Việc kinh doanh nào cũng luôn phải đối mặt với nhiều loại rủi ro khác nhau và hệ thống ngân hàng nước ta cũng vậy phải đối mặt với các loại rủi ro như rủi ro tín dụng, rủi ro thanh khoản
Trang 1
NGUYỄN THỊ PHƯƠNG QUYÊN
TÁC ĐỘNG CỦA CÁC YẾU TỐ RỦI RO TÀI CHÍNH ĐẾN NGUY CƠ PHÁ
SẢN NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI VIỆT NAM
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
TP Hồ Chí Minh – Năm 2019
Trang 2NGUYỄN THỊ PHƯƠNG QUYÊN
TÁC ĐỘNG CỦA CÁC YẾU TỐ RỦI RO TÀI CHÍNH ĐẾN NGUY CƠ PHÁ
SẢN NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI VIỆT NAM
Chuyên ngành: Tài chính-ngân hàng (ngân hàng)
Mã số: 8340201
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
PGS.TS TRƯƠNG THỊ HỒNG
TP Hồ Chí Minh – Năm 2019
Trang 3nghiên cứu của riêng bản thân và được sự hướng dẫn của PGS.TS Trương Thị Hồng Các dữ liệu , nội dung và kết quả nghiên cứu đều trung thực, chính xác, các nhận định, nội dung trích dẫn từ nhiều nguồn khác nhau đều có nguồn gốc rõ ràng
TP Hồ Chí Minh, ngày 15 tháng 03 năm 2019 Học viên
Nguyễn Thị Phương Quyên
Trang 4MỤC LỤC
DANH MỤC VIẾT TẮT
DANH MỤC BẢNG BIỂU
DANH MỤC BIỂU ĐỒ
TÓM TẮT-ABSTRACT
CHƯƠNG 1: GIỚI THIỆU VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1
1.1 Lý do chọn đề tài 1
1.2 Mục tiêu và câu hỏi nghiên cứu 2
1.3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 2
1.4 Phương pháp nghiên cứu 3
1.5 Kết cấu luận văn 3
CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VỀ SỰ TÁC ĐỘNG CỦA CÁC YÊU TỐ RỦI RO TÀI CHÍNH ĐẾN NGUY CƠ PHÁ SẢN CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 5
2.1 Cơ sở lý thuyết về khả năng phá sản của ngân hàng 5
2.1.1 Khái niệm về nguy cơ phá sản ngân hàng 5
2.1.2 Các dấu hiệu cho thấy ngân hàng có nguy cơ dẫn đến phá sản ngân hàng 5
2.1.3 Nguyên nhân dẫn đến phá sản ngân hàng 8
2.1.3.1 Nguyên nhân bên ngoài ngân hàng 8
2.1.3.2 Nguyên nhân bên trong ngân hàng 9
2.1.4 Tác động của phá sản ngân hàng 10
2.1.4.1 Tích cực 10
2.1.4.2 Tiêu cực 10
2.2 Các yếu tố rủi ro tài chính trong hoạt động kinh doanh của hệ thống ngân hàng thương mại 11
2.2.1 Khái niệm rủi ro 11
Trang 52.2.2.2 Rủi ro thanh khoản 13
2.2.2.3 Rủi ro lãi suất 15
2.2.3 Một vài chỉ số đo lường rủi ro phá sản ngân hàng 15
2.2.3.1 Chỉ số Z-score của E.I.Altaman 1968 15
2.2.3.2 Chỉ số Z-score theo Roy 16
2.3 Ảnh hưởng của rủi ro tài chính đến khả năng phá sản của ngân hàng 17
2.3.1 Ảnh hưởng của rủi ro tín dụng 17
2.3.2 Ảnh hưởng của rủi ro thanh khoản 18
2.3.3 Ảnh hưởng của rủi ro lãi suất 18
2.4 Mối quan hệ giữa rủi ro tài chính và rủi ro phá sản của ngân hàng thương mại 19 2.5 Lược khảo các nghiên cứu trước đây về việc tác động của các rủi ro tài chính đến nguy cơ phá sản của ngân hàng 20
2.5.1 Nghiên cứu quốc tế 20
2.5.2 Nghiên cứu trong nước 22
CHƯƠNG 3: THỰC TRẠNG TÁC ĐỘNG CÁC YẾU TỐ RỦI RO TÀI CHÍNH ĐẾN NGUY CƠ PHÁ SẢN NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI VIỆT NAM 24
3.1 Tổng quan hệ thống NHTM Việt Nam giai đoạn 2009 đến 2017 24
3.1.1 Tốc độ tăng trưởng về tổng tài sản và vốn chủ sở hữu các nhóm NHTM tại Việt Nam giai đoạn từ năm 2009 đến 2017 24
3.1.2 Hoạt động huy động vốn và cho vay các nhóm NHTM tại Việt Nam giai đoạn từ năm 2009 đến 2017 27
3.1.2.1 Tăng trưởng huy động vốn bình quân 27
3.1.2.2 Tốc độ tăng trưởng cho vay 28
3.1.3 Hiệu quả hoạt động động kinh doanh 30
Trang 63.2.2 Rủi ro thanh khoản 34
3.2.3 Rủi ro lãi suất 35
CHƯƠNG 4: PHƯƠNG PHÁP, DỮ LIỆU VÀ KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 38
4.1 Giới thiệu chương, lập luận chọn biến 38
4.2 Mô hình nghiên cứu 42
4.3 Phương pháp thu thập và xử lý dữ liệu 43
4.3.1 Phương pháp thu thập dữ liệu nghiên cứu 43
4.3.2 Phương pháp xử lý dữ liệu nghiên cứu 44
4.4 Kết quả nghiên cứu và thảo luận 48
4.4.1 Thống kê mô tả biến nghiên cứu 48
4.4.2 Phân tích tương quan 49
4.4.3 Các kiểm định mô hình nghiên cứu 51
4.4.4 Phân tích mô hình hồi quy 52
4.4.5 Thảo luận kết quả phân tích 53
CHƯƠNG 5: KẾT LUẬN VÀ GIẢI PHÁP NHẰM HẠN CHẾ RỦI RO TÀI CHÍNH VÀ NGUY CƠ PHÁ SẢN CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI VIỆT NAM 58
5.1 Kết luận: 58
5.2 Các giải pháp 59
5.2.1 Giải pháp đối với thanh khoản ngân hàng 59
5.2.2 Giải pháp quản trị an toàn vốn 61
5.2.3 Nâng cao hiệu quả hoạt động huy động vốn 61
5.2.4 Giải pháp quản lý rủi ro và xử lý dứt điểm nợ xấu 64
5.2.5 Nâng cao hiệu quả quản lý cơ cấu chi phí và thu nhập tối ưu 65
5.2.6 Giải pháp ứng phó và điều tiết kinh tế vĩ mô 66
5.3 Các kiến nghị 67
5.3.1 Kiến nghị với chính phủ và Ngân hàng nhà nước 67
Trang 9Basel 6
Bảng 4 1 Tổng hợp các biến nghiên cứu và phương pháp đo lường 42
Bảng 4 2 Danh sách các ngân hàng thương mại 43
Bảng 4 3 Thống kê mô tả các biến nghiên cứu 49
Bảng 4 4 Phân tích tương quan 49
Bảng 4.5 Phân tích đa cộng tuyến 49
Bảng 4 6 Kết quả các kiểm định mô hình 51
Bảng 4 7 Kết quả hồi quy mô hình nghiên cứu 53
Trang 10Biểu đồ 3 3 Tốc độ tăng trưởng huy động vốn trung bình ngành ngân hàng và các
nhóm NHTM 27
Biểu đồ 3.4 Tốc độ tăng trưởng cho vay trung bình ngành ngân hàng và các nhóm NHTM 29
Biểu đồ 3.5: Tỷ suất sinh lời trên tổng tài sản của từng nhóm NHTM 30
Biểu đồ 3.6: Tỷ suất sinh lời trên vốn chủ sở hữu của từng nhóm NHTM 31
Biểu đồ 3 7 Tỷ lệ nợ xấu trung bình ngành và từng nhóm NHTM 33
Biểu đồ 3 8 Tỷ lệ chi phí dự phòng RRTD/ thu nhập lãi thuần (LLP) trung bình của từng nhóm NHTM giai đoạn 2009-2017 34
Biểu đồ 3.9: Tỷ lệ dư nợ cho vay trên tiền gửi khách hàng (LDR) trung bình các nhóm NHTM giai đoạn 2009-2017 ………35
Biểu đồ 3.10 Thu nhập lãi thuần trên tổng tài sản (NIR) trung bình của các nhóm NHTM giai đoạn 2009-2017……….36
Trang 11TÓM TẮT
Lý do lựa chọn đề tài nghiên cứu: Ngân hàng là hệ thống tuần hoàn vốn cóp
vai trò quan trọng trong nền kinh tế Hiện nay hệ thống ngan hàng đang có chiều hướng tích cực nhưng bên cạnh đó cũng gặp nhiều rủi ro tài chính nhưu rủi ro tín dụng, rủi ro thanh khoản, rủi ro lãi suất dẫn đến nguy cơ phá sản NHTM
Mục tiêu nghiên cứu: Xác định, đo lường các yếu tố rủi ro tài chính tác động
đến nguy cơ phá sản NHTM Việt Nam và đề ra giải pháp, kiến nghị nhằm hạn chế tối đa tình trạng trên
Phương pháp nghiên cứu: phương pháp nghiên cứu định lượng, thống kê mô
tả, thu thập, tổng hợp, xử lý, so sánh, phân tích số liệu của 24 NHTM Việt Nam
Kết quả nghiên cứu: Các biến độc lập đại diện cho các loại rủi ro tài chính rủi
ro tín dụng (LLP), rủi ro thanh khoản(LDR), rủi ro lãi suất (NIR) và biến chi phí hoạt động (CTI), tốc độ tăng trưởng (GDP), lạm phát (INF) tác động tiêu cực với zscore hay đồng biến với rủi ro phá sản NHTM và tỷ lệ đòn bẩy tài chính (LEV) tác động tiêu cực với zscore
Kết luận và nghiên cứu: Kết quả bài nghiên cứu giúp các NHTM nước ta có
thể tham khảo sự tác động của các yêu tố rủi ro tài chính đến nguy cơ phá sản ngân hàng từ đó mỗi ngân hàng có chiến lược, giải pháp riêng đảm bảo việc kinh doanh lành mạnh và ổn định
Từ khóa: rủi ro phá sản ngân hàng, nguy cơ phá sản ngân hàng…
Trang 12ABSTRACT Reasons for writing: The bank is circulating capital system which plays
important role in the economy Currently, the banking system is in a positive trend, but there are also financial risks such as credit risks, liquidity risks, and interest rate risks leading to the risk of bankruptcy of Commercial Banks
Problem: Identify and measure financial risk factors affecting the risk of
bankruptcy of Vietnamese Commercial Banks and propose solutions and recommendations to minimize the above situation
Research methods: methods of quantitative research, statistics describing,
collecting, synthesizing, processing, comparing and analyzing data of 24 Vietnamese Commercial Banks
Research results: Independent variables representing the types of financial
risks of credit risk (LLP), liquidity risk (LDR), interest rate risk (NIR) and commission to income ratio (CTI), Gross Domestic Product (GDP), inflation (INF) negative impacts on zscore or similar to bankruptcy risk and leverage ratio (LEV) negatively impact on zscore
Conclusion and research: The results of the research paper help Vietnamese
Commercial Banks to refer to the impact of financial risk factors on the risk of bankruptcy from which each bank has its own strategies and solutions to ensure a healthy and stable business
Keywords: bankruptcy risk, liability to bankrupt
Trang 13CHƯƠNG 1: GIỚI THIỆU VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1.1 Lý do chọn đề tài
Ngân hàng là hệ thống tuần hoàn vốn của toàn bộ nền kinh tế nói chung và nước Việt Nam ta nói riêng nên nó có vai trò rất quan trọng trong việc điều hòa vốn của nền kinh tế Việc kinh doanh nào cũng luôn phải đối mặt với nhiều loại rủi ro khác nhau và hệ thống ngân hàng nước ta cũng vậy phải đối mặt với các loại rủi ro như rủi ro tín dụng, rủi ro thanh khoản, rủi ro lãi suất, rủi ro hối đoái…Đặc biệt là sau cuộc khủng hoảng tài chính thế giới năm 2007-2008 thì việc kinh doanh của hệ thống ngân hàng nước ta càng khó khăn hơn và thậm chí là các ngân hàng yếu kém phải đối mặt với nguy cơ phá sản Theo thống kê của một tờ báo Washington Post, thì số lượng ngân hàng bị phá sản trong năm 2010 lên đến đỉnh điểm là 157 ngân hàng, nhiều hơn 17 ngân hàng so với năm 2009 Việt Nam ta cũng không ngoại lệ, trong những năm vừa qua thì hệ thống ngân hàng nước ta cũng đã bộc lộ nhiều yếu kém, các rủi ro tài chính xảy ra nhiều làm ngân hàng rơi vào tình trạng thiếu hụt thanh khoản, việc hoạt động kinh doanh gặp khó khăn, lợi nhuận giảm và các vấn
đề nghiêm trọng khác ảnh hưởng sự phát triển của đất nước có nền kinh tế đang phát triển như Việt Nam
Trong những năm gần đây thì nước ta đã có nhiều sự kiện sáp nhập, hợp nhất ngân hàng hay các ngân hàng có nguy cơ phá sản được nhà nước mua lại với giá 0 đồng và gần đây là Nhà nước ta đã có quyết định cho phá sản ngân hàng nên các ngân hàng cần phải kiểm soát chặt chẽ các rủi ro mà ngân hàng mình đang gặp phải
để có những giải pháp kịp thời nhằm hạn chế tối đa tình trạng dẫn đến nguy cơ phá sản của ngân hàng Chính vì vậy việc phân tích và đánh giá các loại rủi ro tài chính dẫn đến nguy cơ phá sản của ngân hàng là vấn đề rất cần thiết trong việc kinh doanh
và quản trị tại ngân hàng Từ đó xác định được mức độ tác động của các loại rủi ro tài chính này đến nguy cơ phá sản ngân hàng và tìm ra các giải pháp nhằm nâng cao mức độ ổn định ngân hàng, nâng cao sự cạnh tranh lành mạnh trong toàn hệ thống ngân hàng Việt Nam nói riêng và phát triển kinh tế Việt Nam nói chung
Trang 14Từ những lý do trên thì tác giả quyết định chọn đề tài nghiên cứu cho bài luận văn là “Tác động của các yếu tố rủi ro tài chính đến nguy cơ phá sản của ngân hàng thương mại Việt Nam”
1.2 Mục tiêu và câu hỏi nghiên cứu
Mục tiêu nghiên cứu
- Đo lường mức độ tác động các yếu tố rủi ro tài chính ảnh hưởng đến nguy cơ phá sản của các NHTM
- Đề xuất các giải pháp nhằm hạn chế rủi ro tài chính dẫn đến nguy cơ phá sản của các NHTM tại Việt Nam
Câu hỏi nghiên cứu
- Phá sản là gì, các yếu tố rủi ro tài chính nào đẫn đến nguy cơ phá sản tại các NHTM tại Việt Nam?
- Thực trạng các loại rủi ro tài chính dẫn đến phá sản ngân hàng trong những năm gần đây ở nước ta có những biến động gì?
- Các yếu tố rủi ro tài chính tác động như thế nào đến rủi ro phá sản của ngân hàng thương mại Việt nam?
1.3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu: Các yếu tố rủi ro tài chính tác động đến nguy cơ phá
sản của các NHTM tại Việt Nam
Phạm vi nghiên cứu: 24 ngân hàng ở Việt Nam trong giai đoạn 2009-2017
vì các ngân hàng này có số liệu tương đối chính xác với quy mô vốn điều lệ từ nhỏ đến lớn và trong bài nghiên cứu này chia thành 4 nhóm như sau:
Trang 15ngân hàng nó thể hiện năng lực, khả năng cạnh tranh của ngân hàng, vốn điều lệ càng cao thì việc kinh doanh càng thuận lợi, khả năng gặp các rủi ro tài chính hay cách khắc phục rủi ro cũng tương ứng và việc phân chia thành 4 nhóm ngân hàng cũng thể hiện quy mô vốn và năng lực cạnh tranh tăng dần của từng nhóm ngân hàng
Cơ sở dữ liệu sẽ được thu thập trên các báo cáo thường niên của các ngân hàng đã được công bố chính thức cụ thể qua từng năm từ năm 2009 đến năm 2017, tổng cục thống kê và ngân hàng thế giới (WB) từ đó lập bảng dữ liệu
Trong bài luận văn tác giả chỉ nêu và phân tích 3 loại rủi ro tài chính chủ yếu
là rủi ro tín dụng, rủi ro lãi suất, rủi ro thanh khoản vì giới hạn kiến thức và thời gian hay các loại cũng rủi ro tài chính này cũng là rủi ro mà các ngân hàng thương mại thường hay gặp phải trong hoạt động kinh doanh của mình
1.4 Phương pháp nghiên cứu
Sử dụng phương pháp thu thập, tổng hợp, so sánh để thực hiện khảo lượt các khung lý thuyết cũng như các nghiên cứu thực nghiệm đã được nghiên cứu trước
Sử dụng phương pháp thu thập, xử lý, phân tích đế phân tích tình hình hoạt động của các NHTM điển hình bên cạnh đó thì sử dụng phương pháp miêu tả, so sánh 4 nhóm ngân hàng được phân theo quy mô tổng tài sản và vốn điều lệ theo tiêu chuẩn của NHNN để thấy được sự khác biệt giữa 4 nhóm ngân hàng
Số liệu thứ cấp được thu thập từ các báo cáo thường niên từ năm 2009-2017 hay các bảng công bố thông tin trên tạp chí, cục thống kê
Phương pháp nghiên cứu định lượng để xác định mối quan hệ giữa các biến độc lập, sử đụng phương pháp thống kê, mô tả , phân tích để kiểm định giá trị trung bình, độ lệch chuẩn của các giá trị với giá trị trung bình từng biến độc lập
1.5 Kết cấu luận văn
Chương 1: Giới thiệu vấn đề nghiên cứu
Chương 2: Cơ sở lý thuyết về tác động của các yếu tố rủi ro tài chính đến nguy
cơ phá sản của ngân hàng thương mại
Trang 16Chương 3: Thực trạng tác động của các yếu tố rủi ro tài chính đến nguy cơ phá sản của ngân hàng thương mại Việt Nam
Chương 4: Phương pháp, dữ liệu và kết quả nghiên cứu
Chương 5: Kết luận và giải pháp nhằm hạn chế rủi ro tài chính và nguy cơ phá sản của các ngân hàng thương mại Việt Nam
Trang 17CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VỀ SỰ TÁC ĐỘNG CỦA CÁC YÊU TỐ RỦI RO TÀI CHÍNH ĐẾN NGUY CƠ PHÁ SẢN CỦA NGÂN HÀNG
THƯƠNG MẠI 2.1 Cơ sở lý thuyết về khả năng phá sản của ngân hàng
2.1.1 Khái niệm về nguy cơ phá sản ngân hàng
Bessis (2011) cho rằng nguy cơ phá sản ngân hàng là các rủi ro mà ngân hàng đang gặp dẫn đến việc kinh doanh thua lỗ mà nguồn vốn hiện tại của ngân hàng không đủ khả năng đáp ứng Đây cũng là bắt nguồn cho nguy cơ phá sản ngân hàng
do ngân hàng gặp phải các rủi ro như nợ xấu tăng cao dẫn đến ngân hàng rơi vào tình gặp rủi ro thanh khoản, khách hàng không thể hoàn thành các nghĩa vụ trả nợ gây vỡ nợ
Nguy cơ phá sản ngân hàng là khi ngân hàng đang trong tình trạng gặp các loại rủi ro như rủi ro tín dụng, rủi ro thanh khoản, rủi ro lãi suất…hay nói cách khác
là khi ngân hàng rơi vào tình trạng kiệt quệ tài chính, nguồn tiền tại ngân hàng không đủ để đáp ứng phục vụ cho các hoạt động kinh doanh của ngân hàng Mà tình trạng này càng kéo dài thì ngân hàng càng có nguy cơ dẫn đến phá sản càng tăng do chi phí tăng, lợi nhuận giảm và ngược lại thì ngân hàng đang trong tình trạng hoạt động kinh doanh ổn định
2.1.2 Các dấu hiệu cho thấy ngân hàng có nguy cơ dẫn đến phá sản ngân hàng
Một ngân hàng đang có nguy cơ phá sản thì thường có các dấu hiệu sau:
- Ngân hàng không tuân thủ đúng các quy định ngân hàng Nhà Nước đưa ra
Lãi suất huy động của ngân hàng đột ngột tăng cao hơn so với lãi suất huy động trung bình ngành cho thấy ngân hàng đang trong tình trạng thiếu hụt vốn cần huy động để bù đắp Ngân hàng là đơn vị kinh doanh sản phẩm đặc biệt có chức năng riêng nên nguồn tiền kinh doanh chủ yến không từ vốn của các cổ đông mà là
do huy động nguồn vốn nhàn rỗi từ người dân phục vụ cho các tổ chức, cá nhân hoạt động kinh doanh trong xã hội
Trang 18 Ngân hàng có tỷ lệ an toàn vốn tối thiểu CAR ( Capital Adequacy Ratio) thấp hơn so với quy định theo hiệp ước Basel (NHNN, 2011) CAR có ý nghĩa tương tự như một tỷ lệ đòn bẩy vừa kiểm soát được nguồn vốn trong hoạt động kinh doanh của ngân hàng vừa đảm bảo an toàn cho khách hàng gửi tiết kiệm và được quy định cụ thể trong các hiệp ước Basel I, Basel II, Basel III
Basel I ra đời năm 1988 nguyên nhân do cuộc khủng hoảng tài chính về tiền tệ quốc tế và thị trường ngân hàng nhằm đo lường mức độ an toàn vốn cũng như năng lực tài chính của ngân hàng
Basel II ra đời năm 2001 và có hiệu lực năm 2006 nhằm bổ sung thêm rủi ro hoạt động và rủi ro thị trường vào mẫu số thay vì Basel I chỉ tập trung chủ yếu vào rủi ro tín dụng
Basel III ra đời phù hợp với tình hình kinh tế hơn nhằm hoàn thiện hơn vì Basel III đã tăng vốn có chất lượng cao lên , kiểm soát chặt chẽ hơn điều này sẽ giúp hệ thống ngân hàng củng cố được bức tường thành an ninh tài chính - ngân hàng
Bảng 2 1: Thời gian ban hành và có hiệu lực và công thức tính của các hiệp
ước Basel Thời gian
01/2019
𝐴𝑅 = Vốn cấp 1 + vốn cấp 2
RWARRTD + 𝑅𝑊𝐴𝑅𝑅𝐻Đ+ 𝑅𝑊𝐴𝑅𝑅𝑇𝑇 ∗ 100 Nguồn: Tổng hợp thông tin từ www.bis.org Theo tiêu chuẩn Basel thì chỉ số CAR của mỗi ngân hàng ít nhất phải bằng 8%, nếu ngân hàng có chỉ tiêu này thấp hơn trong một khoảng thời gian chứng tỏ ngân hàng đang phải đối mặt với rủi ro tín dụng, rủi ro hoạt động hay rủi ro thanh
Trang 19khoản Muốn tăng chỉ số CAR tăng chỉ số này ngân hàng phải tăng vốn mà CAR không đạt chứng tỏ ngân hàng đang thiếu hụt vốn
- Tỷ lệ nợ xấu ngày càng tăng cao
Theo như Delis (2005) thì nợ xấu luôn là vấn đề luôn được toàn hệ thống ngân hàng các nước đặc biệt quan tâm vì khi tỷ lệ này quá cao thì ngân hàng bắt buộc phải trích lập thêm quỹ dự phòng rủi ro từ đó lợi nhuận ngân hàng giảm hay thậm chí là kinh doanh thua lỗ Chỉ tiêu này được dùng để các ngân hàng đo lường rủi ro tín dụng, ngân hàng hoạt động ổn định khi tỷ lệ này thấp và sẽ có nguy cơ mất vốn hay nguy cơ phá sản khi tỷ lệ này quá cao
- Lợi nhuận ngân hàng sụt giảm, chi phí hoạt động kinh doanh tăng
Lợi nhuận ngân hàng sụt giảm hay thiếu hụt vốn thì ngân hàng phải bù đắp lại các thiệt hại bằng nguồn vốn tự có của mình Mà nguồn vốn tự có giảm thì quy mô ngân hàng giảm từ đó lòng tin của khách hàng dành cho ngân hàng cũng giảm theo, các hoạt động trong kinh doanh của ngân hàng sẽ gặp khó khăn hay thậm chí ngân hàng rơi vào tình trạng rủi ro thanh khoản, nguy cơ phá sản ngân hàng tăng cao (Shelagh Heffernan,2005)
- Nguồn tiền mặt hạn chế, mất khả năng chi trả
Việc quản trị rủi ro và quản trị dòng tiền có vai trò rất quan trọng, nếu tỷ lệ tối thiểu giữa tài sản “có” tài sản có thể sử dụng cho thanh toán ngay và tài “Nợ” phải thanh toán ngay bị mất cân đối hay không đáp ứng kịp thời các nhu cầu thanh toán tiền mặt của khách hàng thì ngân hàng đang trong tình trạng khả năng chi trả bị hạn chế Mà ngân hàng không đáp ứng được nhu cầu của khách hàng thì khách hàng sẽ mất niềm tin vào ngân hàng, hiệu ứng dây chuyền dẫn đến khách hàng đến rút tiền ồ
ạt làm cho ngân hàng sẽ rơi vào tình trạng thiếu hụt trầm trọng hơn, nguy cơ phá sản sẽ tăng cao
- Nhân sự cấp cao của ngân hàng thay đổi nhiều lần trong thời gian ngắn
Khi chủ tịch hội đồng quản trị hay các nhân sự cấp cao thay đổi nhiều lần trong khoản thời gian ngắn chứng tỏ việc kinh doanh của ngân hàng đang gặp khó khăn có thể do việc quản trị, kinh doanh chưa phù hợp, ngân hàng phải thay đổi
Trang 20nhiều phương pháp kinh doanh khác từ đó sẽ làm giảm lợi nhuận ảnh hưởng đến việc kinh doanh của ngân hàng
2.1.3 Nguyên nhân dẫn đến phá sản ngân hàng
Ngân hàng là tổ chức tài chính trung gian có vai trò đặc biệt quan trọng trong nền kinh tế của một quốc gia vì vậy mà nhiều nhà nghiên cứu đã nghiên cứu về nguyên nhân dẫn đến nguy cơ phá sản của các ngân hàng nhằm tìm ra các giải pháp ngăn chặn nguy cơ trên Theo tác giả thì nguyên nhân dẫn đến nguy cơ phá sản các ngân hàng thương mại chia thành 2 nhóm nguyên nhân từ bên ngoài và nguyên nhân bên trong chính ngân hàng đó
2.1.3.1 Nguyên nhân bên ngoài ngân hàng
- Môi trường nền kinh tế vĩ mô có nhiều biến động bất ngờ cụ thể là khi nền kinh tế bị khủng hoảng hay sự biến động về tỷ lệ lạm phát, tỷ lệ lãi suất, các chu kỳ kinh tế…Các biến động này sẽ làm suy yếu khả năng tồn tại của ngân hàng thương mại (Gavin và Hausman, 1996)
- Do hiệu ứng lan truyền các thông tin bất cân xứng giữa ngân hàng và người gửi tiền Khách hàng sẽ không hiểu rõ tình hình kinh doanh thực tế tại ngân hàng nên khi nghe thông tin bất lợi ngân hàng họ đang gửi tiền, theo tâm lý người dân lập tức họ sẽ đến ngân hàng rút tiền ồ ạt nhằm đảm bảo nguồn vốn của họ Như vậy sẽ ảnh hưởng đến tình hình thanh khoản của ngân hàng nếu không có sự hỗ trợ của Ngân hàng Nhà nước hay ngân hàng khác, ngân hàng đó sẽ có khả năng dẫn đến phá sản ngân hàng
- Rủi ro toàn hệ thống ngân hàng : sự sụp đổ của một số ngân hàng lớn trong hay ngoài nước sẽ kéo theo sự đổ vỡ toàn hệ thống ngân hàng do người dân mất lòng tin vào ngân hàng thì sẽ dùng nguồn vốn của họ sang đầu tư vào các kênh khác
để kiếm lợi nhuận (Shelagh Heffernan,2005)
- Sự quản lý, giám sát của ngân hàng chưa chặt chẽ Theo nghiên cứu của Demirguc-Kuntsi Detragiache (2000) và Dzibek và Pazazbasioglu (1997), tác giả nêu ra nguyên nhân của sự phá sản ngân hàng là do sự điều chỉnh, quản lý, kiểm soát của ngân hàng còn yếu
Trang 212.1.3.2 Nguyên nhân bên trong ngân hàng
- Kinh nghiệm, năng lực, kỹ năng quản lý của các nhà quản lý, giám đốc ngân hàng chưa chất lượng Năng lực quản lý, chuyên môn yếu thì khả năng giải quyết các tình huống bất ngờ còn hạn chế hay việc định hướng trong việc phát triển ngân hàng chưa đúng, chưa hiệu quả gây tổn thất nhiều dẫn đến nguy cơ phá sản ngân hàng tăng
- Quản lý ngân hàng, giám sát tài chính kém hiệu quả, chưa tuân thủ đúng và đầy đủ các quy trình nghiệp vụ của ngân hàng hay các quy định về an toàn tối thiểu, các khoản vay dài hạn với lãi suất cố định mà không quan tâm đến sự biến động của thị trường, các khoản đầu tư nguy hiểm cũng như chưa đảm bảo trong quản lý an toàn về vốn và tài sản
- Ngân hàng lựa chọn khách hàng vay sai hay khách hàng đi vay không sử dụng vốn vay đúng mục đích, phương án kinh doanh dẫn đến việc kinh doanh của khách hàng gặp khó khăn, tăng nợ xấu ngân hàng
- Ngân hàng chỉ đặt nặng vấn đề doanh số , tăng trưởng tín dụng quá mức so với khả năng quản lý của nhân viên, của ngân hàng, các nguồn kinh phí, cho vay vượt mức hay tài sản đảm bảo không đủ dẫn đến chất lượng tín dụng kém hiệu quả,
nợ xấu tăng cao
- Chính sách, quy trình cho vay và quy trình thẩm định chưa chặt chẽ, lựa chọn khách hàng vay không phù hợp hay tài sản đảm bảo đánh giá không đúng, phương án kinh doanh không phù hợp làm suy giảm vị thế vốn của ngân hàng, chi tiêu quá nhiều vào tài sản cố định của ngân hàng
- Quan tâm quá về lợi nhuận quyết định kinh doanh vào các lĩnh vực có rủi ro cao, đầu tư mạo hiểm
- Vấn đề đạo đức của một số nhân viên trong ngân hàng làm ảnh hưởng uy tín, niềm tin của người dân giảm ảnh hưởng đến hoạt động kinh doanh của ngân hàng
- Quy mô ngân hàng nhỏ, nguồn vốn chưa đủ để đáp ứng các nhu cầu phát triển, cạnh tranh với các ngân hàng mạnh trong nước, khả năng chống đỡ kém hay việc đa dạng hóa sản phẩm, các hoạt động trong kinh doanh chưa cao
Trang 222.1.4 Tác động của phá sản ngân hàng
2.1.4.1 Tích cực
- Bảo vệ quyền lợi hợp pháp của chủ nợ và con nợ: nếu cho phá sản ngân hàng
thì tự bản thân mỗi ngân hàng sẽ kiểm soát chặt chẽ về các quy trình cho vay, thẩm định, không có tâm lý ỷ lại là sẽ có ngân hàng Nhà Nước bao bọc khi xảy ra rủi ro bất ngờ từ đó các ngân hàng thương mại sẽ cẩn trọng hơn trong mọi hoạt động kinh doanh của mình
- Bảo vệ quyền lợi người lao động: vì khi cho phá sản ngân hàng người gửi
tiền sẽ tìm hiểu kỹ hơn về ngân hàng, họ sẽ lựa chọn đánh đổi giữ rủi ro và lợi nhuận, hạn chế xảy ra hiệu ứng dây chuyền là rút tiền ồ ạt khi nghi tin đồn không tốt về ngân hàng họ gửi tiền
- Chịu sự kiểm soát của Ngân hàng Nhà Nước hạn chế được sự cạnh tranh
không lành mạnh giữa các NHTM, Ngân hàng Nhà Nước sẽ kiểm soát rủi ro của các ngân hàng thương mại và xử lý triệt để hơn vì khi một phá sản có thể kéo theo
sự phá sản của ngân hàng khác nói riêng và ảnh hưởng toàn bộ hệ thống ngân hàng nói chung
- Tái cơ cấu nền kinh tế vì phá sản ngân hàng thì các ngân hàng yếu kém sẽ bị
đào thải, tạo sự cạnh tranh giữa các ngân hàng thương mại lành mạnh hơn
2.1.4.2 Tiêu cực
Đối với người gửi tiền:
- Ảnh hưởng trực tiếp đến người gửi tiền vì ngân hàng huy động vốn chủ yếu
từ dân chúng, ngân hàng phá sản nguy cơ khách hàng không lấy lại được vốn đủ, người dân mất lòng tin vào ngân hàng họ sẽ giữ tiền hoặc đầu tư kinh doanh sang lĩnh vực khác thay vì gửi tiết kiệm tại ngân hàng
- Theo như ở Việt Nam, quyết định số 21/2017 được thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc ký ngày 20/06/2017 và có hiệu lực từ ngày 05/08/2017 thì mức bảo hiểm tối
đa là 75 triệu đồng cho tất cả các khoản tiền gửi cá nhân tại một tổ chức tham gia bảo hiểm tiền gửi Tức là người gửi tiền chỉ nhận được 75 triệu khi ngân hàng phá sản trên tất cả lượng tiền gửi vào ngân hàng đó
Trang 23 Đối với chủ đầu tư
Khi ngân hàng phá sản nhà đầu tư không nhận được lãi và còn có nguy cơ mất vốn
Đối với nền kinh tế:
- Ngân hàng phá sản nghiêm trọng hơn một doanh nghiệp phá sản vì ngân hàng thường liên quan đến nhiều thành phần kinh tế Sự phá sản một ngân hàng sẽ dẫn đến sự phá sản hàng loạt các ngân hàng theo hiệu ứng “Domino” sẽ gây bất ổn cho nền kinh tế, hệ thống ngân hàng không đúng, các giao dịch trong nền kinh tế cũng giảm khi nhà đầu tư không thể vay vốn
- Ảnh hưởng đến hệ thống tài chính và nguy cơ dẫn đến khủng hoảng tài chính ngân hàng
- Đem lại nhiều hệ lụy cho nền kinh tế như thất nghiệp tăng cao, nền kinh tế bị trì trệ, nhà đầu tư mất vốn, niềm tin đối với ngân hàng bị sụp đổ dẫn đến sức ép về vấn đề việc làm ngày càng lớn, có thể nảy sinh các tệ nạn xã hội trong nền kinh tế
2.2 Các yếu tố rủi ro tài chính trong hoạt động kinh doanh của hệ thống
ngân hàng thương mại
2.2.1 Khái niệm rủi ro
Rủi ro là những biến cố không mong muốn, nếu xảy ra sẽ gây sự tổn thất về tài sản của ngân hàng, lợi nhuận thực tế giảm hơn so với dự kiến hoặc ngân hàng phải trích thêm một khoản chi phí nào đó để có thể thực hiện được một nghiệp vụ tài chính nhất định
Rủi ro như là sự khác biệt giữa giá trị thực tế nhận được và giá trị đã kỳ vọng
Vì vậy mỗi doanh nghiệp hay ngân hàng khi kinh doanh thì gặp rủi ro là điều không thể tránh, phải chấp nhận rủi ro và quản trị tốt rủi ro tạo nguồn thu nhập lớn hơn cho ngân hàng
Rủi ro tài chính là các rủi ro từ việc thực hiện các quyết định tài chính hay các nghiệp vụ liên quan đến tài chính làm giảm lợi nhuận kinh doanh của doanh nghiệp
đó hay còn gọi là sự giảm giá tài chính Đối với các tổ chức tài chính hoạt động
Trang 24kinh doanh trong lĩnh vực ngân hàng thì rủi ro này là rủi ro có sự biến động khôn lường ảnh hưởng đến giá trị tài sản và giá trị các khoản nợ của tổ chức tài chính
2.2.2 Một số loại rủi ro tài chính trong hoạt động kinh doanh của ngân hàng
thương mại
Có nhiều loại rủi ro tài chính như rủi ro tín dụng, rủi ro lãi suất, rủi ro thanh khoản, rủi ro thị trường, rủi ro tỷ giá Mỗi loại rủi ro tài chính có ảnh hưởng riêng đến từng ngành và biến động trong mỗi giai đoạn nền kinh tế khác nhau Các tổ chức tài chính như ngân hàng thì thường hay gặp các loại rủi ro tín dụng, rủi ro thanh khoản, rủi ro lãi suất và các loại rủi ro này có ảnh hưởng nghiêm trọng đến tình hình kinh doanh của ngân hàng, và thậm chí có nguy cơ gây phá sản ngân hàng
2.2.2.1 Rủi ro tín dụng
Thông tư 41/2016/TT-NHNN “Rủi ro tín dụng là rủi ro do khách hàng không thực hiện hoặc không có khả năng thực hiện một phần hoặc toàn bộ nghĩa vụ trả nợ theo hợp đồng hoặc thỏa thuận với ngân hàng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài.” Joetta Calquitt (2010) rủi ro tín dụng xảy ra khi người cho vay đối mặt với khoản lỗ từ người đi vay, đối tác hoặc người mắc nợ không thể hoặc không muốn thực hiện nghĩa vụ trả nợ
Sauders và lange (2002) rủi ro tín dụng là khoản lỗ tiềm tàng khi ngân hàng cấp tín dụng cho một khách hàng là cá nhân hay doanh nghiệp hay lợi nhuận dự tính mang lại từ các khoản vay của ngân hàng không thể thực hiện cả về số lượng và thời hạn
Như vậy có thể kết luận rằng: rủi ro tín dụng là rủi ro phát sinh trong quá trình cấp tín dụng của ngân hàng biểu hiện trên thực tế là khách hàng không thực hiện hoặc không có khả năng thực hiện nghĩa vụ trả nợ của mình như đã cam kết trong hợp đồng tín dụng
Rủi ro tín dụng được đo lường bằng các chỉ số:
- Tỷ lệ nợ xấu = 𝑵ợ 𝒙ấ𝒖
𝑻ổ𝒏𝒈 𝒅ư 𝒏ợ 𝒄𝒉𝒐 𝒗𝒂𝒚
Tỷ lệ nợ quá hạn, đặc biệt tỷ lệ nợ xấu là chỉ tiêu quan trọng phản ánh tình trạng rủi ro tín dụng của ngân hàng Tỷ lệ nợ xấu là nợ từ nhóm 3 đến nợ nhóm 5
Trang 25đây là nhóm nợ được xếp vào nhóm nợ có khả năng thu hồi vốn rất thấp do khách hàng đi vay làm ăn thua lỗ không có khả năng để hoàn trả lãi và gốc cho ngân hàng
Tỷ lệ này càng cao thì chứng tỏ chất lượng tín dụng của ngân hàng càng thấp và ngân hàng cũng đang lâm vào tình trạng khó khăn do thiếu hụt vốn, làm giảm lợi nhuận, tăng nguy cơ rủi ro thanh khoản và phá sản ngân hàng nếu ngân hàng không
có hướng khắc phục kịp thời
- Dự phòng rủi ro tín dụng (LLR)
LLR = 𝑫ự 𝒑𝒉ò𝒏𝒈 𝒓ủ𝒊 𝒓𝒐 𝒕í𝒏 𝒅ụ𝒏𝒈
𝑫ư 𝒏ợ 𝒄𝒉𝒐 𝒗𝒂𝒚 𝒄ủ𝒂 𝒏𝒈â𝒏 𝒉à𝒏𝒈 𝒊 𝒗à𝒐 𝒏ă𝒎 𝒕
Theo như định nghĩa thì khoản dự phòng rủi ro tín dụng này được dự trữ nhằm
đề phòng cho việc bù lỗ các khoản cho vay Về mặt lý thuyết khi LLR tại ngân hàng ngày càng cao thì chứng tỏ ngân hàng đang cho vay ngày càng nhiều đồng nghĩa với việc rủi ro cho ngân hàng cũng càng cao trong hoạt động cho vay Hoạt động tín dụng hầu hết là hoạt động đem lại lợi nhuận chính cho các ngân hàng thương mại mà rủi ro trong các khoản này càng cao thì nguy cơ nợ xấu của ngân hàng sẽ càng cao, dự phòng tăng cao, tổng tài sản và vốn chủ sở hữu giảm và nguy cơ phá sản của các ngân hàng cũng tăng lên
- LLP = 𝑪𝒉𝒊 𝒑𝒉í 𝒅ự 𝒑𝒉ò𝒏𝒈 𝒓ủ𝒊 𝒓𝒐 𝒕í𝒏 𝒅ụ𝒏𝒈
𝑻𝒉𝒖 𝒏𝒉ậ𝒑 𝒍ã𝒊 𝒕𝒉𝒖ầ𝒏
Hệ số này >100% thì chứng tỏ ngân hàng đang gặp rủi ro tín dụng vì khi cho vay thì ngân hàng phải trích khoản dự phòng rủi ro tín dụng mà khi hệ số này càng cao thì chi phí dự phòng chi ra cho các khoản cho vay này cũng cao hay lợi nhuận ngân hàng giảm đi Điều này tượng trưng cho sự quản lý tín dụng của ngân hàng không đầy đủ và chất lượng tín dụng tại ngân hàng còn thấp Trên thực tế, tỷ lệ chi phí dự phòng nợ xấu càng cao thì rủi ro đem lại cho ngân hàng càng cao, mà rủi ro cao thì lợi nhuận ngân hàng sẽ giảm, nguy cơ dẫn đến phá sản của ngân hàng càng cao
2.2.2.2 Rủi ro thanh khoản
Trenca (2002) thì rủi ro thanh khoản là rủi ro xảy ra khi bên đi vay không thể hoặc không muốn hoàn thành nghĩa vụ trả lãi và gốc đúng hạn, rủi ro mang tính tất
Trang 26yếu khi đáo hạn các khoản vay mà lãi và gốc chưa được thanh toán và cũng không
có khả năng tái tài trợ
Theo Ủy ban Basel định nghĩa về rủi ro thanh khoản: “ Rủi ro thanh khoản là rủi ro mà một định chế tài chính không đủ khả năng tìm kiếm đầy đủ nguồn vốn để đáp ứng các nghiệp vụ đến hạn mà không làm ảnh hưởng đến tình hình hoạt động kinh doanh hằng ngày và cũng không gây tác động đến tình hình tài chính của định chế tài chính đó.”
Nói tóm lại rủi ro thanh khoản là khả năng xảy ra những thiệt hại về lợi nhuận hoặc giá trị thị trường của ngân hàng do khách hàng vay vốn không có khả năng hoàn trả lãi và gốc dẫn đến tình trạng ngân hàng mất khả năng thanh toán trong phạm vi thời gian và chi phí hợp lý
Lợi nhuận và rủi ro có mối quan hệ tỷ lệ thuận với nhau Một doanh nghiệp hay định chế tài chính muốn đem lại lợi nhuận cao thì sẽ gặp rủi ro cao và ngược lại rủi ro thấp thì lợi nhuận sẽ thấp Nên ngân hàng muốn đem lại lợi nhuận cao thì ngân hàng sẽ cho vay nhiều mà vốn vay là nhu cầu về thanh khoản và nguồn vốn huy động là nguồn vốn đáp ứng nhu cầu thanh khoản từ đó thì ngân hàng sẽ có nguy cơ đối mặt với rủi ro thanh khoản cao
Đo lường rủi ro thanh khoản:
- Chỉ số CAR
Theo hiệp ước Basel thì CAR lớn hơn hoặc bằng 8% , nếu ngân hàng có chỉ số này thấp trong khoản thời gian dài thì chứng tỏ ngân hàng đang gặp rủi ro thanh khoản và ngược lại
- LDR = 𝑫ư 𝒏ợ 𝒄𝒉𝒐 𝒗𝒂𝒚
𝑽ố𝒏 𝒉𝒖𝒚 độ𝒏𝒈
Chỉ số này liên quan đến cơ cấu tài sản và nguồn vốn của các ngân hàng, phản ánh khả năng thanh khoản của ngân hàng hay khả năng huy động để đáp ứng nhu cầu vay vốn của khách hàng Chỉ số này càng lớn thì khả năng thanh khoản của ngân hàng thấp nhưng lợi nhuận ngân hàng thu được sẽ cao đồng thời rủi ro thanh khoản cũng tăng cao và ngược lại chỉ số này thấp thì rủi ro thanh khoản sẽ thấp nguồn huy động vốn đủ để đáp ứng hoạt động cho vay của ngân hàng
Trang 272.2.2.3 Rủi ro lãi suất
Trenca & Benyovski (2001) rủi ro lãi suất được hiểu là sự biến động của dòng tiền khi có sự thay đổi về lãi suất
Thông tư 41/2016/TT-NHNN “ Rủi ro lãi suất là rủi ro biến động bất lợi của lãi suất trên thị trường đối với giá trị của các giấy tờ có giá, các công cụ tài chính có lãi suất, sản phẩm phái sinh lãi suất trên số kinh doanh của ngân hàng, chi nhánh các ngân hàng nước ngoài.”
Có nhiều khái niệm về rủi ro lãi suất nhưng đều có chung nội dung là: rủi ro lãi suất của ngân hàng xảy ra khi lãi suất và các yếu tố liên quan đến lãi suất thay đổi do sự không ăn khớp nhau về kỳ hạn giữa tài sản và nguồn vốn Chính vì vậy khi lãi suất thay đổi có thể gây ra những tác hại nghiệm trọng với tài sản ròng của ngân hàng, ảnh hưởng đến lợi nhuận, hiệu quả kinh doanh của ngân hàng
Đo lường rủi ro lãi suất
- NIR = 𝑻𝒉𝒖 𝒏𝒉ậ𝒑 𝒍ã𝒊 𝒕𝒉𝒖ầ𝒏
𝑻ổ𝒏𝒈 𝒕à𝒊 𝒔ả𝒏 𝒃ì𝒏𝒉 𝒒𝒖â𝒏 𝒄ủ𝒂 𝒏𝒈â𝒏 𝒉à𝒏𝒈
Chỉ số này thể hiện khả năng tận dụng nguồn vốn giá rẻ hay sự chênh lệch lãi suất giữa lãi suất huy động và lãi suất cho vay nhằm đem lại lợi nhuận cho ngân hàng Tỷ lệ này tăng chứng tỏ thu nhập lãi thuần của ngân hàng tăng và nguy cơ dẫn dẫn đến phá sản của ngân hàng sẽ giảm xuống Trong nghiên cứu của Dương Nguyên Thanh (2013) đã đo lường rủi ro lãi suất của ngân hàng bằng chỉ số NIR
2.2.3 Một vài chỉ số đo lường rủi ro phá sản ngân hàng
2.2.3.1 Chỉ số Z-score của E.I.Altaman 1968
Nguy cơ phá sản ngân hàng là vấn đề luôn được các nhà nghiên cứu tài chính quan tâm và các nhà nghiên cứ muốn tìm ra công cụ nhằm dự báo nguy cơ phá sản của các ngân hàng thương mại Năm 1968 của E.I.Altman, tác giả đã nghiên cứu phân tích đa biến để phát triển một mô hình dựa trên 5 yếu tố để dự báo nguy cơ phá sản của các công ty sản xuất tại Mỹ
Lúc đầu giáo sư sử dụng đến 22 chỉ tiêu tài chính khác nhau để tính z-score, nhưng sau đó ông đã phát triển và gom lại còn 5 biến X1, X2, X3, X4, X5 gồm: X1: Tỷ số vốn lưu động trên tổng tài sản( Working Capitals/ Total Assets)
Trang 28X2: Tỷ số lợi nhuận giữ lại trên tổng tài sản ( Retain Earnings/ Total Assets) X3: Tỷ số lợi nhuận trước lãi vay và thuế trên tổng tài sản ( EBIT/Total Assets)
X4: Giá trị thị trường của vosn chủ ở hữu trên giá trị sổ sách của tổng nợ ( Market Value of total Equity/Book values of total Liabilities)
X5: Tỷ số doanh số trên tổng tài sản ( Sales/Total Assets)
Một công ty dự đoán sẽ phá sản nếu công ty đó rơi vào phạm vi” Điểm số Z” ( Z-score) và độ chính xác là 95% đối với thời gian dự báo trong vòng một năm
Z < 1.81 tương đương với rủi ro cao
1.81 < Z < 2.99 tương đương với rủi ro trung bình
Z > 2.99 tương đương với rủi ro thấp
Từ những năm 1970 thì Altman nghiên cứu chuyên sâu hơn về các lĩnh vực như ngân hàng, du lịch, công nghệ thông tin…
2.2.3.2 Chỉ số Z-score theo Roy
Công thức đầu tiên được đề xuất bởi Roy (1952) để đo lường chỉ số score là
Z-Z-score =
π
A + KAσπ/A Trong đó: π là lợi nhuận ròng
K: Tổng vốn chủ sở hữu
A: Tổng tài sản
σ : Độ lệch chuẩn của lợi nhuận trên tổng tài sản
Từ nghiên cứu này và nghiên cứu của Boyd & Runkle (1993) đo lường rủi ro khánh kiệt nhiều nhà nghiên cứu đã dựa trên đề xuất trên mà nghiên cứu bổ sung công thức tính Z-score và được sử dụng rộng rãi như sau:
Z-score = ROA +
𝑉ố𝑛 𝐶𝑆𝐻 𝑏ì𝑛ℎ 𝑞𝑢â𝑛 𝑇ổ𝑛𝑔 𝑡à𝑖 𝑠ả𝑛 𝑏ì𝑛ℎ 𝑞𝑢â𝑛
Độ lệch chuẩn của ROA
Chỉ số Z-score này được sử dụng rộng rãi trong việc đánh giá rủi ro phá sản của các tổ chức tài chính ngân hàng Chỉ số này càng thấp thì rủi ro dẫn đến nguy cơ phá sản của ngân hàng càng cao và ngược lại
Trang 292.3 Ảnh hưởng của rủi ro tài chính đến khả năng phá sản của ngân hàng 2.3.1 Ảnh hưởng của rủi ro tín dụng
Đối với ngân hàng:
- Giảm chất lượng tín dụng, uy tín của ngân hàng: hoạt động đánh giá, xếp
hạng tín nhiệm sẽ giảm trong hệ thống ngân hàng từ đó làm uy tín của ngân hàng giảm, nguy cơ vỡ nợ tăng do ngân hàng không thu hồi được các khoản nợ từ khách hàng, ngân hàng sẽ khó tiếp cận, thu hút các nguồn vốn rẻ tiền và đối tác đầu tư vào ngân hàng
- Giảm khả năng thanh toán, cạnh tranh của ngân hàng: khi ngân hàng
gặp rủi ro tín dụng thì tỷ lệ nợ quá hạn hay nợ xấu của ngân hàng tăng cao dẫn đến nguồn vốn của ngân hàng giảm, ngân hàng không đủ vốn để đáp ứng cho hoạt động cho vay của ngân hàng Để khắc phục nhanh tình trạng này thì ngân hàng sẽ phải đi vay trên thị trường liên ngân hàng với lãi suất cao vì thu hút vốn từ dân cư mất nhiều thời gian hơn, như vậy ngân hàng sẽ trả lãi cao nếu không giải quyết được ngân hàng sẽ có nguy cơ dẫn đến phá sản
- Lợi nhuận ngân hàng giảm: mỗi ngân hàng đều có trích lập dự phòng rủi ro
cho vay tương ứng với dự nợ cho vay của ngân hàng nên nếu các khoản nợ xấu cao, rủi ro tài sản đảm bảo cũng tăng cao dẫn đến dự phòng tăng cao Chi phí dự phòng rủi ro tín dụng tăng cao chứng tỏ ngân hàng phải bỏ ra nhiều vốn để trích lập dự phòng mà không phục vụ cho hoạt động kinh doanh từ đó sẽ giảm lợi nhuận của ngân hàng
Đối với nền kinh tế:
- Rủi ro tín dụng tăng thì rủi ro thanh khoản cũng tăng, ngân hàng không đủ vốn để tài trợ nghiệp vụ cho vay của ngân hàng, ngân hàng sẽ không thực hiện đúng được chức năng của mình Mà nghiệp vụ cho vay không thực hiện được thì các cá nhân hay doanh nghiệp kinh doanh sẽ thiếu vốn dẫn đến tình trạng hoạt động kinh doanh sẽ gặp khó khăn
- Một ngân hàng gặp khó khăn thì có thể sẽ ảnh hưởng liên ngân hàng, niềm tin vào sự vững chắc và lành mạnh của hệ thống tài chính ngân hàng giảm, người
Trang 30dân sẽ rút vốn, họ sẽ giữ tiền hoặc chuyển sang lĩnh vực kinh doanh khác thay vì gửi tiết kiệm tại ngân hàng ảnh hưởng toàn bộ hệ thống ngân hàng
- Rủi ro tín dụng sẽ có nguy cơ dẫn đến nguy cơ phá sản ngân hàng từ đó việc kinh doanh của cá nhân, doanh nghiệp bị đình trệ ảnh hưởng đến nền kinh tế như tỷ
lệ thất nghiệp tăng làm mất cân bằng trong xã hội
2.3.2 Ảnh hưởng của rủi ro thanh khoản
Đối với ngân hàng:
- Khi rủi ro thanh khoản xảy ra thì ngân hàng phải chuyển hóa các tài sản có tính thanh khoản cao thành tiền mặt hay đi vay để giải quyết các tình huống phát sinh kịp thời Muốn chuyển đổi nhanh tương ứng với chi phí chuyển đổi ngân hàng chịu phải cao từ đó làm giảm lợi nhuận của ngân hàng
- Nếu có thanh khoản ngân hàng có thể đáp ứng các nhu cầu vay mới của khách hàng khi không cần thu hồi những khoản vay cũ trong hạn hoặc thanh lý các khoản đầu tư có kỳ hạn
- Ảnh hưởng đến lòng tin của khách hàng, trên thực tế cho thấy rủi ro thanh khoản là nguyên nhân trực tiếp dẫn đến nguy cơ phá sản ngân hàng
Đối với nền kinh tế:
- Giảm uy tín của ngân hàng và đặc biệt thông tin bị rò rỉ ra bên ngoài, rủi ro thanh khoản sẽ xuất hiện nhanh chóng do người dân sẽ lo sợ đến rút tiền ồ ạt nhằm bảo toàn nguồn vốn
- Ngân hàng muốn bù đắp thanh khoản thì phải nâng mức lãi suất huy động nhằm thu hút nguồn vốn hay ngân hàng sẽ phải thu hồi, hạn chế bớt các khoản vay mới, bán tài sản để chuyển thành tiền mặt Như vậy sẽ dẫn đến tình trạng cạnh tranh không lành mạnh giữa các ngân hàng và chi phí ngân hàng cũng tăng cao
- Do có sự vay mượn lẫn nhau trên thị liên ngân hàng nên có thể sẽ gây đổ vỡ trong hệ thống ngân hàng do hiệu ứng lan truyền, ảnh hưởng đến nền kinh tế
2.3.3 Ảnh hưởng của rủi ro lãi suất
- Khi lạm phát tăng sẽ xảy ra rủi ro lãi suất tức là lãi suất thị trường tăng lên,
từ đó chi phí nguồn vốn cũng tăng, thu nhập của ngân hàng giảm đi đồng thời cũng
Trang 31làm giá trị thị trường của tài sản có và vốn chủ sở hữu của ngân hàng giảm Ngân hàng giảm thu nhập lãi thuần vì ngân hàng áp dụng nhiều mức lãi suất khác nhau trong hoạt động cho vay và huy động vốn của ngân hàng, khi lãi suất thị trường biến đổi ngân hàng phải điều chỉnh theo lãi suất thị trường còn những nghiệp vụ chưa đến kỳ đáo hạn thì vẫn giữ lãi suất cũ dẫn đến sự chênh lệch ảnh hưởng trực tiếp đến ngân hàng
- Ngân hàng có thể bị lỗ nhiều thậm chí dẫn đến tình trạng phá sản sẽ ảnh hưởng xấu đến toàn bộ nền kinh tế một quốc gia
- Giảm uy tín, sự tín nhiệm của khách hàng đối với ngân hàng hay làm giảm giá trị thương hiệu của ngân hàng
2.4 Mối quan hệ giữa rủi ro tài chính và rủi ro phá sản của ngân hàng thương mại
Rủi ro là sự xuất hiện tiềm năng của một sự kiện hay nhiều sự kiện mà có thể dẫn đến thua lỗ của các ngân hàng Theo thống kê, biến động rủi ro có thể đề cập đến như doanh thu, lợi nhuận, chi phí, vv Theo Bessis (1998): "Rủi ro là những tác động xấu đến lợi nhuận từ nhiều nguồn khác nhau của sự không chắc chắn" Sự không chắc chắn trong việc kinh doanh ngân hàng, nơi mà hoạt động kinh doanh tiếp xúc với quản lý rủi ro kinh doanh liên quan chặt chẽ đến hoạt động kinh doanh của trung gian tài chính Tất cả những rủi ro này sẽ tác động tiêu cực của tài chính doanh nghiệp và trở thành một trong những nhiệm vụ và trách nhiệm của các nhà quản lý tài chính để giải thích làm thế nào để quản lý tốt rủi ro (Griffin và Ebert, 2000) Quản lý rủi ro yếu kém là một yếu tố quan trọng có thể làm trầm trọng thêm tình trạng của các ngân hàng Một số chuyên gia kinh tế phân loại rủi ro dựa trên các hoạt động được thực hiện như: rủi ro thị trường, rủi ro môi trường kinh tế (Flannery và Guttentag, 1979; Guttentag và Herring, 1988) và rủi ro hoạt động (Mullin, 1977; Graham và Horner, 1988) Các loại rủi ro mà có tác động tiêu cực như rủi ro lãi suất và rủi ro quản trị (Stanton, 1994) Gardener (1986) khẳng định rằng rủi ro của ngân hàng bao gồm: rủi ro tổng thể, rủi ro quốc tế và rủi ro khả năng thanh khoản Rủi ro tài chính là những rủi ro cơ bản phải đối mặt với tất cả các ngân
Trang 32hàng, bao gồm: rủi ro thanh khoản, rủi ro lãi suất và rủi ro tín dụng Votja (1973) tuyên bố rằng các rủi ro có thể được phân loại dựa trên các hoạt động của ngân hàng, bao gồm: rủi ro tín dụng, rủi ro đầu tư, rủi ro thanh khoản, rủi ro hoạt động, rủi ro gian lận và rủi ro tài chính
Rủi ro tài chính được biểu thị dưới dạng tỷ lệ tài chính Tỷ lệ tài chính là đại diện cho chất lượng quản lý rủi ro tài chính Tỷ lệ tài chính rất hữu ích, bởi vì nó có công dụng: (i) như là một dự báo rủi ro phá sản, thất bại hay thành công của một công ty (Altman, 1968; Altman và Lorris, 1976; Sinkey, 1975/1980; Ohlson, 1980; Zain, năm 1994; Avianti, 2000; Aryati và Manao, 2002; Setyorini và Halim, 2002; Hadad, et al, 2003/2004), (ii) là một chỉ báo xác định và cho vay dài hạn (Horrigan, 1966) (iii) như một công cụ dự đoán tăng trưởng thu nhập trong tương lai và dòng tiền mặt của doanh nghiệp (Ou, 1992; Penman, 1992; Parawiyati và Baridwan, 1998; Zainuddin và Hartono, 1998), (iv) là một công cụ tiên đoán lợi suất của cổ phiếu (O'Connor, 1973; Machfoedz, 1994) Từ những phát hiện của nghiên cứu thực nghiệm phát hiện ở nhiều nước khác nhau trên khắp thế giới cho thấy rằng các yếu tố rủi ro tài chính là một nguyên nhân của ngân hàng phá sản Do đó, sự thành công của ngân hàng (duy trì kinh doanh liên tục) hoặc một sự thất bại ngân hàng (không để duy trì liên tục đã kết thúc với phá sản), chủ yếu được xác định bởi sự thành công của việc quản lý rủi ro ngân hàng
2.5 Lược khảo các nghiên cứu trước đây về việc tác động của các rủi ro tài
chính đến nguy cơ phá sản của ngân hàng
2.5.1 Nghiên cứu quốc tế
Halling (2007) sử dụng mô hình Logit với mẫu là 1100 ngân hàng ở Úc từ
1995-2002 để nghiên cứu về tình trạng rủi ro của ngân hàng để ước tính thời gian dẫn đến nguy cơ phá sản của ngân hàng Kết quả nghiên cứu của Halling ngược lại với nghiên cứu của Whalen tức là tỉ lệ lợi nhuận từ hoạt động kinh doanh của ngân hàng trên tổng tài sản đồng biến với rủi ro của ngân hàng hay tỷ lệ dự phòng nợ xấu
tỷ lệ nghịch với rủi ro của ngân hàng Do đó, một ngân hàng đang trong điều kiện tài chính tốt có thể gia tăng trích lập dự phòng nợ xấu để ngăn ngừa rủi ro Nghiên
Trang 33cứu này sử dụng mô hình hồi quy đa biến với Z-score là biến phụ thuộc nghiên cứu một mô hình dự báo phá sản cho các ngân hàng Mỹ để dự báo khả năng phá sản của ngân hàng trong từng năm Ông lấy số liệu báo cáo tài chính quý của 225 ngân hàng phá sản và 885 ngân hàng còn hoạt động từ 1/1/2007 đến 23/4/2010 Kết quả chỉ ra rằng tỷ lệ đòn bẩy đo bằng tỷ lệ vốn cấp 1 trên tổng tài sản lại có quan hệ nghịch biến với rủi ro hay tỷ lệ đòn bẩy càng cao thì rủi ro phá sản của ngân hàng càng giảm Tỷ lệ thu nhập ngoài lãi trên thu nhập từ lãi quan hệ đồng biến với rủi ro của ngân hàng có nghĩa là việc đa dạng hóa thu nhập mà giảm thu nhập từ lãi có thể tăng nguy cơ phá sản ngân hàng Ngoài ra với việc sử dụng z-score là biến phụ thuộc, tác giả còn chỉ ra rằng nếu các nhà đầu tư, người cho vay và nhà quản lý nhìn vào z-score họ có thể xác định được các ngân hàng có nguy cơ phá sản cao
Chiamonte (2014), một nghiên cứu với dữ liệu bảng của các ngân hàng
Châu Âu giai đoạn 2001-2011, tác giả sử dụng z-score là một biến phụ thuộc để đại diện cho sự ổn định của các ngân hàng ở Châu Âu bằng cách sử dụng cả 2 phương pháp Probit và Log-Log Trong nghiên cứu này tác giả đã so sánh việc áp dụng chỉ
số z-score với các biến CAMELS để chứng minh cho sựu tác động lên các dự báo phá sản Giai đoạn khủng hoảng toàn cầu từ 2008-2011 cũng là thời gian mà chỉ số z-score trong bài nghiên cứu được xác nhận là sử dụng phù hợp hơn trong dự đoán phá sản ngân hàng Hơn thế nữa, bài nghiên cứu cũng phát hiện ra chỉ số z-score trong nghiên cứu về hiệu suất của ngân hàng thương mại sẽ hiệu quả hơn
Chiaramonte, Croci và Poli (2015), bài nghiên cứu với biến phụ thuộc là
Z-Score và biến độc lập liên quan đến tỉ lệ an toàn vốn tối thiểu, chất lượng tài sản, khả năng quản trị, thu nhập và tính thanh khoản của các tổ chức tài chính tín dụng Nghiên cứu thực nghiệm dựa trên mẫu của 142 tổ chức tài chính với phương pháp hồi quy đa biến nhằm dự báo sớm các rủi ro tài chính ảnh hưởng đến khả năng phá sản của ngân hàng Thông qua các dữ liệu hằng tháng về rủi ro tín dụng của các tổ chức tài chính từ năm 2006-2014 với dữ liệu bảng gồm 12.136 biến quan sát Bài nghiên cứu của tác giả như dự đoán trước sự ổn định của hệ thống ngân hàng hay
dự đoán sớm sự khủng hoảng tài chính của hệ thống ngân hàng ở Brazil
Trang 342.5.2 Nghiên cứu trong nước
Nguyễn Thanh Dương (2013) bài nghiên cứu đã sử dụng phương pháp
định lượng với biến phụ thuộc là Z-Score Ông đã xác định sự tác động của các chỉ tiêu cụ thể đối với rủi ro ngân hàng Mẫu nghiên cứu gồm 36 ngân hàng của nước ta
từ năm 2006-2011 Đa số các bài nghiên cứu sử dụng các chỉ tiêu là Nim (Thu nhập lãi ròng/Tổng thu nhập tài sản) Ở đây tác giả chọn Tổng tài sản trung bình để tạo ra biến số NIR để cải thiện các phương pháp nghiên cứu trước , kết quả bài nghiên cứu cho thấy LLP tỉ lệ chi phí dự phòng rủi ro tín dụng trên thu nhập lãi thuần, NIR tỉ lệ thu nhập lãi thuần trên tổng tài sản bình quân đồng biến với rủi ro ngân hàng còn các biến LEV tỉ lệ vốn chủ sở hữu trên tổng huy động và LDR tỉ lệ cho vay trên huy động ngắn hạn nghịch biến với rủi ro ngân hàng Ngoài ra nghiên cứu còn đưa ra việc phát triển vốn chủ sở hửu được đề xuất cũng là điều kiện tiên quyết có thể giúp ngân hàng khỏi rủi ro phá sản, bên cạnh nâng cao chỉnh sửa, góp ý về các chính sách khác nhằm cải thiện quản trị rủi ro trong toàn hệ thống ngân hàng Việt Nam
Trầm Thị Xuân Hương và cộng sự (2015), bài nghiên cứu các tác giả đã sử
dụng nhiều phương pháp hồi quy như phương pháp Pooled OLS, FEM, REM, RGLS để làm sáng tỏ tác động của các loại rủi ro tài chính như rủi ro thanh khoản, rủi ro tín dụng, rủi ro lãi suất đến hiệu quả hoạt động của các ngân hàng ở Việt Nam đến năm 2020 Trong bài tác giả đã đề cập đến quản trị của các tổ chức tài chính chủ yếu là các NHTM ở Việt Nam theo tiêu chuẩn Basel II và Basel III cụ thể mẫu
là 30 ngân hàng tại Việt Nam trong giai đoạn 2011-2013 Thông qua việc sử dụng kết hợp các yếu tố liên quan đến rủi ro thì bài nghiên cứu đã đưa ra kết quả là biến LLR, LAD, LEV đồng biến và các biến LLP, LTD, NIR, CTI nghịch biến với biến phụ thuộc Z-score hay cụ thể hơn bài nghiên cứu đã cho thấy những rủi ro tài chính
đã ảnh hưởng như thế nào đến hiệu quả hoạt động, rủi ro phá sản của ngân hàng như thế nào Qua đó, các tác giả đề ra các khuyến nghị về việc phát triển hệ thống ngân hàng ở Việt Nam đến năm 2020 để phù hợp với tiêu chuẩn Basel II và Basel III và
có thể hội nhập thế giới
Điểm kế thừa của các nghiên cứu trên:
Trang 35Các bài nghiên cứu của các nước giúp tác giả xác định được ưu điểm và nhược điểm của từng bài làm để có cơ sở trong việc lựa chọn và sử dụng các phương pháp nghiên cứu trong bài của tác giả đảm bảo tính khả thi nhất của bài nghiên cứu
Đồng thời dựa trên kết quả của các nghiên cứu trước đã giúp tác giả thấy được phần nào tầm nghiêm trọng của các yếu tố rủi ro tài chính và tác giả cũng có
cơ sở nhận định được mức động hay chiều hướng tác động của các yếu tố rủi ro tài chính ảnh hưởng đến việc hoạt động kinh doanh hay nguy cơ phá sản ngân hàng thương mại Từ đó tác giả có thể kiểm định mô hình và lựa chọn để xây dựng mô hình hồi quy riêng cho bài nghiên cứu của mình một cách phù hợp nhất nhằm xác định được mức độ tác động của các yếu tố rủi ro tài chính tác động đến nguy cơ phá sản của các ngân hàng thương mại ở Việt Nam ta
Kết luận chương 2:
Trong chương hai đã trình bày khái quát chung về nền tảng lý thuyết về nguy
cơ phá sản và các loại rủi ro tài chính trong NHTM Các chỉ số dùng để đo lường rủi ro tài chính, nguyên nhân và ảnh hưởng của các rủi ro tài chính đến nguy cơ phá sản ngân hàng thương mại
Bên cạnh đó trong chương này còn đề cập đến các nghiên cứu thực nghiệm trước đây trên thế giới và của Việt Nam, xác định được ưu và nhược điểm của từng bài để dựa vào đó tiên đoán trước chiều tác động của các yếu tố rủi ro tài chính đến nguy cơ phá sản ngân hàng và đồng thời hỗ trợ cho việc xây dựng mô hình nghiên cứu riêng của tác giả
Trang 36CHƯƠNG 3: THỰC TRẠNG TÁC ĐỘNG CÁC YẾU TỐ RỦI RO TÀI CHÍNH ĐẾN NGUY CƠ PHÁ SẢN NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI VIỆT
NAM 3.1 Tổng quan hệ thống NHTM Việt Nam giai đoạn 2009 đến 2017
Ngân hàng thương mại ra đời từ rất lâu nhưng các nhà kinh tế học vẫn chưa thể định nghĩa vì mỗi quốc gia có sự khác biệt nhau về pháp luật, các nghiệp vụ, chức năng của ngân hàng hay bối cảnh kinh tế, xã hội khác nhau Ở Việt Nam ta, ngân hàng đầu tiên ra đời được đặt tên là “Ngân hàng quốc gia Việt Nam” ra đời năm 1951 Ban đầu ngân hàng Nhà nước ta có chức năng như một ngân hàng một cấp vừa quản lý tiền tệ vừa thực hiện chức năng của NHTM Về sau vào tháng 05/1990 nước ta đã ban hành 2 sắc lệnh “ Sắc lệnh về ngân hàng Nhà Nước Việt Nam” và “ Sắc lệnh về ngân hàng, hợp tác xã tín dụng và các công ty tài chính” thì ngân hàng nhà nước ta phân thành 2 cấp Cấp 1 là ngân hàng Nhà Nước thực hiện chức năng quản lý tiền tệ và cấp 2 là ngân hàng thương mại thực hiện chức năng kinh doanh kinh doanh tiền tệ Hệ thống ngân hàng nước ta hiện nay có vai trò đặc biệt quan trọng trong nền kinh tế xã hội thực hiện chức năng riêng là lưu thông tiền
tệ, đảm bảo cân đối nguồn tiền từ nơi thừa sang nơi thiếu, giúp nền kinh tế nước ta ngày càng hiện đại và phát triển
3.1.1 Tốc độ tăng trưởng về tổng tài sản và vốn chủ sở hữu các nhóm NHTM tại Việt Nam giai đoạn từ năm 2009 đến 2017
3.1.1.1 Tăng trưởng về tổng tài sản các nhóm NHTM
Tổng tài sản của các ngân hàng thương mại hầu hết tăng đều qua từng năm từ năm 2009 đến năm 2017 Đứng đầu trong các ngân hàng thương mại nước ta hiện nay về tổng tài sản là ngân hàng BIDV năm 2017 là 1.202.284 tỷ đồng tiếp theo là Agribank năm 2017 lên đến 1.152.904 tỷ đồng,Vietinbank là 1.095.061 tỷ đồng và Vietcombank 1.035.293 tỷ đồng Các ngân hàng đều có mức tổng tài sản trên 1triệu
tỷ đồng, đây là những con số kỷ lục cao nhất từ trước đến nay trong hệ thống ngân hàng Việt Nam Trong nhóm 2 đứng đầu về tổng tài sản là ngân hàng ACB năm
2009 là 167.724 tỷ đồng nhưng đến năm 2017 thì ngân hàng SCB lại vượt qua ACB
Trang 37và đạt 444.032 tỷ đồng Như ta thấy thì khoảng cách tổng tài sản giữa nhóm 1 thuộc
sở hữu Nhà Nước và nhóm ngân hàng cổ phần tư nhân có sự chênh lệch rõ rệt, nhóm 1 chiếm trên 50% trong tổng bốn nhóm ngân hàng nghiên cứu
Về tốc độ tăng trưởng tổng tài sản thì nhóm 1 và nhóm 4 có tốc độ tăng trưởng đều qua từng năm tuy nhiên nhóm 4 tốc độ tăng trưởng ít, nhóm 2 và nhóm 3 có tốc
độ tăng trưởng về tổng tài sản bình quân cũng tăng theo từng năm tuy nhiên nhóm 2
có tốc độ tăng trưởng tổng tài sản năm 2012 giảm 4,08% so với năm 2011 và nhóm
3 năm 2012 cũng giảm 11,55% so với năm 2011 Tổng tài sản của một số ngân hàng giảm có thể là do lượng tiền gửi vào ngân hàng giảm hay ngân hàng sử dụng lượng tiền mặt sử dụng cho thanh toán nhiều Nhìn chung thì tốc độ tăng trưởng các nhóm tăng đều qua từng năm mà tổng tài sản tăng chủ yếu là do hoạt động tín dụng của ngân hàng tăng cho thấy hệ thống ngân hàng thương mại nước ta đang hoạt động ổn định
Biểu đồ 3 1: Tổng tài sản của từng nhóm NHTM ĐVT: Tỷ đồng
Nguồn: Tổng hợp số liệu BCTC các NHTM
3.1.1.2 Tốc độ tăng về tổng quy mô vốn chủ sở hữu các nhóm NHTM
Về quy mô vốn chủ sở hữu thì nhìn chung vốn chủ sở hữu các nhóm ngân hàng đều tăng đều qua từng năm Vốn chủ sở hữu là cở sở và cũng là điều kiện để
Tỷ đồng
Năm
Tổng tài sản từng nhóm NHTM
Trang 38một NHTM xác định quy mô hoạt động và chiến lược kinh danh của mình Nhìn vào biểu đồ 3.2, ta thấy VCSH của các nhóm ngân hàng chênh lệch nhau khá nhiều, nhóm 1 chỉ có 4 ngân hàng nhưng tổng vốn chủ sở hữu lại chiếm trung bình từ 45% đến 50% , riêng năm 2014 tổng VCSH nhóm 1 chiếm đến 52,1% trong tổng 24 ngân hàng khảo sát trên Nhóm 2 chiếm từ 30-35%, tổng nhóm 3 và nhóm 4 tổng VCSH chỉ chiếm khoảng 20% Năm 2019, ngân hàng Agribank có tổng VSCH cao nhất trong 24 ngân hàng 19.860 tỷ đồng nhưng đến năm 2017 thì ngân hàng Vietinbank lại có quy mô VCSH cao nhất lên đến 63.765 tỷ đồng và cũng là ngân hàng có tốc độ tăng trưởng VCSH nhanh nhất từ năm 2009 đến năm 2017 Nhóm 2,
vị trí đứng đầu thuộc về ngân hàng MB và VP khoảng 29 nghìn tỷ đồng và nhóm 3 đứng đầu là ngân hàng HD 14.759 tỷ đồng Nhóm 4 tuy có tăng nhưng nhìn chung thì không đáng kể năm 2012 tổng VCSH nhóm 4 còn giảm 6,74% so với năm 2011 Các ngân hàng có VCSH tăng đáng kể hầu hết là do việc sáp nhập các ngân hàng yếu kém vào điều này giúp cho hệ thống ngân hàng nước ta hoạt động kinh doanh hiệu quả và lành mạnh hơn
Biểu đồ 3 2: Tổng vốn chủ sở hữu của từng nhóm NHTM
Tổng vốn chủ sỏ hữu từng nhóm NHTM
Tỷ đồng
Năm
Trang 393.1.2 Hoạt động huy động vốn và cho vay các nhóm NHTM tại Việt Nam giai đoạn từ năm 2009 đến 2017
3.1.2.1 Tăng trưởng huy động vốn bình quân
Biểu đồ 3 3 Tốc độ tăng trưởng huy động vốn trung bình ngành ngân hàng và
Theo như trên biểu đồ 3.3 ta thấy tốc độ tăng trưởng huy động vốn năm 2010 rất cao trung bình ngành là 36,2%, 4 nhóm ngân hàng còn lại tốc độ tăng trưởng trung bình đều trên 20% đặc biệt nhóm 4 lên đến 46,67%
Năm 2011, trước tình hình lạm phát cao, lãi suất huy động cũng tăng quá cao nên 03/03/2011 NHNN đã ban hành thông tư 02/2011-TT-NHNN, quy định mức lãi suất huy động tối đa bằng VNĐ không vượt quá 14% nhằm hạn chế và kiểm soát lại
Tốc độ tăng trưởng huy động vốn trung bình ngành và
Trang 40những bất ổn trong hệ thống ngân hàng Chính vì vậy tốc độ tăng trưởng huy động trong năm này giảm, trung bình ngành chỉ còn 12,4% và trung bình các nhóm đều giảm ( nhóm 1: 10,65%, nhóm 2: 18,9%, nhóm 3: 16,94% và nhóm 4 : 36,39%) Tiếp tục lãi suất huy động bằng VNĐ giảm mạnh vào năm 2012, sau 5 lần điều chỉnh của NHNN thì lãi suất huy động chỉ còn 8% vào cuối năm Điều này cũng đã làm cho tốc độ tăng trưởng huy động vốn trung bình của các nhóm NHTM cũng giảm mạnh nhóm 1 và nhóm 2 chỉ khoảng trên 10%, nhóm 3 và 4 dưới 5%, nhóm 3 chỉ tăng 1,13% so với năm 2011
Giai đoạn từ năm 2013 đến 2015, NHNN đã thực hiện chính sách duy trì giảm nhẹ lãi suất huy động nhưng sang năm 2016 và năm 2017 thì có sự tăng nhẹ tùy vào
kỳ hạn gửi tiết kiệm của khách hàng, tăng từ 0,5-1% đối với kỳ hạn 12 tháng trở lên Tốc độ tăng trưởng huy động vốn bình quân của các nhóm ngân hàng và trung bình ngành tương đối ổn định và dao động trong khoảng từ 15-25%
Nhìn chung so với tốc độ tăng trưởng huy động trung bình ngành giai đoạn từ 2009-2017 thì tốc độ tăng trưởng huy động trùng bình nhóm 1 và nhóm 2 tương đối
ổn định còn nhóm 3 và 4 thì biến động thất thường nền nhóm 3 và 4 sẽ dễ gặp rủi ro thanh khoản khi nguồn tiền huy động không đủ để đáp ứng hoạt động cho vay của ngân hàng hay khó ứng phó được với các tình huống bất ngờ
3.1.2.2 Tốc độ tăng trưởng cho vay
Cũng tương tự như tốc độ tăng trưởng huy động vốn thì nhìn vào biểu đồ 3.4
ta thấy tốc độ tăng trưởng cho vay năm 2009 và năm 2010 cũng tăng cao, năm 2010 các nhóm có tốc độ tăng trưởng cho vay bình quân như sau: nhóm 1: 24,78%, nhóm 2: 40,67%, nhóm 3: 56,37% và nhóm 4: 39,67%
Tuy nhiên vào năm 2011 thì xu hướng này thay đổi hoàn toàn, tốc độ tăng trưởng cho vay bình quân của các nhóm đều thấp đặc biệt nhóm 4 tăng trưởng ở mức âm 7,47% Lãi suất cho vay thực tế bình quân khoảng 18,74%/năm, trong lĩnh vực phi sản xuất lên đến 22-25% Đồng thời cũng do ảnh hưởng cuộc khủng hoảng kinh tế toàn cầu nên trong điều kiện nền kinh tế đang khó khăn, các doanh nghiệp