng đến đổi mới sản phẩm xanh (Rehman

và cộng sự, 2021) Lãnh đạo đổi mới xanh đóng một vai trò nổi bật trong giảm thiểutác động tiêu cực của ô nhiễm công nghiệp đến môi trường (Li và cộng sự, 2020;Wang và cộng sự, 2018) Một vài nghiên cứu khác như Palmon và Illies (2004) cho

Trang 7

rằng tư duy xanh từ nhận thức của nhân viên và các cấp lãnh đạo tác động đến kết quảđổi mới xanh Các nhà lãnh đạo cũng cần một tầm nhìn rõ ràng và truyền đạt, trình bày

nó một cách rõ ràng cho các nhân viên Mặt khác, quản lý nguồn nhân lực xanh củacông ty đề cập đến khía cạnh xanh của thực hành quản lý nguồn nhân lực với mục tiêu

là giúp doanh nghiệp có được, phát triển, tạo động lực và duy trì các hành vi công việccủa nhân viên xanh tại nơi làm việc (Dumont và cộng sự, 2017; Haddock-Millar vàcộng sự, 2016; Renwick và cộng sự, 2013) Các nghiên cứu trước đây cũng cho thấyrằng hiệu quả hoạt động môi trường phụ thuộc vào chất lượng của các sản phẩm thânthiện với môi trường, đổi mới sản phẩm và quy trình xanh cũng như kết hợp các vấn

đề bền vững sinh thái vào hoạt động kinh doanh và phát triển sản phẩm (Oliva và cộng

sự, 2019; Chen và cộng sự, 2015; Dubey và cộng sự, 2015; Darnall và cộng sự, 2008).Khách hàng có tư duy xanh thì luôn có xu hướng hướng đến những sản phẩm thânthiện với môi trường và những công ty đã và đang tích cực giảm thiểu tác động tiêucực đến môi trường Và xu hướng đó ngày càng được nâng cao khi tri thức của conngười càng tiến bộ và những hậu quả từ tác động tiêu cực đến môi trường càng rõ rệt

Do đó những doanh nghiệp đổi mới xanh sẽ có khả năng cạnh tranh hơn những doanhnghiệp khác, cải thiện và giảm thiểu được chi phí, nhắm tới phát triển bền vững vàtăng hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp

Tuy nhiên, các nghiên cứu trước chỉ mới được thực nghiệm trong các thị trườngcác doanh nghiệp vừa và nhỏ trong các khu vực nước ngoài như UAE hay TrungQuốc Tại Việt Nam, cụ thể là TP.HCM, một trung tâm kinh tế lớn của Việt Nam, tínhđến nay việc nghiên cứu, kiểm định, thực nghiệm vẫn chưa được thực hiện Việt Nam

ta cũng là một quốc gia có mức độ ô nhiễm môi trường khá cao, và cũng là một quốcgia đang phát triển với tốc độ khá cao, việc đưa ra những hành động vì lợi ích môitrường đang khá là cấp thiết hiện nay Đặc biệt là thành phố Hồ Chí Minh với số lượngcác doanh nghiệp vừa và nhỏ chiếm đa số

Chính vì thế, đề tài “Tác động của Lãnh đạo chuyển đổi xanh đến hiệu quả môitrường và hiệu suất doanh nghiệp thông qua yếu tố Đổi mới xanh của doanh nghiệpSME trên địa bàn” nhằm thực nghiệm tại TP HCM Qua đó giúp các nhà lãnh đạo cóthể nhìn nhận rõ hơn về khía cạnh của đổi mới xanh đem lại cho doanh nghiệp và có

2

Trang 8

thể đưa ra những chiến lược, phương án phù hợp Từ đó, góp phần giảm thiểu tác độngtiêu cực đến môi trường, vì một môi trường xanh sạch đẹp của Việt Nam.

1.2 Mục tiêu nghiên cứu

Nghiên cứu nhằm đạt được các mục tiêu sau:

● Kiểm định sự tác động của Đổi mới xanh đến các hiệu quả hoạt độngmôi trường và hiệu suất của doanh nghiệp;

● Kiểm định sự tác động của Lãnh đạo chuyển đổi xanh đến hiệu suất đổimới xanh với trung gian là Quản lý nguồn nhân lực xanh;

● Kiểm định sự tác động của Lãnh đạo chuyển đổi xanh đến hiệu suất đổimới xanh với trung gian là Tư duy xanh;

● Kiểm định sự tác động trực tiếp của Lãnh đạo chuyển đổi xanh đến Đổimới xanh;

1.3 Đối tượng nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu của đề tài: Lãnh đạo chuyển đổi xanh, Quản lý nguồn

nhân lực xanh, Tư duy xanh, Đổi mới xanh, Hiệu quả hoạt động môi trường, Hiệu suấtcủa doanh nghiệp

Đối tượng khảo sát: Nhân viên và các cấp quản lý tại các doanh nghiệp vừa và

● Về thực tiễn

Vấn đề ô nhiễm môi trường đang là một vấn đề nhức nhối trong bối cảnh nềncông nghiệp phát triển với tốc độ vô cùng nhanh chóng như hiện nay Hậu quả đến từcác hành gây ô nhiễm môi trường cũng ngày càng rõ rệt, kéo theo trách nhiệm của cácdoanh nghiệp đối với môi trường cũng ngày càng cao, đặc biệt là các doanh nghiệp

Trang 9

vừa và nhỏ chiếm số lượng rất lớn Quay về bối cảnh của Việt Nam ta, cụ thể làTP.HCM, với mức độ ô nhiễm khá cao và những hành động nhằm cải thiện môi trườngluôn được ưa chuộng và đặt lên hàng đầu Nghiên cứu này nhằm mục đích trở thànhtài liệu khoa học giúp các nhà lãnh đạo có đánh giá được mức độ tác động của các yếu

tố đến đổi mới xanh và những tác động đến hiệu quả doanh nghiệp mà đổi mới xanhđem lại Giúp các nhà quản trị có thể nhìn nhận rõ hơn về các khía cạnh của đổi mớixanh để đưa ra những quyết định nhằm hướng đến giá trị bền vững cho doanh nghiệp

1.6 Bố cục nghiên cứu

Bố cục nghiên cứu được chia thành 5 chương như sau:

Chương 1: TỔNG QUAN VỀ NGHIÊN CỨU

Trình bày tính cấp thiết của đề tài; các mục tiêu chung và mục tiêu cụ thể; đốitượng và phạm vi nghiên cứu, ý nghĩa nghiên cứu, bố cục của nghiên cứu

Chương 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU

Trình bày cơ sở lý thuyết và mô hình nghiên cứu, chương này trình bày, phântích các khái niệm lý thuyết, lược khảo những nghiên cứu có trước, mô hình nghiêncứu trước nhằm xây dựng nền tảng và các lập luận hình thành nên mô hình nghiêncứu

Chương 3: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

Trình bày quy trình nghiên cứu, phương pháp nghiên cứu định tính và nghiêncứu định lượng được sử dụng để phân tích và đo lường các khái niệm nghiên cứu,nghiên cứu, hiệu chỉnh, xây dựng và đánh giá các thang đo

Chương 4: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN

Trình bày kết quả nghiên cứu, thông tin về mẫu khảo sát, kiểm định mô hình và

đo lường các khái niệm nghiên cứu, phân tích đánh giá các kết quả thu được

Chương 5: KẾT LUẬN VÀ HÀM Ý QUẢN TRỊ

4

Trang 10

Trình bày tóm tắt kết quả nghiên cứu, nêu những đóng góp và hạn chế củanghiên cứu trong thực tiễn tại các tổ chức giáo dục, từ đó đề xuất hướng nghiên cứutiếp theo từ nghiên cứu này.

CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU

2.1 Các khái niệm nghiên cứu

2.1.1 Đổi mới xanh (GI)

Đổi mới xanh đề cập đến các sản phẩm xanh hoặc quy trình xanh được cải tiến

sử dụng công nghệ thân thiện với môi trường trong quá trình sản xuất có tác động tiêucực đến môi trường (Wong và cộng sự, 2012) Cụ thể là nguyên liệu thô xanh hơn, sửdụng ít nguyên liệu hơn trong quá trình thiết kế sản phẩm bằng cách sử dụng cácnguyên tắc giảm thiểu và nhằm mục đích giảm khí thải, giảm tiêu thụ nước, điện vàcác nguyên liệu thô khác Đổi mới quy trình xanh là việc cải tiến các quy trình sảnxuất hiện có và sử dụng các công nghệ thân thiện với môi trường để sản xuất hàng hóa

và cung cấp dịch vụ không gây hoặc giảm tác động tiêu cực đến môi trường Những sựđổi mới này có thể giảm tác động đến môi trường, đồng thời đạt được các mục tiêu vềmôi trường của công ty và mang lại lợi ích môi trường Đổi mới xanh tập trung vàonhững cách thức mới để phát triển các sản phẩm và quy trình thân thiện với môitrường (Sanjay Kumar Singh, Manlio Del Giudice và cộng sự, 2021)

2.1.2 Lãnh đạo chuyển đổi xanh (GTL)

Lãnh đạo chuyển đổi đặc trưng bởi việc nhà lãnh đạo truyền cảm hứng và thúcđẩy quá trình chuyển đổi của mọi người, từ đó góp phần thúc đẩy sự phát triển vàthành công của doanh nghiệp Trong số các kiểu lãnh đạo khác nhau, lãnh đạo chuyểnđổi đòi hỏi phải tạo ra môi trường đổi mới, truyền cảm hứng, động lực và khuyếnkhích đồng nghiệp tin tưởng hoặc xác định với tầm nhìn của nhà lãnh đạo ảnh hưởngđến sự đổi mới và hiệu suất của công ty Lãnh đạo chuyển đổi xanh là một hành vilãnh đạo trong đó tập trung những nguồn lực vô hình và mục tiêu chính của lãnh đạo làcung cấp tầm nhìn rõ ràng, truyền cảm hứng, động lực cho nhân viên và cũng hỗ trợnhu cầu phát triển của họ nhằm đạt được các mục tiêu môi trường của tổ chức (Mittal

và Dhar, 2016;Chen và Chang, 2013) GTL thúc đẩy nhân viên tiếp thu những kiếnthức mới, tự thay đổi và tham gia vào các hoạt động liên quan đến đổi mới sản phẩm

Trang 11

và quy trình xanh để cho phép công ty giới thiệu các sản phẩm hoặc dịch vụ xanh vàothị trường (Saira Begum, Muhammad Ashfaq và cộng sự, 2020) từ đó cải thiện hoạtđộng môi trường của họ Lãnh đạo được xem như một nguồn lực quan trọng trongquản lý môi trường trong tổ chức (Sanjay Kumar Singh, Manlio Del Giudice và cộng

sự, 2020)

2.1.3 Quản trị nguồn nhân lực xanh (GHRM)

Quản trị nguồn nhân lực xanh của công ty đề cập đến khía cạnh xanh của quản

lý nguồn nhân lực với mục tiêu là giúp doanh nghiệp có được, phát triển, tạo động lực

và duy trì các hành vi công việc của nhân viên xanh tại nơi làm việc (Shafique UrRehman, Sascha Kraus và cộng sự, 2021) Quản trị nguồn nhân lực xanh có tráchnhiệm tạo ra lực lượng lao động xanh để hiểu, đánh giá và thực hiện hoạt động xanh

và duy trì các mục tiêu xanh trong suốt quá trình từ tuyển dụng, đào tạo, đãi ngộ, pháttriển và thúc đẩy các nguồn vốn con người của doanh nghiệp Người tìm việc thườngthích các tổ chức có ý thức về môi trường (Sanjay Kumar Singh, Manlio Del Giudice

và cộng sự, 2020), ngược lại, các tổ chức tìm cách thu hút và tuyển dụng những nhântài tốt vào các vị trí có thể nhấn mạnh đến việc bảo vệ và cải thiện môi trường Quátrình tuyển dụng và lựa chọn trong các tổ chức đều phản ánh vai trò ngày càng tăngcủa GHRM Do đó, GHRM ngày càng được công nhận là một chiến lược quan trọng

để thực hiện các hành vi xanh nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động môi trường và đạtđược sự phát triển bền vững

2.1.4 Tư duy xanh (GT)

Tư duy xanh là một quá trình nhận thức xanh, vì môi trường, thu hút các cánhân vào các hoạt động vì mục tiêu xanh Đặc điểm nổi bậc của tư duy xanh là hướngtới một môi trường xanh, những cá nhân có tư duy xanh thể hiện niềm đam mê và tìnhyêu của bản thân đối với việc bảo tồn và chăm sóc môi trường tự nhiên, chẳng hạn nhưgieo hạt trồng rừng…(Saira Begum, Muhammad Ashfaq và cộng sự (2020)) Đứng ởkhía cạnh các nhà tư tưởng xanh, họ có kiến thức đầy đủ về môi trường, có nhiều biệnpháp cũng như muốn giải quyết các vấn đề môi trường trên nhiều khía cạnh và cụ thể.Đứng ở khía cạnh nhà sản xuất, những người có tư duy xanh tham gia vào đề xuất các

ý tưởng và kỹ thuật hướng tới đổi mới xanh cho sản phẩm và cho quá trình Jones

6

Downloaded by hây hay (vuchinhhp3@gmail.com)

Trang 12

(2019) lập luận ở khía cạnh khách hàng rằng, những người có tư duy xanh ưa chuộngcác sản phẩm tái sử dụng hoặc từ nhiên liệu xanh hơn là các sản phẩm không xanh

2.1.5 Hiệu quả hoạt động môi trường

Hoạt động môi trường liên quan đến các sáng kiến của tổ chức để đáp ứng vàvượt quá mong đợi của xã hội đối với môi trường tự nhiên theo cách không chỉ tuânthủ các quy tắc và quy định (Chen và cộng sự, 2015)mà còn là cách riêng của chínhdoanh nghiệp đó Nó bao gồm các tác động môi trường của các quá trình tổ chức, sảnphẩm và tiêu thụ tài nguyên theo cách phù hợp nhất với các yêu cầu pháp lý về môitrường (Shafique Ur Rehman, Sascha Kraus và cộng sự, 2021) Hiệu quả hoạt độngmôi trường đề cập đến khả năng tạo ra được kết quả mong đợi của doanh nghiệp và xãhội đối với môi trường, ví dụ như giảm được lượng nước thải ở mức 5% so với 10%của mong đợi Các nghiên cứu trước đây cho thấy rằng hiệu quả hoạt động môi trườngphụ thuộc vào chất lượng của các sản phẩm thân thiện với môi trường, đổi mới sảnphẩm và quy trình xanh cũng như kết hợp các vấn đề bền vững sinh thái vào hoạt độngkinh doanh và phát triển sản phẩm (Chen và cộng sự, 2015 ;Sanjay Kumar Singh,Manlio Del Giudice và cộng sự, 2020)

2.1.6 Hiệu suất của doanh nghiệp

Hiệu quả hoạt động của công ty, trừ khi có quy định khác, thường đề cập đếncác chỉ số tài chính và liên quan của công ty - tức là doanh số bán hàng, ROI, thị phần,hiệu suất thị trường chứng khoán và các chỉ số vô hình liên quan (Mingfeng Tang vàcộng sự, 2017) Hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp là một phạm trù kinh tế phảnánh khả năng sử dụng nguồn nhân lực và vật lực của doanh nghiệp để đạt được cácmục tiêu của doanh nghiệp Hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp còn là xem xét hiệuquả sử dụng các phương tiện kinh doanh trong quá trình sản xuất và tiêu dùng Hiệuquả hoạt động của doanh nghiệp thể hiện mối tương quan giữa kết quả đầu ra và nguồnlực đầu vào được sử dụng trong quá trình hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp

Trang 13

2.2 Lược khảo nghiên cứu có liên quan

2.2.1 Nghiên cứu của Sanjay Kumar Singh, Manlio Del Giudice và cộng sự (2021)

Sanjay Kumar Singh, Manlio Del Giudice và cộng sự (2021) xem xét các tác động trựctiếp và gián tiếp giữa áp lực của các bên liên quan, năng lực năng động xanh, đổi mớixanh và hiệu quả hoạt động của các doanh nghiệp vừa và nhỏ ở thị trường mới nổi(SME) Kết quả nghiên cứu chỉ ra rằng áp lực của các bên liên quan ảnh hưởng tíchcực đến năng lực năng động xanh, năng lực năng động xanh ảnh hưởng tích cực đếnđổi mới xanh và đổi mới xanh ảnh hưởng tích cực đến hoạt động của doanh nghiệp.Hơn nữa, các kết quả cũng cho thấy năng lực năng động xanh làm trung gian cho ảnhhưởng của áp lực các bên liên quan đối với đổi mới xanh và đổi mới xanh làm trunggian cho tác động của năng lực xanh đối với hoạt động của doanh nghiệp Nghiên cứudựa trên phần tích hợp lý thuyết các bên liên quan (Freeman, 2010) và lăng kính lýthuyết nguồn lực (Barney, 2001) dưới dạng nguồn lực các bên liên quan (Sodhi, 2015)

để làm rõ các vấn đề liên quan đến tính bền vững của các doanh nghiệp vừa và nhỏtrong bối cảnh nguyên nhân và kết quả đổi mới xanh Sanjay Kumar Singh, ManlioDel Giudice và cộng sự (2021) cho rằng công ty có thể cùng nhau tích hợp các mụctiêu của RBV để đạt được lợi thế cạnh tranh độc quyền dựa trên tính bền vững thôngqua việc đưa ra mức độ phù hợp với các bên liên quan của công ty

Hình 2.1: Mô hình giả thuyết: Áp lực của các bên liên quan, đổi mới xanh và hiệu suấttrong các doanh nghiệp vừa và nhỏ lên hiệu suất hoạt động

8

Downloaded by hây hay (vuchinhhp3@gmail.com)

Trang 14

2.2.2 Nghiên cứu của Shafique Ur Rehman, Sascha Kraus và cộng sự (2021)

Trong khi các tài liệu đề xuất trước đây cho thấy rằng vốn tri thức xanh (GIC),quản lý nguồn nhân lực xanh (GHRM) và đổi mới xanh (GI) tác động đến hoạt độngmôi trường của các doanh nghiệp Shafique Ur Rehman, Sascha Kraus và cộng sự(2021) cho rằng mối quan hệ giữa vốn tri thức xanh, quản lý nguồn nhân lực xanh, đổimới và hiệu suất môi trường phức tạp hơn so với đề xuất trước đây Nghiên cứu chorằng cả GIC và GHRM đều không liên quan trực tiếp đến hoạt động môi trường Thayvào đó, tranh luận rằng GI làm trung gian cho các mối quan hệ giữa GIC, GHRM vàhiệu suất môi trường Hơn nữa, chúng tôi đề xuất rằng các chiến lược môi trường liênquan trực tiếp đến hiệu quả hoạt động môi trường, đồng thời điều chỉnh mối quan hệgiữa GI và hiệu hoạt động môi trường Nghiên cứu dựa trên nghiên cứu trước đây vềvai trò của các chiến lược môi trường chủ động có thể bao gồm giảm thiểu ô nhiễm,quản lý sản phẩm,Hart, 1995; Hart và Dowell, 2011), và tiếp cận các lý thuyết nền vềvốn tri thức xanh của (Chen, 2008; Chang & Chun, 2012) Kết quả cho thấy cả GIC vàGHRM đều không liên quan trực tiếp đến hoạt động môi trường mà GHRM tác độngtích cực đến GI và GI tác động tích cực đến hoạt động môi trường

Hình 2.2: Mô hình giả thuyết: mối quan hệ giữa đổi mới xanh và hiệu quả hoạt độngmôi trường

2.2.3 Nghiên cứu của Saira Begum, Muhammad Ashfaq và cộng sự (2020)

Nghiên cứu này nhằm mục đích cung cấp sự hiểu biết về vai trò của lãnh đạochuyển đổi xanh (GTL) và thực tiễn đổi mới xanh trong các tổ chức thông qua các quátrình nhận thức: tư duy xanh và tham gia vào quá trình sáng tạo (CPE) Nghiên cứu

Trang 15

của Saira Begum, Muhammad Ashfaq và cộng sự (2020) dựa trên sự đóng góp củaquan điểm về tài nguyên xanh (Hart, 1995), thảo luận về vai trò của lãnh đạo chuyểnđổi xanh, bổ sung tư duy xanh (GT) vào trung gian cho các tác động của GTL đến đổimới xanh Kết quả của nghiên cứu cho thấy GTL có tác động đáng kể đến tư duy xanh,CPE và đổi mới xanh Các phát hiện cũng cho thấy rằng tư duy xanh và CPE làmtrung gian cho mối quan hệ giữa GTL và đổi mới xanh Tư duy xanh và quá trình sángtạo đã trở thành công cụ tinh thần để thúc đẩy đổi mới xanh Do đó, cuộc điều tra nàycung cấp những hiểu biết mới về cách thúc đẩy GTL và các quá trình nhận thức trongcác tổ chức để thu hút sự đổi mới xanh.

Hình 2.3: Mô hình giả thuyết: sự tương quan giữa đổi mới xanh và lãnh đạo chuyểnđổi xanh và tư duy xanh

2.2.4 Nghiên cứu của Sanjay Kumar Singh, Manlio Del Giudice và cộng sự (2020)

Sanjay Kumar Singh, Manlio Del Giudice và cộng sự (2020) dựa trên quan

điểm dựa trên nguồn lực (Barney, 1991) và lý thuyết khả năng - động lực - cơ hội(Appelbaum và cộng sự, 2000; Guest, 2011), nghiên cứu đã xem xét cách thức quản lýnguồn nhân lực xanh đan xen vào các mối liên kết giữa lãnh đạo chuyển đổi xanh, đổimới xanh và hoạt động môi trường Kết quả của nghiên cứu cho thấy rằng GHRM làmtrung gian cho ảnh hưởng của lãnh đạo chuyển đổi xanh đối với đổi mới xanh, GHRMgián tiếp thông qua đổi mới xanh ảnh hưởng đến hoạt động môi trường của công ty.Tổng thể, Những phát hiện trong nghiên cứu ủng hộ tất cả các giả thuyết về các tácđộng tích cực trực tiếp và gián tiếp và có một số hàm ý lý thuyết và thực tiễn Cuối

10

Downloaded by hây hay (vuchinhhp3@gmail.com)

Trang 16

cùng, nghiên cứu phát triển đáng kể lý thuyết và cho thấy rằng mối quan hệ hiệu suấtGHRM không phụ thuộc vào tác động cộng gộp của sự lãnh đạo chuyển đổi xanh vàđổi mới xanh tương ứng như tiền đề và trung gian, cũng không dựa trên tác độngtương tác của chúng mà là sự kết hợp của cả hai hình thức tổ hợp để ảnh hưởng đếnhoạt động môi trường của doanh nghiệp Nhìn chung, Sanjay Kumar Singh, ManlioDel Giudice và cộng sự (2020) đã đóng góp và nâng cao các nghiên cứu trước đây,trong đó lãnh đạo đóng vai trò quan trọng để ảnh hưởng đến GHRM và đến lượt nó để

dự đoán đổi mới xanh trong tổ chức

Hình 2.4: Mô hình giả thuyết: Giả thuyết về ảnh hưởng của lãnh đạo lên đổi mới xanh

và hiệu quả hoạt động môi trường

2.2.5 Nghiên cứu của Mingfeng Tang và cộng sự (2017)

Các tài liệu bổ sung, mặc dù thường đề xuất mối liên hệ tích cực giữa đổi mớixanh và hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp, nhưng vẫn chưa có kết luận cụ thể và rõràng, vai trò điều tiết có thể có của quản lý vẫn chưa được xem xét đầy đủ MingfengTang và cộng sự (2017) nhận thấy rằng đổi mới quy trình xanh và đổi mới sản phẩmxanh đều dự đoán đáng kể (tích cực) về hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp khikhông tính đến mối quan tâm của nhà quản lý đối với môi trường Khi bao gồm mốiquan tâm của nhà quản lý, nó kết hợp tác động tích cực của đổi mới quy trình xanh đốivới hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp - nhưng không phải là đổi mới sản phẩm,điều này không còn giải thích sự khác biệt đáng kể duy nhất trong hoạt động củadoanh nghiệp Kết quả cho thấy rằng đổi mới xanh cả về sản phẩm lẫn quy trình xanhđều tác động tích cực đến hiệu suất hoạt động của doanh nghiệp

Trang 17

Hình 2.5: Mô hình giả thuyết: đổi mới sản phẩm xanh và quy trình xanh ảnh hưởngđến hiệu suất hoạt động của công ty

2.2.6 Nghiên cứu của Wenhao Song, Hongyan Yu, Hui Xu (2020)

Mục đích -Quản lý nguồn nhân lực xanh (GHRM) là rất quan trọng để nâng caokhả năng đổi mới xanh của các công ty, nhưng mối liên hệ này hiếm khi được khámphá hoặc kiểm tra thực nghiệm trong tài liệu Các nghiên cứu trước đây đã kiểm traxem quản trị nguồn nhân sự có ảnh hưởng tích cực đến sự đổi mới môi trường haykhông (Antonioliet và cộng sự,2013), và lý thuyết nghịch lý đã được sử dụng để điềutra xem quản trị nguồn nhân sự ảnh hưởng như thế nào đến tính bền vững của môitrường (Guerci và Carollo, 2016) Tuy nhiên, mối quan hệ giữa GHRM và đổi mớixanh chưa nhận được thực nghiệm đầy đủ Dựa trên lý thuyết về vốn con người (Chen,2008), Wenhao Song, Hongyan Yu, Hui Xu (2020) đã thực hiện xem xét một mô hìnhkhái niệm kết hợp các tác động của vốn con người xanh và mối quan tâm về môitrường quản lý Kết quả nghiên cứu chỉ ra rằng GHRM có thể ảnh hưởng tích cực đếnđổi mới xanh và nguồn nhân lực xanh làm trung gian cho mối liên hệ giữa GHRM vàđổi mới xanh Ngoài ra, mối quan tâm về môi trường quản lý sẽ làm giảm tác động củaGHRM đối với nguồn nhân lực xanh Kết quả cho thấy tác động gián tiếp của GHRMđối với đổi mới xanh thông qua nguồn nhân lực xanh là có ý nghĩa đối với các doanhnghiệp có mối quan tâm về môi trường quản lý cao, nhưng không phải đối với mốiquan hệ này với mối quan tâm về môi trường quản lý thấp

12

Downloaded by hây hay (vuchinhhp3@gmail.com)

Trang 18

Hình 2.6: Mô hình khái niệm và mối quan hệ giả thuyết: sự tác động của lãnh đạochuyển đổi xanh lên đổi mới xanh

2.3 Giả thuyết và mô hình nghiên cứu

Từ cơ sở lý thuyết mà bài nghiên cứu đã trình bày ở trên và qua những phântích, lược khảo về các nghiên cứu trước đó có sự tương đồng với đề tài này, tác giả đềxuất mô hình nghiên cứu như sau:

Ngày đăng: 23/02/2023, 21:57

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w