CÁC ĐỀ TÀI BÀI TẬP NHÓM Nhóm số 4 ; Lớp môn học HIS1001 14 Bài làm Câu 1 Thống nhất đất nước về mặt Nhà nước vì sao Đảng chủ trương thống nhất nước nhà về mặt Nhà nước ? Chỉ đạo của Đảng để thống nhất[.]
Trang 1CÁC ĐỀ TÀI BÀI TẬP NHÓM
Nhóm số 4 ; Lớp môn học: HIS1001-14
Bài làm
Câu 1 : Thống nhất đất nước về mặt Nhà nước : vì sao Đảng chủ trương thống nhất nước
nhà về mặt Nhà nước ? Chỉ đạo của Đảng để thống nhất nước nhà về mặt Nhà nước ? Kếtquả, ý nghĩa ?
Sau đại thắng mùa xuân năm 1975, đất nước ta bước vào kỷ nguyên mới: Tổ quốc hoàntoàn độc lập, thống nhất, quá độ đi lên chủ nghĩa xã hội Để thực hiện bước quá độ này, rất nhiều nhiệm vụ được Đảng đặt ra nhưng nhiệm vụ đầu tiên, bức thiết nhất là lãnh đạo thống nhất nước nhà về mặt Nhà nước Cụ thể là thống nhất hai chính quyền khác nhau ở hai miền là Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ở miền Bắc và Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam ở miền Nam Hội nghị lần thứ 24 Ban Chấp hành Trung Ương Đảng khóa III ( 8/1975 ) chủ trương: Hoàn thành thống nhất nước nhà, đưa cả nước tiến nhanh, tiến mạnh, tiến vững chắc lên chủ nghĩa xã hội; miền Bắc phải tiếp tục đẩy mạnh sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội và hoàn thiện quan hệ sản xuất xã hội chủ nghĩa; miền Nam phải đồng thời tiến hành cải tạo xã hội chủ nghĩa vàxây dựng chủ nghĩa xã hội Thông nhất đất nước vừa là nguyện vọng thiết tha của nhân dân cả nước, vừa là quy luật khách quan của sự phát triển cách mạng Việt Nam, của lịch
sử dân tộc Việt Nam cần xúc tiến việc thống nhất nước nhà một cách tích cực và khẩn trương Thông nhất càng sớm thì càng mau chóng phát huy sức mạnh mới của đất nước, kịp thời ngăn ngừa và phá tan âm mưu chia rẽ của các thế lực phản động trong nước và trên thế giới
Chỉ đạo của Đảng để thống nhất nước nhà về mặt Nhà nước:
- Ngày 27/10/1975, ủy ban Thường vụ Quổc hội nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa
đã họp phiên đặc biệt để bàn chủ trương, biện pháp thốhg nhất nước nhà về mặt
1-NT Ninh Trung Sơn 22070896
7 Hoàng Bùi Minh Ngọc 22070846
8 Nguyễn Thị Minh Nguyệt 22070750
9 Hoàng Thị Trà My 22071085
10 Nguyễn Bá Hải Long 22070517
Trang 2nhà nước Hội nghị cử đoàn đại biểu miền Bắc gồm 25 thành viên do đồng chí Trường Chinh làm trưởng đoàn để hiệp thương với đoàn đại biểu miền Nam.
- Ngày 5 và 6/11/1975, tại Sài Gòn, ủy ban Trung ương Mặt trận Dân tộc giải phóngmiên Nam Việt Nam, ủy ban Trung ương Liên minh các lực lượng dân tộc, dân chủ và hòa bình Việt Nam, Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam, Hội đồng cố vấn Chính phủ và đại biểu các nhân sĩ, trí thức đã họp hội nghị liên tịch và cử đoàn đại biểu miền Nam gồm 25 thành viên do đồng chí PhạmHùng dẫn đầu để hiệp thương với đoàn đại biểu miền Bắc
- Từ ngày 15 đến ngày 21/11/1975, Hội nghị Hiệp thương chính trị của hai đoàn đạibiểu Bắc - Nam đã họp tại Sài Gòn Hội nghị khẳng định: Nưốc Việt Nam, dân tộcViệt Nam là một, nước nhà cần được sớm thống nhất về mặt nhà nưốc; tổ chức tổng tuyển cử trên toàn lãnh thổ Việt Nam bầu ra Quốc hội chung cho cả nước vàonửa đầu năm 1976 theo nguyên tắc dân chủ, phổ thông, bình đẳng, trực tiếp và bỏ phiếu kín
- Ngày 3/1/1976, Bộ Chính trị Trung ương Đảng ra Chỉ thị số 228-CT/TW nêu rõ tầm quan trọng của cuộc tổng tuyển cử và giao trách nhiệm cho các cấp ủy lãnh đạo cuộc bầu cử
- Ngày 25/4/1976, cuộc Tổng tuyển cử bầu Quốc hội chung của nưốc Việt Nam thống nhất được tiến hành
- Quốc hội khóa VI của nước Việt Nam thống nhất họp kỳ đầu tiên tại Hà Nội (từ ngày 24/6 đến ngày 3/7/1976) đã bầu các cơ quan, thông qua chính sách đối nội, đối ngoại của nước Việt Nam thống nhất
Kết quả của việc thống nhất đất nước về mặt Nhà nước :
- Quyết định lấy tên nước là Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam
- Quốc kì - Cờ đỏ sao vàng; Quốc ca – Tiến quân ca; Quốc huy mang dòng chữ
“Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam”; Thủ đô là Hà Nội, thành phố SàiGòn – Gia Định đổi tên là Thành phố Hồ Chí Minh
- Bầu các cơ quan, chức vụ lãnh đạo cao nhất của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, bầu ban dự thảo Hiến pháp
- Ở địa phương, Quốc hội quyết định tổ chức thành ba cấp chính quyền: cấp tỉnh và thành phố trực thuộc Trung ương, cấp huyện và tương đương, cấp xã
và tương đương Ở mỗi cấp chính quyền có Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân
Thành công của kỳ họp thứ nhất Quốc hội khóa I đã hoàn thành quá trình thống nhất đất nước về mặt Nhà nước
Ý nghĩa của việc thống nhất đất nước về mặt nhà nước :
- Là yêu cầu tất yếu khách quan của sự phát triển cách mạng Việt Nam
Trang 3- Thể hiện tinh thần yêu nước, đoàn kết toàn dân tộc, ý chí thống nhất Tổ quốc,quyết tâm xây dựng một nước Việt Nam độc lập và thống nhất của toàn thể nhândân ta.
- Tạo điều kiện cho việc tiếp tục hoàn thành thống nhất các lĩnh vực chính trị, tưtưởng, kinh tế, văn hóa, xã hội gắn với việc thực hiện các nhiệm vụ của cáchmạng xã hội chủ nghĩa trên phạm vi cả nước
- Tạo nên những điều kiện chính trị cơ bản để phát huy sức mạnh toàn diện đấtnước, để cả nước đi lên xây dựng chủ nghĩa xã hội, tạo ra khả năng to lớn để bảo
vệ Tổ quốc và mở rộng quan hệ quốc tế
Câu 2 : Con đường đi lên CNXH ở Việt Nam được xác định ở thời kì trước Đổi mới –
các bước đổi mới bộ phận/ cục bộ ở Việt Nam (1979-1986)?
1 Hoàn cảnh chung
- Sau đại thắng mùa xuân năm 1975, đất nước ta bước vào một kỉ nguyên mới:
tổ quốc hoàn toàn độc lập, thống nhất, quá độ đi lên chủ nghĩa xã hội Rất nhiều nhiệm vụ được Đảng đặt ra nhưng nhiệm vụ đầu tiên là thống nhất 2 chính quyền ở
- 27/10/1975 Ủy ban Thường vụ Quốc hội nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa
đã họp bàn chủ trương, biện pháp thống nhất về mặt nhà nước.
- Ngày 5-6/11/1975,tại Sài Gòn họp hội nghị liên tịch và cử đoàn đại diện tiêu biểu miền Nam do đồng chí Phạm hùng dẫn đầu.
- 15-21/11/1975, Hội nghị Hiệp thương chính trị của hai đoàn đại biểu Nam đã họp tại Sài Gòn.
Bắc 3/1/1976, Bộ chính trị TW Đảng ra chỉ thị nêu rõ tầm quan trọng của cuộc tổng tuyển cử và giao trách nhiệm cho các ủy lãnh đạo cuộc bầu cử.
- 25/4/1976, cuộc Tổng tuyển cử bầu Quốc hội chung của nước Việt Nam thống nhất được tiến hành Hơn 23 triệu cử tri đã bầu ra 492 đại biểu Thắng lợi việc bầu
Trang 4cử đã thể hiện ý chí đoàn kết toàn dân tộc quyết tâm thực hiện Di chúc thiêng liêng của Chủ tịch Hồ Chí Minh.
- 24/6-3/7/1976, Quốc hội quyết định đặt tên nước ta là nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, Quốc kỳ nền đỏ sao vàng 5 cánh, thủ đô là Hà Nội, Quốc ca
là bài Tiến quân ca, Quốc huy mang dòng chữ Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam.
2 Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IV của Đảng và quá trình xây dựng chủ nghĩa xã hội và bảo vệ Tổ quốc.
- Cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước kết thúc thắng lợi, cách mạng Việt Nam chuyển sang giai đoạn mới, giai đoạn cả nước độc lập, thống nhất, thực hiện chiến lược cách mạng xã hội chủ nghĩa Trước những yêu cầu mới của cách mạng, Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IV của Đảng đã được triệu tập.
- Phân tích tình hình mọi mặt của đất nước, báo cáo đã nêu lên ba đặc điểm lớn:
- Một là, nước ta đang ở trong quá trình từ một xã hội mà nền kinh tế còn phổ biến là sản xuất nhỏ tiến thẳng lên chủ nghĩa xã hội bỏ qua giai đoạn phát triển
tư bản chủ nghĩa.
- Hai là, cả nước hòa bình, độc lập và thống nhất đang tiến lên chủ nghĩa xã hội với nhiều thuận lợi, song cũng còn nhiều khó khăn do hậu quả của chiến tranh
và các tàn dư của chủ nghĩa thực dân mới gây ra.
Ba là, hoàn cảnh quốc tế thuận lợi, song cuộc đấu tranh “ai thắng ai” giữa cách mạng và phản cách mạng còn rất gay go và phức tạp.
Trong 3 đặc điểm trên, đặc điểm đầu tiên là lớn nhất, quy định nội dung, hình thức, bước đi của cách mạng xã hội chủ nghĩa ở nước ta.
+ Nhiệm vụ cách mạng miền Bắc: do đã có 21 năm đi lên Chủ nghĩa xã hội từ
1954 nên trong giai đoạn này phải tiếp tục đẩy mạnh sự nghiệp xây dựng Chủ nghĩa xã hội và hoàn thiện quan hệ sản xuất xã hội chủ nghĩa Góp phần cùng
cả nước tiến nhanh, tiến mạnh, tiến vững chắc lên chủ nghĩa xã hội.
+ Nhiệm vụ cách mạng miền Nam: Do mới giải phóng, và trong suốt thời kì Việt Nam Cộng hòa và Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam nền kinh tế miền Nam trong chừng mực phát triển theo hướng tư bản chủ nghĩa, nhưng về
cơ bản vẫn mang tính chất của kinh tế nông nghiệp, sản xuất nhỏ và phân tán,
Trang 5phát triển không cân đối, lệ thuộc vào viện trợ bên ngoài Đại hội quyết định miền Nam phải đồng thời tiến hành cải tạo xã hội chủ nghĩa và xây dựng Chủ nghĩa xã hội, góp phần cùng cả nước tiến nhanh, tiến mạnh, tiến vững chắc lên chủ nghĩa xã hội.
- Kế hoạch 5 năm 1976-1980: Tháng 12 năm 1976, Đại hội toàn quốc lần thứ
IV của Đảng đã thông qua kế hoạch 5 năm 1976-1980 với hai mục tiêu cơ bản là: Xây dựng một bước cơ sở vật chất kỹ thuật của CNXH, bước đầu hình thành cơ cấu kinh tế mới trong cả nước trong đó quan trọng nhất là cơ cấu công - nông nghiệp, và cải thiện một bước đời sống vật chất và văn hóa của nhân dân.
- Ý nghĩa: Đây là Đại hội đầu tiên của nước Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam sau khi được thống nhất từ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa và Cộng hòa Miền Nam Việt Nam.
Kế hoạch 5 năm 1976-1980 do Đại hội đề ra đã đạt nhiều thành tựu trong khắc phục một phần hậu quả chiến tranh và thiên tai liên tiếp gây ra Các tỉnh miền Nam
đã cơ bản hoàn thành việc xóa bỏ quyền chiếm hữu ruộng đất của đế quốc.
Hạn chế: Đại hội lần thứ IV của Đảng còn một số hạn chế, chưa tổng kết kinh nghiệm 21 năm xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc Trong điều kiện vừa xây dựng chủ nghĩa xã hội, vừa chống chiến tranh phá hoại thì hạch toán mà phải thực hành chính sách bao cấp để đáp ứng yêu cầu tất cả đánh thắng giặc mỹ xâm lược, chưa phát hiện những khuyết tật của mô hình chủ nghĩa xã hội đã bộc lộ rõ sau chiến tranh.
Nhận xét: Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IV của Đảng là đại hội toàn thắng của
sự nghiệp giải phóng dân tộc; là đại hội tổng kết những bài học lớn của cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước; là đại hội thống nhất Tổ quốc đưa cả nước tiến lên con đường chủ nghĩa xã hội.
3 Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ V của Đảng (3-1982), bước phát triển mới tư duy của Đảng về con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta.
Đại hội đã đánh giá tình hình kinh tế - xã hội sau 5 năm thực hiện Nghị quyết Đại hội IV và trên cơ sở đó đề ra một số chủ trương, chính sách quan trọng, có tính đổi mới.
Trang 6- Thứ nhất, Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ V của Đảng không chỉ khẳng định lại những kết quả đạt được trong nhiều năm thực hiện Nghị quyết Đại hội lần thứ IV, mà còn chỉ ra những tồn tại, hạn chế sau: chưa thấy hết những phức tạp của tình trạng rối ren về kinh tế sau nhiều năm chiến tranh trường kỳ, những khó khăn, phức tạp và yếu kém trong quản lý kinh tế - xã hội Chúng ta không thể thấy trước đầy đủ sự phát triển phức tạp của các vấn
đề thế giới Do đó đã chủ quan vội vàng đặt ra các chỉ tiêu quá cao cả về quy
mô và tốc độ tích luỹ vốn và phát triển sản xuất Đại hội cũng chỉ ra tư duy bảo thủ, trì trệ, duy trì cơ chế kiểm soát quan liêu quá lâu, bao cấp, chậm thay đổi chính sách, chế độ đã bóp nghẹt sản xuất.
Đại hội cũng chỉ rõ, những tồn tại, sai sót trong quản lý, điều hành kinh tế là nguyên nhân chủ yếu gây ra hoặc làm trầm trọng thêm những khó khăn về kinh tế
- xã hội trong thời gian qua.
Việc vạch ra những khuyết điểm, sai lầm và nguyên nhân của những khuyết điểm trên cũng thể hiện sự đổi mới về tư duy của Đảng.
- Thứ hai, Quốc hội lưu ý rằng, quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta tuy đã lâu và trải qua nhiều giai đoạn quá độ ngắn, nhưng chúng ta đang ở giai đoạn đầu của quá độ, bao gồm 5 năm tính đến năm 1990 và kéo dài đến năm
1990, có ý nghĩa đặc biệt quan trọng Hội nghị vạch ra những vấn đề chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội, quốc phòng, an ninh trong giai đoạn đầu.
- Thứ ba, Đại hội đã xác định hai nhiệm vụ chiến lược của cách mạng nước
ta trong thời kỳ mới Đó là sự thành công của sự nghiệp xây dựng xã hội chủ nghĩa và chuẩn bị cho cuộc đấu tranh kiên quyết bảo vệ Tổ quốc Việt Nam
xã hội chủ nghĩa Nêu rõ vị trí và mối quan hệ giữa hai nhiệm vụ chiến lược đó.
- Thứ tư, Quốc hội phối hợp nội dung của giai đoạn đầu của công nghiệp hóa Người tập trung sức lực phát triển nông nghiệp, coi nông nghiệp là hàng đầu, đưa nông nghiệp tiến gần hơn đến sản xuất lớn xã hội chủ nghĩa Đẩy mạnh sản xuất hàng tiêu dùng, tiếp tục xây dựng hàng loạt ngành hàng tiêu dùng, công nghiệp nặng với cơ cấu nông - công nghiệp hợp lý Đại hội cũng ghi nhận rằng có thời điểm ở miền Nam còn tồn tại 5 thành phần kinh tế: quốc doanh, tập thể, công doanh, tư nhân và tư bản tư doanh.
Trang 7Kết luận: Sau khi xem xét ý kiến đóng góp của cán bộ, đảng viên và chuyên gia về
các vấn đề kinh tế của nước ta, trên cơ sở đề cương về thực tiễn triển khai nghị quyết của Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ V, tháng 8-1986, Bộ Chính trị tuyên bố: Một hội nghị về một số vấn đề thuộc quan điểm kinh tế thuộc Kết luận thể hiện rõ quan điểm, chiến lược và chỉ đạo của Bộ Chính trị trong việc giải quyết ba vấn đề lớn là cơ cấu kinh tế, đổi mới xã hội chủ nghĩa và cơ chế quản lý kinh tế Kết luận của Bộ Chính trị về các mặt kinh tế nêu trên là một sự đổi mới rất căn bản trong tư duy kinh tế của đảng Đây sẽ là cơ sở quan trọng cho việc chuẩn bị báo cáo chính trị trình Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI của Đảng sau này.
4 Các bước đổi mới bộ phận/cục bộ ở Việt Nam trong thời kì đổi mới 1986
1979-*Nhìn nhận chung: Sau đại thắng mùa Xuân năm 1975, sau khi đất nước thống
nhất, chúng ta có tâm thế chủ quan, vội vã tiến nhanh lên chủ nghĩa xã hội trong một thời gian ngắn Tuy nhiên, vì nhiều nguyên nhân khách quan và chủ quan, trong đó có công tác điều hành kinh tế, những khiếm khuyết của mô hình kế hoạch hóa tập trung, bao cấp ngày càng lộ rõ, đất nước dần rơi vào khủng hoảng kinh tế -
xã hội Thực trạng này nhằm đưa đất nước thoát khỏi khủng hoảng Để làm được điều đó, trước tiên chúng ta phải thay đổi căn bản tư duy và hành vi Từ đó, những khám phá thử nghiệm và sự thay đổi của nhà nước nhằm kiểm soát khủng hoảng ra đời, và những câu trả lời mới cho những thách thức ra đời.
*Các bước thay đổi cục bộ:
Trang 8theo thành phần kinh tế, quan điểm bảo thủ, và xây dựng các kế hoạch cụ thể bằng cách khắc phục tình trạng trì trệ chính sách kinh tế
- Thứ hai, hội nghị chủ trương các biện pháp phát triển nông, lâm, ngư nghiệp, hàng tiêu dùng và hàng xuất khẩu Sản xuất nông nghiệp với các biện pháp đảm bảo nghĩa vụ ổn định lương thực trong 5 năm, phần còn lại sẽ được bán cho các bang để tự do lưu thông với giá thỏa thuận.
- Thứ ba, hội nghị xác định rõ: để phát triển sản xuất phải sử dụng thành phần kinh tế ngoài quốc doanh, tập thể kể cả tư bản tư nhân, sử dụng mọi kỹ năng lao động, trang bị vật chất kỹ thuật và trình độ quản lý
- Thứ tư, trước cải cách ruộng đất ở miền Nam, chúng ta cần quán triệt phương châm tích cực và kiên quyết Bây giờ chúng ta phải nhấn mạnh quyết tâm và phản kháng, đồng thời làm suy yếu các quan niệm về sự vội vàng, chủ quan, mệnh lệnh và bất công sản xuất và đời sống nhân dân.
Những đột phá đầu tiên trong đổi mới tư duy về cơ chế quản lý kinh tế của Đảng (1979-1986):
Bước 1: Hội nghị Trung ương lần thứ 6 (8-1979)
- Hội nghị đã bác bỏ nhiều yếu tố của hệ thống kinh tế tập trung, bao cấp.
- Nhận thức được sự cần thiết phải gắn quy hoạch với thị trường (mặc dù thị trường vẫn được coi là thứ yếu và bổ trợ cho quy hoạch).
- Nhận thấy sự cần thiết phải kết hợp nhiều loại lợi ích và huy động vai trò của tiểu thương, cá nhân, chủ nhỏ để mở rộng sản xuất.
Điều này đã đưa hội nghị đến giai đoạn quan trọng nhất của cơ chế kế hoạch hóa tập trung quan liêu bao cấp: sở hữu công cộng và kế hoạch hóa trực tiếp Bước 2: Chỉ thị 100, Quyết định 25 CP, 26CP của Chính phủ (1981)
- Nội dung của các Chỉ thị, Nghị quyết trên nhằm giải phóng lực lượng sản xuất và những điều chỉnh này đã tạo ra sự tương đồng giữa kinh tế kế hoạch hóa công khai với kinh tế tư nhân và thị trường tự do Đây là đặc điểm mà từ sau Hội nghị Trung ương 6, sự “cộng sinh” và “xung đột” giữa hai loại cơ chế kinh tế, hai loại thị trường là sự ra đời của thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam thời kỳ tăng trưởng nhanh là một đặc điểm cơ bản.
Trang 9Bước 3: Đại hội V của Đảng (1982)
- Trọng tâm: thiết lập hệ thống quản lý và quy hoạch phù hợp, cập nhật hệ thống quản lý và quy hoạch hiện hành Xoá bỏ chế độ quan liêu bao cấp.
- Về phương án kinh tế, kế hoạch phải quán triệt nguyên tắc hạch toán xí nghiệp xã hội chủ nghĩa.
- Để chấn chỉnh và phát huy vai trò của phân phối lưu thông, Quốc hội chủ trương kết hợp chặt chẽ cả ba biện pháp hành chính: biện pháp kinh tế, biện pháp hành chính và biện pháp giáo dục Vì vậy, thay vì đề cao và tuyệt đối hóa các biện pháp hành chính như trước đây, Chính phủ nhìn nhận vai trò của các biện pháp kinh tế và các động lực kinh tế.
Bước 4: Hội nghị Trung ương lần thứ 8 (6-1985)
- Chính sách xóa bỏ chế độ bao cấp, áp dụng chế độ đơn giá, chuyển sang hạch toán kinh doanh xã hội chủ nghĩa, thông qua luật sản xuất hàng hóa.
- Liệt kê ba khía cạnh quan trọng của phương pháp: giá cả, tiền lương, tiền
tệ (giá - lương - tiền)
Kết luận: Giai đoạn từ năm 1979 đến cuối những năm 1980 là giai đoạn Đảng
Cộng sản lãnh đạo đổi mới từng bộ phận, riêng lẻ từng vùng, tiến lên đổi mới toàn diện, đồng bộ Trong quá trình đó, tư duy mới của Đảng về chủ nghĩa xã hội, con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta từng bước được hình thành và phát triển, khắc phục dần lối tư duy cũ, mô hình chủ nghĩa xã hội cũ không còn phù hợp Thực tiễn chứng minh quá trình tìm hiểu, tính đúng đắn của con đường đi lên chủ nghĩa xã hội của nước ta, sự phù hợp về hình thức, thủ tục, cách làm và đem lại niềm tin, sự phấn khởi cho những người đến thực tiễn.
Câu 3 : Khái quát cuộc chiến tranh bảo vệ biên giới phía Tây Nam Tổ quốc 1979) Tìm hiểu về cuộc chiến tranh bảo vệ biên giới phía Bắc Tổ quốc năm 1979.
(1975-1 Cuộc chiến tranh bảo vệ biên giới phía Tây Nam 1975-1979 ( Chiến tranh biên giới Việt Nam – Campuchia )
Là cuộc xung đột quân sự giữa Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam và
Campuchia Dân chủ Cuộc chiến có nguyên nhân từ các hoạt động quân sự của
Trang 10quân Khmer Đỏ tấn công vào lãnh thổ Việt Nam, giết chóc người dân và đốt phá làng mạc Việt Nam trong những năm 1975–1978.
Việc đánh đổ Khmer Đỏ đã được thực hiện xong từ năm 1979, tuy nhiên tàn quân Khmer Đỏ vẫn còn tồn tại và đe dọa chính phủ mới tại Campuchia dẫn tớiviệc Việt Nam đóng quân ở lại Campuchia trong suốt 10 năm tiếp theo
KHÁI QUÁT
- Cuộc chiến tranh gồm 4 giai đoạn :
Giai đoạn 1: Từ giữa năm 1975 đến cuối năm 1978: Khmer Đỏ tổ chức nhiều cuộc tấn công vào lãnh thổ Việt Nam, phá hủy nhiều ngôi làng và giết hại hàngngàn thường dân Việt Nam Phía Việt Nam chỉ tổ chức phòng ngự và cố đàm phán tìm giải pháp hòa bình, nhưng Khmer Đỏ bác bỏ
Giai đoạn 2: Từ tháng 12 năm 1978 đến tháng 5 năm 1979: Khmer Đỏ tổ chức cuộc tấn công lớn nhất vào lãnh thổ Việt Nam với 19 sư đoàn nhưng bị phía Việt Nam bẻ gãy Sau cuộc tấn công, Việt Nam thấy không có cơ hội để đàm phán hòa bình nên đã tổ chức tấn công lớn vào Campuchia, lật đổ Khmer Đỏ
và lập nên chế độ mới do Heng Samrin đứng đầu Tàn quân Khmer Đỏ chạy sang ẩn náu bên kia biên giới Thái Lan
Giai đoạn 3: Từ giữa năm 1979 đến cuối năm 1985: Khmer Đỏ với sự trợ giúp
về lương thực, vũ khí của Thái Lan, Trung Quốc và Hoa Kỳ đã tổ chức đánh du kích và đe dọa sự tồn tại của chế độ Cộng hòa Nhân dân Campuchia Năm
1982, Việt Nam rút bớt quân khỏi Campuchia, ngay sau đó Khmer Đỏ hoạt động mạnh trở lại và chiếm một số khu vực Nhận thấy quân đội Cộng hòa Nhân dân Campuchia còn rất yếu ớt nên không thể tự chống cự được, Việt Nam buộc phải tiếp tục đóng quân tại Campuchia để bảo vệ chế độ Hun Sen
và truy quét Khmer Đỏ Mùa khô 1984–1985, cuộc tấn công quyết định của Việt Nam đã phá hủy các căn cứ chính của Khmer Đỏ, khiến Khmer Đỏ suy yếu
đi nhiều và không còn đủ sức đe dọa chế độ mới của Campuchia
Giai đoạn 4: Từ 1986 tới 1989: Sau chiến dịch mùa khô năm 1985, nhận thấy chế độ Cộng hòa Nhân dân Campuchia đã tự đứng vững được, từ năm 1986, Việt Nam rút dần quân khỏi Campuchia và đến năm 1989 thì rút hết Nhân việc Việt Nam rút quân, các lực lượng tàn quân của Khmer Đỏ định tái hoạt động, nhưng bị quân đội Hun Sen đánh bại Khmer Đỏ dần tan rã, các lãnh đạo bị bắt và bị đưa ra xét xử ở tòa án quốc tế
Ý NGHĨA
Trang 11- Đối với Việt Nam : Khẳng định chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc đồng thời thể
hiện tinh thần quốc tế cao cả giữa Đảng, Nhà nước, quân đội và nhân dân Việt Nam đối với nhân dân Campuchia
- Đối với nhân dân Campuchia : Xoá bỏ hoàn toàn chế độ diệt chủng Pôn Pốt, thành lập
chế độ Cộng hoà nhân dân Campuchia, bước kỉ nguyên độc lập tự
do, hồi sinh đất nước và xây dựng cuộc sống hoà bình, tươi đẹp
- Đối với quốc tế : Thể hiện sức mạnh tinh thần đoàn kết quốc tế ; góp phần giữ vững
hoà bình, ổn định ở khu vực Đông Nam Á và trên thế giới
2 Chiến tranh bảo vệ biên giới phía Bắc năm 1979 ( Chiến tranh biên giới Việt - Trung )
Là một cuộc chiến ngắn nhưng khốc liệt giữa Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa và Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam, nổ ra vào ngày 17 tháng 2 năm 1979 khi Trung Quốc đưa quân tấn công Việt Nam trên toàn tuyến biên giới giữa 2 nước
Chiến tranh biên giới Việt Trung năm 1979 bắt nguồn từ quan hệ căng thẳng kéo dài giữa hai quốc gia, kéo dài trong khoảng một tháng với thiệt hại về người và tài sản cho cả hai phía
TÓM TẮT
Rạng sáng ngày 17/2/1979, hơn 60 vạn quân Trung Quốc với 9 quân đoàn chủlực, 5 sư đoàn bộ binh độc lập và các trung đoàn địa phương, tổng cộng gồm
32 sư đoàn bộ binh và bộ binh cơ giới, 2.558 khẩu pháo mặt đất, 550 xe tăng,
676 máy bay các loại, 2 sư đoàn phòng không trong đó có nhiều dàn phóng hỏatiễn… đã bất ngờ mở cuộc tấn công xâm lược trên toàn tuyến biên giới phía BắcViệt Nam từ Phong Thổ (Lai Châu) đến Móng Cái (Quảng Ninh) dài hơn 1000
km, thuộc địa bàn 6 tỉnh biên giới phía Bắc Việt Nam gồm: Quảng Ninh, LạngSơn, Cao Bằng, Hà Tuyên (Hà Giang, Tuyên Quang), Hoàng Liên Sơn (LàoCai, Yên Bái), Lai Châu (nay là Điện Biên và Lai Châu)…
Quân Trung Quốc đã bắn phá, tiêu hủy tất cả các cơ sở, kho tàng, nhà ở của ta ởcác thị xã, thị trấn và các làng bản, bắn giết vô cùng tàn bạo nhân dân ta, quânTrung Quốc tiến sâu vào địa bàn các tỉnh Lạng Sơn, Lai Châu từ 10 -15 km,tiến sâu vào đất Cao Bằng gần 50 km
Trước sự tấn công bất ngờ của quan Trung Quốc, quân đội và nhân dân ViệtNam, trực tiếp là dân quân, du kích và bộ đội địa phương ở 6 tỉnh biên giới phíaBắc và tiếp đó là quân chủ lực được tăng cường, đã dũng cảm kiên cường chiếnđấu đánh bại quân Trung Quốc xâm lược, bảo vệ vững chắc từng tấc đất biêngiới thiêng liêng của Tổ quốc
Trang 12Ngày 18/3/1979, quân Trung Quốc bị thiệt hại nặng nề đã buộc phải rút quân vềnước Tuy nhiên, tại một số điểm thuộc một số tỉnh ở khu vực biên giới, chiếntranh vẫn còn tiếp diễn, đặc biệt ở mặt trận Vị Xuyên của tỉnh Hà Giang, nhữngtrận đánh đẫm máu để giành giật từng điểm cao với những hy sinh vô cùng lớnvẫn chưa chấm dứt, mà phải đến tháng 9/1989 chiến tranh mới thật sự kết thúc.
Ý NGHĨA
- Khẳng định ý chí, sức mạnh bền bỉ của nhân dân Việt Nam quyết tâm vượt quamọi khó khăn, thử thách để bảo vệ độc lập, chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ Tổ quốc
- Khẳng định về quyền tự vệ chính đáng của mình, kiên quyết đánh trả mọi cuộctiến công xâm phạm chủ quyền
- Khẳng định đường lối chính trị, quân sự đúng đắn, sự chỉ đạo chiến lược tài tình
Câu 4 :Tại sao Việt Nam phải tiến hành đổi mới? Nội dung cơ bản của Đại hội Đại biểu
toàn quốc lần thứ VI của Đảng (12-1986)?
Lí do Việt Nam phải tiến hành đổi mới:
- Sau thắng lợi vĩ đại của cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, miền Nam được hoàntoàn giải phóng, đất nước thống nhất, cả nước đi lên chủ nghĩa xã hội Trong niềm vuichiến thắng, dưới sự lãnh đạo của Đảng, nhân dân cả nước bắt tay vào khôi phục vàphát triển kinh tế, từng bước xây dựng cơ sở vật chất - kỹ thuật của chủ nghĩa xã hộitrên phạm vi cả nước
+) Từ thời chiến chuyển sang thời bình, đòi hỏi Đảng phải đổi mới tư duy, thay đổi nộidung và phương thức lãnh đạo cho phù hợp với tình hình mới Nghị quyết Đại hội IV vàĐại hội V của Đảng đã đặt ra yêu cầu phải đẩy mạnh phát triển kinh tế - xã hội, củng cốquốc phòng, an ninh, từng bước xây dựng nước ta thành một nước xã hội chủ nghĩa phồnvinh Tuy vậy, do hoàn cảnh lịch sử lúc bấy giờ, đất nước vừa trải qua nhiều năm chiếntranh, cơ chế tập trung, quan liêu, hành chính mệnh lệnh đã ăn sâu vào tiềm thức của mọingười, việc đổi mới tư duy và phương thức lãnh đạo của Đảng phù hợp với điều kiện mớichưa được đặt ra một cách đúng mức Thắng lợi vĩ đại của cuộc kháng chiến chống Mỹ,cứu nước, một mặt, tạo ra những thuận lợi vô cùng to lớn cho sự nghiệp xây dựng chủnghĩa xã hội; mặt khác, cũng tạo ra tâm lý chủ quan duy ý chí cản trở sự phát triển nhậnthức của Đảng Trên nhiều lĩnh vực, nhiều vấn đề, tình trạng Đảng bao biện làm thay khánghiêm trọng, dẫn đến hệ thống chính trị bị xơ cứng, kém hiệu quả Hoạt động của Nhànước và các đoàn thể quần chúng nhiều khi chỉ mang tính hình thức Tính độc lập, chủ