1. Trang chủ
  2. » Tất cả

Luận văn thạc sĩ các yếu tố ảnh hưởng đến sự tham gia của người dân vào việc xây dựng đời sống văn hóa ở khu dân cư trên địa bàn quận 3, tp hồ chí minh

88 2 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Các yếu tố ảnh hưởng đến sự tham gia của người dân vào việc xây dựng đời sống văn hóa ở khu dân cư trên địa bàn quận 3, TP. Hồ Chí Minh
Tác giả Vũ Thị Mỹ Ngọc
Người hướng dẫn TS. Đinh Công Khải
Trường học Trường Đại Học Kinh Tế TP. Hồ Chí Minh
Chuyên ngành Quản lý công (Hệ điều hành cao cấp)
Thể loại Luận văn thạc sĩ
Năm xuất bản 2019
Thành phố Thành phố Hồ Chí Minh
Định dạng
Số trang 88
Dung lượng 3,44 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Cấu trúc

  • CHƯƠNG 1: GIỚI THIỆU NGHIÊN CỨU (14)
    • 1.1. Tính cấp thiết của đề tài (14)
    • 1.2. Mục tiêu nghiên cứu (16)
      • 1.2.1. Mục tiêu chung (16)
      • 1.2.2. Mục tiêu cụ thể (16)
    • 1.3. Câu hỏi nghiên cứu (16)
    • 1.4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu (17)
      • 1.4.1. Đối tượng nghiên cứu (0)
      • 1.4.2. Phạm vi nghiên cứu (17)
    • 1.5. Phương pháp nghiên cứu (17)
    • 1.6. Bố cục của đề tài (17)
    • 2.1. Các khái niệm liên quan đến văn hóa và đô thị (19)
      • 2.1.1. Khái niệm về văn hóa (19)
      • 2.1.2. Khái niệm về khu phố văn hóa (0)
      • 2.1.3. Khái niệm văn hóa đô thị (21)
      • 2.1.4. Khái niệm môi trường văn hóa đô thị (21)
    • 2.2. Tổng quan cơ sở lý thuyết về sự tham gia (21)
      • 2.2.1. Khái niệm về sự tham gia của người dân (22)
      • 2.2.2. Đo lường sự tham gia của người dân (23)
      • 2.2.3. Vai trò tham gia của người dân vào xây dựng khu phố văn hóa (26)
    • 2.3. Xây dựng khung phân tích sự tham gia của người dân (0)
      • 2.3.1. Các yếu tố ảnh hưởng sự tham gia của người dân (28)
      • 2.3.2. Khung phân tích sự tham gia của người dân vào xây dựng ĐSVHKDC…. 20 CHƯƠNG 3: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU (33)
    • 3.1. Quy trình nghiên cứu (35)
    • 3.2. Dữ liệu nghiên cứu (36)
      • 3.2.1. Thông tin dữ liệu thứ cấp (36)
      • 3.2.2. Số liệu sơ cấp (36)
    • 3.3. Xây dựng thang đo (37)
    • 3.4. Phương pháp phân tích dữ liệu (40)
      • 4.1.1 Về số lượng công nhận khu phố văn hóa (0)
      • 4.1.2. Về chất lượng khu phố văn hóa (0)
    • 4.2. Đánh giá tình hình tham gia của người dân vào việc xây dựng ĐSVH ở KDC trên địa bàn Quận 3 qua kết quả khảo sát (43)
      • 4.2.1. Thông tin chung mẫu khảo sát (43)
      • 4.2.2. Tình hình tham gia xây dựng ĐSVH ở KDC của người dân (0)
      • 4.2.3. Hiểu biết về các hoạt động xây dựng ĐSVH ở KDC (50)
    • 4.3. Đánh giá thực trạng các nhân tố ảnh hưởng đến sự tham gia xây dựng ĐSVH ở KDC trên địa bàn Quận 3 (54)
      • 4.3.1. Tài sản tâm lý (MA) (54)
      • 4.3.2. Tài sản nhóm và mạng lưới (OA) (55)
      • 4.3.3. Tài sản thông tin (IA) (56)
      • 4.3.4. Tài sản vật chất và tài chính (CA) (57)
      • 4.3.5. Tài sản con người (HA) (58)
    • 4.4. Đánh giá mức độ tham gia xây dựng đời sống văn hóa KDC (58)
      • 4.4.1. Mức độ tham gia xây dựng đời sống văn hóa KDC (58)
      • 4.4.2. Phân tích mức độ tham gia theo đặc điểm cá nhân (0)
  • CHƯƠNG 5: KẾT LUẬN VÀ CÁC KHUYẾN NGHỊ (19)
    • 5.1. Kết luận (70)
    • 5.2. Các khuyến nghị (71)
      • 5.2.3. Đối với yếu tố tài sản nhóm và mạng lưới (74)
      • 5.2.4. Đối với yếu tố tài sản vật chất và tài chính (75)
      • 5.2.5. Đối với yếu tố tài sản con người (76)
    • 5.3. Hạn chế của đề tài và hướng nghiên cứu tiếp theo (76)
  • TÀI LIỆU THAM KHẢO (0)
  • PHỤ LỤC (0)

Nội dung

Đề tài nghiên cứu được thực hiện nhằm nghiên cứu thực trạng về sự tham gia của người dân và phân tích, đánh giá các yếu tố ảnh hưởng đến mức độ sự tham gia của người dân vào việc xây dựn

GIỚI THIỆU NGHIÊN CỨU

Tính cấp thiết của đề tài

Phong trào “Toàn dân đoàn kết xây dựng ĐSVH” đã triển khai hơn 15 năm, góp phần nâng cao chất lượng đời sống của người dân về tinh thần và vật chất, phát huy truyền thống tương thân tương ái của dân tộc Đây là một trong những giải pháp thực hiện Nghị quyết 33-NQ/TW của Ban chấp hành Trung ương Đảng, khóa XI, nhằm thúc đẩy phong trào xây dựng đời sống văn hóa Tuy nhiên, chất lượng các danh hiệu văn hóa chưa phản ánh đúng số lượng đạt chuẩn, phương pháp đánh giá còn cảm tính và thiếu lượng hóa, dẫn đến phong trào mang tính hình thức Thực tiễn cho thấy, tỷ lệ 100% hộ gia đình đạt danh hiệu gia đình văn hóa không hoàn toàn khả thi và thực tế.

Dựa trên các quy định của Ủy ban nhân dân thành phố Hồ Chí Minh về nội dung phong trào “Toàn dân đoàn kết xây dựng ĐSVH,” bài viết nhấn mạnh tầm quan trọng của phong trào trong việc nâng cao tinh thần đoàn kết và phát triển cộng đồng Kết quả thực tiễn tại Quận cho thấy phong trào đã góp phần thúc đẩy các hoạt động tuyên truyền, vận động nhân dân tham gia xây dựng đô thị văn minh, hiện đại Thông qua đó, phong trào đã góp phần nâng cao nhận thức cộng đồng về vai trò của từng người dân trong việc xây dựng môi trường sống tốt đẹp hơn Các hoạt động thực tiễn tại Quận thể hiện sự phối hợp chặt chẽ giữa chính quyền và nhân dân, hướng tới mục tiêu phát triển bền vững, ổn định và văn minh.

3 trong Báo cáo tổng kết 15 năm thực hiện phong trào tại văn bản số 147 /BC-BCĐ ngày

Vào ngày 17 tháng 11 năm 2015, Ban chỉ đạo phong trào Toàn dân đoàn kết xây dựng Đất nước xã hội chủ nghĩa (ĐSVH) quận 3 ghi nhận tỷ lệ người dân tham gia các hoạt động tổ dân phố đạt 68%, thấp hơn so với quy định tổ chức họp tổ dân phố mỗi quý Số lượng người dân tham gia các buổi tuyên truyền pháp luật và các chủ trương chính sách mới của Đảng và Nhà nước chủ yếu tập trung vào đội ngũ ban điều hành các tổ dân phố và khu phố Ngoài ra, tỷ lệ người dân thường xuyên tham gia rèn luyện thể dục thể thao chỉ đạt 28%, cho thấy còn nhiều khoảng trống trong công tác tuyên truyền và vận động cộng đồng tham gia các phong trào thi đua yêu nước.

Trong bài viết, có thể rút ra các câu chính sau để tạo thành một đoạn văn hợp lý, có ý nghĩa rõ ràng và tối ưu cho SEO: "Ý thức của người dân đối với việc thực hiện các quy định về nếp sống văn minh trong cưới, tang, lễ hội còn thấp, tỷ lệ người dân tham gia xây dựng gia đình học tập chưa đạt 50% Việc giữ gìn, phát huy bản sắc văn hóa dân tộc, bảo vệ di tích lịch sử và các công trình công cộng chưa được thực hiện triệt để, vẫn còn tình trạng kinh doanh lấn chiếm gây mất mỹ quan Người dân còn gặp nhiều khó khăn trong việc thực hiện các chính sách giảm nghèo bền vững, với hơn 230 hộ nghèo và 540 hộ cận nghèo ở Quận 3 Thực trạng xây dựng nhà không phép còn diễn ra phổ biến, gây ảnh hưởng đến trật tự đô thị Trong khi đó, phong trào 'Toàn dân đoàn kết xây dựng đô thị văn minh' đang góp phần nâng cao chất lượng cuộc sống về vật chất và tinh thần của người dân Chính phủ và các chính quyền địa phương cũng đã ban hành các kế hoạch cụ thể, như Quyết định 58/QĐ-UBND của Thành phố Hồ Chí Minh, nhằm thúc đẩy các hoạt động xã hội và giảm nghèo bền vững trong giai đoạn 2016-2020."

Trong công tác xây dựng đời sống văn hóa ở cơ sở, việc xây dựng khu phố văn hóa đã được tập trung chỉ đạo tại toàn quận, với 63/63 khu dân cư đăng ký thực hiện, tuy nhiên mức độ tham gia của người dân vẫn còn thấp, chưa thể hiện rõ vai trò chủ thể trong quá trình này Nghiên cứu “Các yếu tố ảnh hưởng đến sự tham gia của người dân vào việc xây dựng đời sống văn hóa ở khu dân cư quận 3, thành phố Hồ Chí Minh” nhằm đánh giá các yếu tố tác động đến sự tham gia của người dân, từ đó đề xuất giải pháp nâng cao sự tham gia, góp phần phát triển văn hóa xã hội và tăng cường sự đồng thuận giữa người dân và chính quyền Đóng góp của đề tài không chỉ thúc đẩy nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của cộng đồng mà còn tạo nguồn lực mới để thành công trong các chương trình xây dựng đời sống văn hóa địa phương.

Mục tiêu nghiên cứu

1.2.1 Mục tiêu chung Đề tài nghiên cứu thực trạng về sự tham gia của người dân và các yếu tố ảnh hưởng đến mức độ tham gia của người dân vào việc xây dựng ĐSVH ở KDC trên địa bàn Quận 3, qua đó, đề ra những khuyến nghị giúp tăng cường sự tham gia trong việc xây dựng ĐSVH ở KDC

Nghiên cứu được thực hiện nằm đạt được các mục tiêu cụ thể sau đây:

 Xác định các yếu tố ảnh hưởng đến sự tham gia của người dân vào việc xây dựng ĐSVH ở KDC trên địa bàn Quận 3

Đánh giá thực trạng các yếu tố ảnh hưởng đến sự tham gia của người dân vào việc xây dựng Đề án Xây dựng Đô thị Văn minh (ĐSVH) tại khu dân cư (KDC) trên địa bàn Quận 3 cho thấy các yếu tố như nhận thức cộng đồng, mức độ hiểu biết về lợi ích của phong trào, và các hoạt động cộng đồng đóng vai trò quan trọng trong việc thúc đẩy sự tham gia Ngoài ra, sự hỗ trợ từ chính quyền địa phương, các chính sách khuyến khích, cũng như cơ sở hạ tầng và điều kiện sống tại khu dân cư ảnh hưởng đáng kể đến mức độ tham gia của người dân trong các hoạt động xây dựng ĐSVH Thời gian qua, việc đánh giá này giúp làm rõ các yếu tố thúc đẩy hoặc cản trở sự phối hợp của cộng đồng trong việc xây dựng môi trường văn minh, góp phần đề xuất các giải pháp nâng cao hiệu quả tham gia của người dân trong thời gian tới.

Để nâng cao sự tham gia của người dân vào xây dựng Đô thị Văn hóa (ĐSVH) tại khu dân cư, cần đề xuất các giải pháp phù hợp nhằm giữ vững các danh hiệu văn hóa và phong trào “Toàn dân đoàn kết xây dựng ĐSVH” Việc thúc đẩy sự phối hợp chặt chẽ giữa chính quyền và cộng đồng sẽ góp phần thúc đẩy kết quả thực chất và duy trì giá trị của các danh hiệu đã được công nhận, từ đó xây dựng một khu phố văn hóa vững mạnh và bền vững tại Quận 3.

Câu hỏi nghiên cứu

Nghiên cứu được thực hiện để trả lời các câu hỏi:

 Các yếu tố nào có ảnh hưởng đến sự tham gia của người dân vào việc xây dựng ĐSVH ở KDC trên địa bàn Quận 3?

 Thực trạng các yếu tố ảnh hưởng đến sự tham gia của người dân vào việc xây dựng ĐSVH ở KDC trên địa bàn Quận 3 như thế nào?

Để tăng cường sự tham gia của người dân trong xây dựng Đô thị Văn hóa (ĐSVH) ở các khu dân cư, cần thúc đẩy cộng đồng cùng nhau giữ gìn và phát huy giá trị văn hóa truyền thống; xây dựng các hoạt động cộng đồng phù hợp nhằm nâng cao ý thức và trách nhiệm của người dân trong bảo vệ các danh hiệu văn hóa đã được công nhận Việc này giúp duy trì và phát triển khu phố văn hóa, góp phần làm phong phú phong trào “Toàn dân đoàn kết xây dựng ĐSVH” tại Quận 3, đạt được kết quả thực chất và giữ gìn các giá trị văn hóa bền vững Bên cạnh đó, chính quyền cần phối hợp chặt chẽ với người dân để triển khai các chương trình nâng cao nhận thức, tạo điều kiện cho cộng đồng tham gia tích cực vào các hoạt động văn hóa chung của địa phương.

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

1.4.1 Đối tượng nghiên cứu Đề tài tập trung nghiên cứu về thực trạng tham gia và các yếu tố ảnh hưởng đến sự tham gia của người dân vào việc xây dựng ĐSVH ở KDC trên địa bàn Quận 3

1.4.2.1 Không gian nghiên cứu: Đề tài nghiên cứu tại 63 KDC bàn trên địa bàn Quận 3, thành phố Hồ Chí Minh

1.4.2.2 Thời gian nghiên cứu: Đề tài nghiên cứu thực trạng sự tham gia của người dân dân vào việc xây dựng ĐSVH ở KDC tại địa bàn nghiên cứu từ năm 2017 đến 2019, khi Quận 3 thực hiện Quyết định 389/QĐ-UBND ngày 02 tháng 11 năm 2017 về việc ban hành Đề án nâng cao chất lượng khu phố văn hóa trên địa bàn Quận 3 giai đoạn 2017 – 2021.

Phương pháp nghiên cứu

Đầu tiên, tác giả nghiên cứu các mô hình lý thuyết tổng quát trong và ngoài nước để xác định mô hình nghiên cứu phù hợp và xây dựng thang đo cơ bản Sau đó, khi đã hoàn chỉnh thang đo và bảng câu hỏi, tác giả sẽ tiến hành phỏng vấn chính thức để thu thập dữ liệu thực tế từ người dân của 63 khu dân cư tại Quận 3, thành phố Hồ Chí Minh.

Sau khi thu thập và xử lý dữ liệu, quá trình phân tích được thực hiện bằng phần mềm SPSS IBM 20.0 để đánh giá thực trạng tham gia của người dân vào xây dựng ĐSVH KDC Các bước bao gồm thống kê mô tả đơn biến và phân tích đa biến nhằm xác định các yếu tố ảnh hưởng đến sự tham gia của cộng đồng Nghiên cứu tập trung vào việc phân tích các yếu tố tác động đến mức độ tham gia của người dân trong xây dựng ĐSVH tại Quận 3, TP Hồ Chí Minh, giúp đưa ra những cập nhật chính xác và đáng tin cậy cho quá trình phát triển cộng đồng.

Bố cục của đề tài

Luận văn được trình bày gồm có 5 Chương với bố cục như sau:

Chương 1 giới thiệu tổng quan nghiên cứu Chương này trình bày lý do, mục tiêu, câu hỏi nghiên cứu, đối tượng và phạm vi nghiên cứu, phương pháp nghiên cứu, ý nghĩa thực tiễn và bố cục của đề tài

Chương 2 tổng quan cơ sở lý luận về sự tham gia của người dân vào xây dựng khu phố văn hóa Chương này trình bày các khái niệm văn hóa đô thị, môi trường văn hóa đô thị, vai trò tham gia của người dân vào xây dựng khu phố văn hóa, các lý thuyết và nghiên cứu liên quan

Chương 3 trình bày phương pháp và thiết kế nghiên cứu Chương này trình bày mô hình, dữ liệu và phương pháp nghiên cứu, quy trình phân tích bộ dữ liệu và lựa chọn phương pháp phù hợp

Chương 4 trình bày kết quả nghiên cứu: thống kê mô tả, phân tích và kiểm định mô hình, phân tích thực trạng sự tham gia của người dân vào xây dựng khu phố văn hóa, các nhân tố tác động

Chương 5 là phần kết luận Chương này trình bày tóm tắt, thảo luận lại các vấn đề chính của nghiên cứu, gợi ý chính sách Phần cuối của chương trình bày đóng góp, hạn chế, và hướng nghiên cứu tiếp theo

Chương 1 đã trình bày tính cấp thiết của đề tài, mục tiêu, câu hỏi nghiên cứu, đối tượng và phạm vi nghiên cứu, phương pháp nghiên cứu cũng như bố cục 5 chương của đề tài Đề tài “Các yếu tố ảnh hưởng đến sự tham gia của người dân vào việc xây dựng đời sống văn hóa ở khu dân cư Quận 3, thành phố Hồ Chí Minh” giúp đánh giá thực trạng tham gia của người dân đối với xây dựng đời sống văn hóa qua khảo sát bảng hỏi, phân tích các yếu tố tác động và đề xuất các khuyến nghị nhằm nâng cao chất lượng đời sống văn hóa trong cộng đồng dân cư quận trong tương lai.

CHƯƠNG 2 TỔNG QUAN CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CÁC YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN

SỰ THAM GIA CỦA NGƯỜI DÂN VÀO XÂY DỰNG ĐSVH KDC

Dựa trên các tiếp cận về mục tiêu, câu hỏi nghiên cứu và phương pháp nghiên cứu trình bày trong Chương 1, chương này sẽ tổng quan các yếu tố ảnh hưởng đến sự tham gia của người dân vào xây dựng khu phố văn hóa dựa trên các nghiên cứu trước đó Bên cạnh đó, tác giả sẽ giới thiệu khung lý thuyết và thực nghiệm đã được chứng minh có tính khoa học để đưa ra khung phân tích phù hợp cho đề tài.

Các khái niệm liên quan đến văn hóa và đô thị

2.1.1 Khái niệm về văn hóa

Trong bối cảnh thế giới ngày càng phát triển, quan niệm về văn hoá đã được xác định một cách đầy đủ hơn, mở rộng từ nghĩa hẹp liên quan đến hoạt động văn học, nghệ thuật sang nghĩa rộng bao gồm các hệ thống giá trị về tình cảm, tri thức, vật chất và tinh thần do con người sáng tạo ra trong quá trình hoạt động lịch sử, thực tiễn của xã hội Văn hoá là tổng thể các hoạt động sáng tạo của cá nhân và cộng đồng qua các thế kỷ, hình thành các giá trị, truyền thống và thị hiếu đặc trưng của mỗi dân tộc (Mayor, 1986) Theo UNESCO (1988), văn hoá còn là tập hợp các nét riêng về tinh thần và vật chất, trí tuệ và cảm xúc quyết định tính cách của xã hội hay nhóm người, gồm nghệ thuật, văn chương, lối sống, quyền con người, hệ thống giá trị, tập tục và tín ngưỡng.

Theo quan điểm của Hoàng Vinh (1999), lao động sáng tạo được xem là cội nguồn và khởi đầu của văn hóa, hướng tới các giá trị nhân bản nhằm hoàn thiện con người.

Văn hóa là tổng thể các sáng tạo của con người được tích lũy qua quá trình hoạt động thực tiễn, góp phần hình thành di sản văn hóa và hệ ứng xử của cộng đồng Hệ giá trị xã hội đóng vai trò cốt lõi trong việc xây dựng bản sắc riêng của một cộng đồng, có khả năng ảnh hưởng sâu sắc đến đời sống tâm lý và hoạt động của các thành viên trong cộng đồng đó.

Văn hóa được định nghĩa là một hệ thống hữu cơ các giá trị vật chất và tinh thần do con người sáng tạo và tích lũy qua quá trình hoạt động thực tiễn Theo Trần Ngọc Thêm (2001), văn hóa hình thành và phát triển trong sự tương tác liên tục giữa con người với môi trường tự nhiên và xã hội của mình, phản ánh bản chất và đặc trưng của cộng đồng Đây là một hệ thống toàn diện, bao gồm cả các yếu tố vật chất lẫn tinh thần, góp phần định hình nhận thức, lối sống và giá trị của cộng đồng đó.

Văn hóa là hoạt động sáng tạo vật chất và tinh thần của con người nhằm hình thành các giá trị văn hóa để cộng đồng và mỗi cá nhân soi vào đó để chiêm nghiệm, đối chiếu và phấn đấu đạt chuẩn mực giá trị Quá trình này giúp biến đổi liên tục và sâu sắc năng lực sáng tạo của cá nhân và cộng đồng, hướng tới hoàn thiện nhân cách và xã hội Mục tiêu của văn hóa là thúc đẩy sự thống nhất cao giữa cá nhân, gia đình, cộng đồng và toàn xã hội, đảm bảo sự tồn tại và phát triển tiến bộ của con người và xã hội.

2.1.2 Khái niệm khu phố văn hóa

Theo Huỳnh Quốc Thắng (2003), “Ấp văn hóa hay khu phố văn hóa chính là mô hình nông thôn mới hoặc đô thị mới được xây dựng dựa trên nền tảng công nghiệp hóa, hiện đại hóa, gắn liền với quá trình đô thị hóa và thực hiện cơ chế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa.” Đây nhằm mục đích giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa truyền thống của dân tộc và địa phương.

Xây dựng khu phố văn hóa là quá trình tích cực vận động và hoạt động vì lợi ích cộng đồng, bao gồm giúp đỡ hoàn cảnh khó khăn, xây dựng nhà tình nghĩa, bài trừ tệ nạn xã hội, xóa mù chữ và giảm nghèo Các hoạt động này nhận được sự hưởng ứng của nhiều ban ngành, đoàn thể, doanh nghiệp, chợ và trường học, góp phần nâng cao chất lượng đời sống xã hội trong khu dân cư Đồng thời, việc đầu tư cơ sở hạ tầng, cải tạo và mở rộng đường phố, hệ thống tuyến hẻm mới đã tạo ra diện mạo đô thị đẹp hơn, tăng mảng xanh và cải thiện môi trường sống Các chuyển biến về vệ sinh môi trường và trật tự lòng lề đường đã góp phần nâng cao chất lượng cuộc sống và văn hóa của cộng đồng dân cư.

2.1.3 Khái niệm văn hóa đô thị

Theo phân tích của Tôn Nữ Quỳnh Trân (2010), văn minh là bản chất cơ bản tạo nên sự khác biệt giữa thành thị và nông thôn Nền văn hóa của đô thị cũng bắt nguồn từ bản chất này, trong đó văn hóa và văn minh kết hợp tạo thành nét đặc trưng riêng của văn hóa đô thị Văn hóa đô thị chính là điểm giao thoa giữa văn minh và văn hóa, góp phần hình thành bản sắc văn hóa đặc trưng của đô thị.

2.1.4 Khái niệm môi trường văn hóa đô thị

Môi trường văn hóa đô thị có nội hàm rộng lớn, phản ánh tổng hòa các lối sống đô thị bao gồm hoạt động sống điển hình, giá trị vật chất và tinh thần của cư dân đô thị Theo Nguyễn Thị Hậu (2014), con người trong môi trường đô thị là thể thống nhất của các điều kiện tự nhiên, xã hội, lịch sử Quá trình hình thành và phát triển đô thị đã hình thành các cách sống, phương thức sống và hình thức sống riêng biệt của từng cộng đồng xã hội trong đô thị.

Tổng quan cơ sở lý thuyết về sự tham gia

Trong chiến lược phát triển cộng đồng, "sự tham gia của quần chúng" được coi là một công cụ hiệu quả và ngày càng được mong đợi như một yếu tố quan trọng để thúc đẩy phát triển cộng đồng bền vững Việc huy động sự tham gia rộng rãi của người dân không chỉ nâng cao tính tự quyết mà còn tạo ra sự đồng thuận, góp phần tăng cường hiệu quả các hoạt động phát triển cộng đồng Chính vì vậy, thúc đẩy sự tham gia của quần chúng trở thành một trong những mục tiêu hàng đầu trong các chiến lược phát triển cộng đồng hiện nay.

Sự tham gia của quần chúng đóng vai trò là phương tiện hiệu quả để huy động nguồn lực địa phương Việc khơi dậy, tổ chức và tận dụng trí tuệ cùng khả năng sáng tạo của cộng đồng góp phần quan trọng vào các hoạt động phát triển bền vững.

Việc xác định rõ nhu cầu của cộng đồng là bước quan trọng trong quá trình phát triển, giúp xây dựng các hoạt động phù hợp để đáp ứng những mong muốn này Sự tham gia tích cực của người dân đóng vai trò then chốt trong việc được công nhận và thúc đẩy dự án, từ đó đảm bảo tính bền vững của hoạt động Kinh nghiệm thực tế cho thấy, mức độ và cường độ tham gia của cộng đồng trực tiếp ảnh hưởng đến thành công của các hoạt động phát triển.

Sự tham gia tích cực của người dân là yếu tố chủ chốt trong phát triển, nhưng mức độ này bị ảnh hưởng bởi điều kiện của bối cảnh hoạt động Tham gia của người dân vào các dự án phát triển khác nhau tùy thuộc vào tính chất của từng dự án, từ hình thức đến sâu sắc Ở nhiều quốc gia, mức độ tham gia dao động từ cao đến thấp, phản ánh các yếu tố như mô hình phát triển, phong cách quản lý và khả năng nâng cao quyền lực của cộng đồng Ngoài ra, các yếu tố quyết định khác bao gồm khả năng vận động của người dân, sự tham gia của tổ chức xã hội, và năng lực của nhóm đối tượng để tham gia vào quá trình phát triển.

2.2.1 Khái niệm về sự tham gia của người dân

Sự tham gia của người dân là một quá trình trong đó các cá nhân tích cực tham gia vào việc ra quyết định trong các tổ chức, chương trình và môi trường ảnh hưởng đến cuộc sống của họ, theo định nghĩa của Florin (1990) Khái niệm này nhấn mạnh tầm quan trọng của việc người dân đóng vai trò chủ động trong quá trình quyết định, góp phần tăng cường sự công bằng và hiệu quả trong các hoạt động cộng đồng.

Theo Andre, Martin và Lanmafankpotin (2012), sự tham gia của người dân là quá trình mà trong đó họ tự nguyện hoặc bắt buộc, hành động đơn lẻ hoặc nhóm nhằm ảnh hưởng đến các quyết định ảnh hưởng đến cộng đồng của mình Sự tham gia này có thể diễn ra bên trong hoặc bên ngoài khuôn khổ thể chế và được tổ chức bởi các thành viên của tổ chức xã hội hoặc người ra quyết định.

Sự tham gia của cộng đồng trong phát triển kinh tế-xã hội thường được hiểu theo hai hướng chính: thứ nhất, là quá trình mà sự tham gia ảnh hưởng đến quá trình hoạch định, thực hiện và kết quả của phát triển; thứ hai, là cơ chế nhằm củng cố năng lực của cộng đồng trong việc giải quyết các vấn đề của chính họ và thúc đẩy khả năng tự thích ứng (Simmons, 1994; Reed, 1997).

Trong xây dựng khu phố văn hóa, việc tham gia của cộng đồng địa phương được tiếp cận theo hướng kết quả, kết hợp cả hai quan điểm nhằm đảm bảo phân phối lợi ích công bằng hơn cho cộng đồng (Brohman, 1996; Aref và Redzuan, 2008) Đây là phương pháp hợp lý giúp hình thành cơ chế thu hút sự tham gia thực chất của người dân trong phát triển khu phố văn hóa bền vững.

2.2.2 Đo lường sự tham gia của người dân

Trong nghiên cứu này, sự tham gia của người dân được đo lường dựa trên mức độ tham gia thể hiện qua các cấp độ khác nhau Mức độ tham gia của người dân vào các hoạt động phát triển cộng đồng phản ánh trình độ nhận thức, văn hóa và điều kiện địa lý của từng vùng miền Theo Andre, Martin & Lanmafankpotin (2012), quá trình này diễn biến liên tục qua 6 cấp độ khác nhau, cho thấy sự đa dạng và phức tạp của sự tham gia cộng đồng.

- Tham gia thụ động (Passive participation): trong các hoạt động người dân thụ động tham gia, bảo gì làm đấy, không tham dự vào quá trình ra quyết định

Tham gia thông qua việc cung cấp thông tin bằng cách trả lời các câu hỏi khảo sát của các nhà nghiên cứu, giúp thu thập dữ liệu cần thiết cho các nghiên cứu khoa học Người dân đóng vai trò là người cung cấp dữ liệu, nhưng không tham gia vào quá trình phân tích hoặc sử dụng thông tin này Đây là hình thức tham gia của cộng đồng nhằm hỗ trợ nghiên cứu một cách hiệu quả và góp phần vào phát triển kiến thức mới.

- Tham gia như nhà tư vấn (Participation as consultants): Người dân được tham vấn và đưa ra ý kiến về các vấn đề tại địa phương

Người dân tham gia vào việc thành lập nhóm để thực hiện các chương trình và dự án tại địa phương, góp phần thúc đẩy phát triển cộng đồng Tuy nhiên, ở mức độ này, họ chủ yếu tham gia vào quá trình thực hiện mà chưa được tham gia vào quá trình ra quyết định, giới hạn quyền kiểm soát và ảnh hưởng đến các lựa chọn dự án.

Người dân chủ động tham gia vào các quá trình phân tích, lập kế hoạch và ra quyết định tại địa phương, góp phần thúc đẩy sự phát triển cộng đồng Sự tham gia của cộng đồng trong quyết định giúp đảm bảo các phương án phù hợp với nhu cầu thực tế của người dân, tăng cường sự phối hợp và trách nhiệm của các bên liên quan Việc này không chỉ nâng cao hiệu quả các chính sách địa phương mà còn thúc đẩy sự gắn kết và đổi mới trong cộng đồng.

Tham gia tự nguyện hay tự vận động là hình thức người dân tự thực hiện từ đầu mọi công việc như lên ý tưởng, lập kế hoạch và đánh giá các hoạt động mà không có sự hỗ trợ hay định hướng từ bên ngoài Theo Tosun (1999), cộng đồng tham gia có thể chia thành ba dạng chính: thứ nhất, sự tham gia tự phát, là hình thức tham gia chủ động và thực sự của người dân trong quá trình phát triển cộng đồng, bao gồm cả lập kế hoạch và lựa chọn giải pháp; thứ hai, sự tham gia mang tính hình thức, thường mang tính bị động, bị áp đặt từ trên xuống, ít có lựa chọn và có thể chỉ mang tính biểu tượng; cuối cùng, là sự tham gia bắt buộc, cũng bị áp đặt từ trên xuống, mang tính hình thức và không phản ánh mức độ tham gia thực sự của người dân.

Nghiên cứu của Arnstein (1969) đã trở thành nền tảng lý thuyết để các học giả đánh giá mức độ tham gia của công dân, với việc phân loại thành 8 mức độ khác nhau Wilcox (2003) đã sắp xếp các mức này từ cao xuống thấp, bắt đầu từ Sự vận động và Liệu pháp – hai cấp độ không tạo ra sự tham gia thực sự mà chỉ nhằm đào tạo người dân – đến Cung cấp thông tin, một bước đầu quan trọng để thúc đẩy sự tham gia nhưng thường chỉ truyền tải thông tin một chiều Tiếp theo là Tham vấn, nơi tổ chức khảo sát và họp mặt lấy ý kiến nhưng mang tính hình thức; Động viên, khi người dân được chọn vào các nhóm như ủy ban để thực hiện chương trình; Hợp tác, với sự phân chia quyền lực rõ ràng hơn giữa người dân và chính quyền trong việc ra quyết định; Ủy quyền, ở cấp độ này người dân chiếm đa số các vị trí trong ủy ban và có quyền quyết định; và cuối cùng là Người dân quản lý, nơi cộng đồng đảm nhận toàn bộ quá trình lập kế hoạch, chính sách và quản lý chương trình, thể hiện sự tham gia đầy đủ và có trách nhiệm của cộng đồng.

Hình 2.1: Hình thang mô tả mức độ tham gia của công dân

Arnstein (1969) đánh giá mức độ tham gia của công dân dựa trên cấp độ trao quyền từ phía nhà quản lý, trong khi Brager & cộng sự (1987) lại tập trung vào hành động thực tế của công dân Các tác giả đã đề xuất 7 mức độ tham gia của người dân, được sắp xếp từ cao đến thấp, thể hiện các cấp độ khác nhau của sự tham gia cộng đồng.

Xây dựng khung phân tích sự tham gia của người dân

Các nhân tố ảnh hưởng đến sự tham gia của công dân được tổng hợp thành hai nhóm chính: thực lực và cấu trúc cơ hội (Alsop & cộng sự, 2005) Nghiên cứu của Alsop & cộng sự chính là khung chuẩn mực để phân tích các yếu tố tác động đến khả năng tham gia của công dân Đây là cơ sở quan trọng giúp hiểu rõ hơn về các yếu tố thúc đẩy hoặc cản trở sự tham gia cộng đồng.

Bảng 2.2: Các chỉ số gián tiếp của trao quyền

Tài sản tâm lý Khả năng dự tính thay đổi IQMSC

Tài sản thông tin Tần suất nghe radio/ truy cập vào các nguồn phương tiện khác nhau IQMSC

Tài sản nhóm và mạng lưới Các thành viên trong tổ chức IQMSC

Tài sản vật chất Quyền sở hữu các tài sản sản xuất như đất LSMS

Giá trị của tiền tiết kiệm hộ gia đình trong năm trước (tiền mặt và các hình thức khác)

Tài sản con người Mức độ lệ thuộc của phái nữ LSMS education module

Trong nghiên cứu này, chúng tôi sẽ tập trung nghiên cứu thực lực theo góc độ nguồn vốn của các chủ thể hành động xã hội

2.3.1 Các yếu tố ảnh hưởng sự tham gia của người dân

Alsop và cộng sự (2005) định nghĩa thực lực của công dân là khả năng của một người hoặc nhóm người trong việc thực hiện các lựa chọn có chủ đích Thực lực có thể được dự đoán chủ yếu thông qua các loại tài sản của họ, bao gồm tài sản tâm lý, tài sản thông tin, tài sản nhóm và mạng lưới, tài sản vật chất và tài chính, cùng tài sản con người Trong khuôn khổ nghiên cứu này, do đặc thù của khu vực đô thị phát triển ổn định, tác giả đã gộp chung tài sản vật chất và tài chính thành nhóm tài sản vật chất và tài chính Do đó, nghiên cứu tập trung xem xét 5 loại tài sản chính để đánh giá thực lực của công dân.

Nghiên cứu của Alsop và cộng sự (2005) tổng hợp các nghiên cứu trước về các yếu tố ảnh hưởng đến sự tham gia và tiếp cận trong lĩnh vực kinh tế Để phù hợp với tiếp cận hành vi trong quản lý công, tác giả kế thừa các nghiên cứu này để phân loại các loại tài sản dựa trên cơ sở của nghiên cứu Alsop và cộng sự (2005) Các yếu tố ảnh hưởng này giúp hiểu rõ hơn về cách các cá nhân và tổ chức tiếp cận cũng như sử dụng tài sản trong bối cảnh quản lý công Nghiên cứu còn làm rõ vai trò của các nhân tố tâm lý và hành vi trong quyết định tham gia và sử dụng tài sản công Các phát hiện từ nghiên cứu này cung cấp cơ sở lý luận quan trọng để xây dựng các chính sách phù hợp nhằm thúc đẩy sự tham gia của cộng đồng trong các hoạt động công.

(1) Tài sản tâm lý (Trust and Solidarity)

Tài sản tâm lý phản ánh niềm tin của cá nhân đối với cộng đồng nơi họ sinh sống hoặc khả năng nhạy bén với những thay đổi theo thời gian, như đã đề cập bởi Grootaert (2004) Tuy nhiên, định nghĩa về niềm tin lại đa dạng và phức tạp, vì mỗi lĩnh vực nghiên cứu có cách hiểu riêng; Luhmann (2000) xem niềm tin như một giải pháp đối mặt với rủi ro, trong khi Gambetta (2000) nhấn mạnh rằng niềm tin là phương án để vượt qua những hành động thiếu hiểu biết dẫn đến sự không chắc chắn, biến nó thành trạng thái trung gian giữa đức tin và tự tin Do đó, hành động của con người không chỉ phụ thuộc vào khả năng mà còn chịu tác động của niềm tin, góp phần hình thành các quyết định và phản ứng trong cuộc sống hàng ngày.

Khi mất niềm tin, cá nhân sẽ không tham gia vào các hoạt động kinh tế và chính trị, bởi niềm tin là điều kiện tiên quyết để thúc đẩy sự tham gia và tận dụng tối đa các cơ hội (Luhmann, 2000) Niềm tin đóng vai trò quan trọng trong việc xây dựng sự tham gia tích cực của cá nhân vào các hoạt động xã hội, góp phần thúc đẩy phát triển và ổn định cộng đồng.

(1986) khẳng định niềm tin của công chúng giữ vai trò quyết định để các đảng phái xây dựng cộng đồng tốt hơn

Nghiên cứu của Montalvo & Phillip (2008) tại Mỹ Latinh cho thấy rằng khi người dân phát hiện có hiện tượng tham nhũng hoặc nhận thấy lợi ích từ các dự án, họ sẽ tham gia tích cực hơn vào các hoạt động của chính quyền Tuy nhiên, sự mất niềm tin vào các nhà cầm quyền lại dẫn đến mức độ tham gia tăng, phản ánh mối liên hệ đặc biệt giữa niềm tin và sự tham gia của công chúng Theo đó, mất niềm tin không hề đồng nghĩa với việc người dân sẽ bỏ qua việc tham gia khi không còn niềm tin, trái lại, nó còn thúc đẩy họ tham gia nhiều hơn để giám sát và ảnh hưởng đến chính sách.

(2000) đã khẳng định, bởi trong cả hai nghiên cứu mỗi cá nhân đều đưa ra lựa chọn hợp lý để giảm thiểu rủi ro

Một loại tài sản tâm lý quan trọng được xác định là mức độ sẵn sàng đóng góp cho cộng đồng, phản ánh khả năng cộng đồng dân cư thể hiện tính thân thiện và đoàn kết trong việc hợp tác giải quyết các vấn đề chung (Grootaert & cộng sự, 2004) Sự gắn kết cộng đồng thông qua tình đoàn kết, tinh thần hợp tác, và sự hỗ trợ lẫn nhau từ hàng xóm khi gặp khó khăn góp phần thúc đẩy sự phát triển bền vững và tăng cường mối quan hệ xã hội trong cộng đồng.

(2) Tài sản thông tin (Information and Community)

Thông tin và truyền thông là yếu tố then chốt trong tương tác xã hội Thông tin từ chính sách nhà nước và thông tin phản hồi từ địa phương đóng vai trò quan trọng thúc đẩy sự phát triển Luồng thông tin ngang tạo điều kiện cho xã hội trao đổi kiến thức và ý tưởng, góp phần xây dựng ý thức cộng đồng qua các cuộc đối thoại mở Ngược lại, thiếu rõ ràng và không công khai thôngtin gây ra nghi ngờ và giảm độ tin cậy Do đó, việc tăng cường công tác phổ biến thông tin và xây dựng tài sản thông tin chính là cách để loại bỏ tâm lý tiêu cực, tăng cường niềm tin và sự gắn kết xã hội.

Nhiều nghiên cứu chỉ ra rằng tài sản thông tin ngày càng đóng vai trò quan trọng trong việc thúc đẩy sự tham gia của công dân Abraham (1979) nhấn mạnh rằng để nâng cao kết quả bầu cử, công dân cần được trao đổi thông tin với các quan chức và người được bổ nhiệm, vì thông tin giúp xây dựng lòng tin và khuyến khích họ đóng góp tích cực hơn Narayan-Parker (2002) khẳng định khả năng tiếp cận thông tin là công cụ giúp cộng đồng có tiếng nói mạnh mẽ hơn trong các vấn đề ảnh hưởng đến cuộc sống của họ Gần đây, Nino (2010) nhấn mạnh vai trò của các cơ quan giám sát phi chính phủ trong việc thực hiện quyền lực dân chủ, đặc biệt ở những quốc gia có tỷ lệ tham nhũng cao và hiệu quả quản trị công thấp, thông qua việc thúc đẩy tiếp cận thông tin công cộng và tăng cường sự tham gia của công dân.

Tài sản thông tin thể hiện qua khả năng tiếp cận và tiếp nhận thông tin từ các kênh truyền thông như radio, tivi, internet, và các phương tiện truyền thông khác (Nguyễn Trung Kiên & Lê Ngọc Hùng, 2012) Do đó, tài sản này thường được đánh giá gián tiếp thông qua các công cụ đo lường khả năng cá nhân tiếp cận thông tin (Milakovich, 2010; Stanley & Weare, 2004).

Tài sản thông tin không chỉ được đo lường qua các công cụ tiếp cận dữ liệu mà còn phản ánh mức độ cá nhân nắm giữ và chia sẻ thông tin Silva (2012) nhấn mạnh rằng nhân viên y tế, với vai trò là chuyên gia về hiệu quả, lợi ích, tiềm năng và tác hại của phương pháp điều trị, cần sẵn sàng chia sẻ thông tin với bệnh nhân và người liên quan Nỗ lực hợp tác trong quá trình ra quyết định y tế giúp nâng cao kiến thức của người dân về tình trạng sức khỏe của họ và hỗ trợ các lựa chọn phù hợp hơn Do đó, một phương pháp khác để đo lường tài sản thông tin là đánh giá mức độ chủ động của cá nhân trong việc chia sẻ thông tin trong quá trình trao đổi, thể hiện rõ hơn tầm quan trọng của việc chia sẻ thông tin trong quản lý tài sản thông tin.

(3) Tài sản nhóm và mạng lưới (Group and Networks)

Tài sản nhóm và mạng lưới phân tích tính chất và mức độ tham gia của thành viên trong các tổ chức xã hội (Grootaert & các cộng sự, 2004) Khi tham gia các tổ chức xã hội, cá nhân thể hiện sự gắn kết xã hội qua khả năng hợp tác và vượt qua hạn chế để trợ giúp cộng đồng Sự tham gia này có thể thúc đẩy sự bình đẳng về cơ hội và xóa bỏ các rào cản chính thức lẫn phi chính thức, tạo điều kiện thuận lợi cho mọi người tiếp cận các lợi ích xã hội.

Thiếu kỹ năng tham gia là một trong những nguyên nhân chính khiến cho việc công dân tham gia quyết định công cộng trở nên tốn kém và không hiệu quả (Irvin & Stansbury, 2004; Abraham, 2014) Những vấn đề công cộng đòi hỏi kỹ thuật ra quyết định mà công dân thường không có khả năng tham gia (Parker, 2002) Tài sản nhóm và mạng lưới xã hội đóng vai trò quan trọng trong việc giải quyết khó khăn này, khi các tổ chức và mạng lưới cung cấp cho thành viên kỹ năng hợp tác và tham gia vào đời sống công cộng (Putnam, 2001) Ở Việt Nam, người Kinh có mạng lưới xã hội rộng lớn hơn, ít co cụm hơn và có khả năng sinh thêm tài sản xã hội, giúp họ hành động hiệu quả hơn trong việc theo đuổi các mục đích chung so với các dân tộc thiểu số khác (Nguyễn Trung Kiên & Lê Ngọc Hùng, 2012).

(4) Tài sản vật chất và tài chính

Tài sản vật chất và tài chính đóng vai trò quan trọng trong việc thúc đẩy sự tham gia của công dân, vì điều kiện cần để tham gia hiệu quả là họ phải có đủ thu nhập để đảm bảo không ảnh hưởng đến cuộc sống gia đình (Irvin & Stansbury)

Sự tham gia của người nghèo thường rất thấp và gần như không có tiếng nói trong các quyết định ảnh hưởng trực tiếp đến lợi ích của họ (Gaventa, 2002; Gaventa, 2004; Schửnwọlder, 1997), do ảnh hưởng lớn của các yếu tố tài chính và vật chất Theo lý thuyết năm tầng của Maslow (Maslow, 1943), các nhu cầu cao hơn sẽ nổi lên khi các nhu cầu cơ bản đã được đáp ứng đầy đủ, trong đó tài sản vật chất và tài chính đóng vai trò là nguồn gốc của khả năng đáp ứng các nhu cầu này Do đó, người có nhiều tài sản vật chất và tài chính thường có khả năng tham gia các tổ chức cộng đồng, vì đây là nhu cầu bậc cao của con người và ảnh hưởng rõ rệt đến mức độ tham gia của họ vào cộng đồng.

Quy trình nghiên cứu

Nghiên cứu này được thực hiện theo phương pháp qui nạp với tuần tự theo hai bước

Bước 1 trong quá trình nghiên cứu là thực hiện sơ bộ bằng cách tổng hợp các lý thuyết liên quan và phân tích các nghiên cứu trước đây về sự tham gia của người dân Quá trình này giúp đề xuất mô hình nghiên cứu lý thuyết, xác định tiêu chí đánh giá và thang đo mức độ tham gia của cộng đồng hiệu quả.

Sử dụng phương pháp nghiên cứu định tính giúp bổ sung các tiêu chí đánh giá cần thiết, điều chỉnh thang đo phù hợp và hoàn thiện bảng câu hỏi, từ đó chuẩn bị tốt hơn cho bước nghiên cứu chính thức Phương pháp này đảm bảo các tiêu chí đánh giá chính xác hơn, nâng cao độ tin cậy của nghiên cứu và tối ưu hóa quy trình thu thập dữ liệu Việc điều chỉnh thang đo dựa trên kết quả nghiên cứu định tính giúp đảm bảo tính phù hợp và khả năng áp dụng trong nghiên cứu chính thức Nhờ đó, bảng câu hỏi được hoàn chỉnh một cách kỹ lưỡng, góp phần nâng cao hiệu quả và độ chính xác của toàn bộ nghiên cứu.

Bước 2 trong quá trình nghiên cứu chính thức bao gồm việc sử dụng phương pháp nghiên cứu định lượng để thu thập dữ liệu thực tế từ người dân tại 63 khu dân cư trên địa bàn Quận 3, TP Hồ Chí Minh Sau khi xác định thang đo và hoàn thiện bảng câu hỏi dựa trên mô hình nghiên cứu lý thuyết, tác giả tiến hành phỏng vấn chính thức để thu thập dữ liệu Dữ liệu sau đó được tổng hợp, làm sạch và xử lý để chuẩn bị phân tích Phương pháp phân tích mô tả đơn biến và đa biến cùng phần mềm SPSS 20.0 được sử dụng để đánh giá mức độ tham gia của người dân và các yếu tố ảnh hưởng đến sự tham gia vào xây dựng đề án xây dựng cộng đồng văn minh Cuối cùng, tác giả thực hiện phân tích và thảo luận kết quả để rút ra các nhận định phù hợp.

Mục tiêu Lý thuyết Phân tích Kết quả Thảo luận

Hình 3.1: Quy trình nghiên cứu

Nguồn: Tác giả tổng hợp

Dữ liệu nghiên cứu

3.2.1 Thông tin dữ liệu thứ cấp

Theo các báo cáo tổng kết phong trào “Toàn dân đoàn kết xây dựng ĐSVH” các năm từ 2015 đến 2018, hoạt động này đã góp phần thúc đẩy phong trào văn hóa tại Quận 3 Báo cáo tình hình kinh tế - xã hội của UBND Quận 3 cho thấy sự phát triển ổn định và bền vững trong giai đoạn này, đồng thời phản ánh những thành tựu nổi bật của địa phương Việc triển khai các tiêu chuẩn văn hóa giai đoạn 2017- giúp nâng cao chất lượng đời sống văn hóa cộng đồng, thúc đẩy xây dựng xã hội văn minh, hiện đại.

Trong năm 2021, Quận 3 đã triển khai nhiều hoạt động nhằm nâng cao chất lượng đời sống cộng đồng, đồng thời thu thập dữ liệu thống kê chi tiết về tình hình phát triển địa phương Các kết quả xét duyệt danh hiệu “Gia đình văn hóa” và “Khu phố văn hóa” ngày càng phản ánh rõ nét nỗ lực của quận trong việc xây dựng môi trường sống văn minh, văn hóa Ngoài ra, các tài liệu và báo cáo liên quan đã được tổng hợp, phân tích nhằm đánh giá hiệu quả các phong trào thi đua và đề xuất các giải pháp thúc đẩy phát triển bền vững tại Quận 3.

Dự kiến sẽ thu thập số liệu từ 300 phiếu khảo sát, mỗi hộ gia đình có một thành viên đại diện tham gia Phỏng vấn trực tiếp các hộ dân trong khu vực nghiên cứu nhằm hiểu rõ tình hình kinh tế hộ gia đình và mức độ tham gia của người dân trong xây dựng khu phố văn hóa Các phiếu khảo sát đã chuẩn bị sẵn sẽ giúp thu thập thông tin đầy đủ và chính xác về hoạt động phát triển cộng đồng tại địa phương.

Xác định vấn đề mục tiêu nghiên cứu

Các nghiên cứu liên quan

Xây dựng khung nghiên cứu lý thuyết

Tổng hợp và xử lý dữ liệu

Thu thập dữ liệu từ các nguồn

Phân tích, kiểm định mô hình Đánh giá thực trạng tham gia và các yếu tố ảnh hưởng đến mức độ tham gia của người dân

Kết quả nghiên cứu, hàm ý chính sách và hướng nghiên cứu tiếp theo

Dựa trên tổng hợp các nghiên cứu và ý kiến chuyên gia, cỡ mẫu tối ưu phụ thuộc vào mong đợi và mức độ tin cậy của nghiên cứu Các yếu tố khác ảnh hưởng đến cỡ mẫu bao gồm phương pháp phân tích dữ liệu, phương pháp ước lượng sử dụng trong nghiên cứu, các tham số cần ước lượng và quy luật phân phối của tập các câu trả lời của đối tượng khảo sát.

Nghiên cứu sử dụng phương pháp phân tích thống kê mô tả với 15 biến quan sát đo lường trong mô hình cho 6 nhân tố, dựa trên kinh nghiệm của Hair và cộng sự (2010) để xác định kích thước mẫu tối thiểu là 90 quan sát Tuy nhiên, để đảm bảo độ tin cậy và đạt mức tốt hơn, tác giả đã chọn mẫu 300 quan sát, sau khi loại bỏ các mẫu không đạt yêu cầu về chất lượng hoặc thông tin Để có được cỡ mẫu phù hợp, tác giả dự kiến phân phối 320 bảng câu hỏi đến các hộ dân, yêu cầu mỗi hộ điền vào bảng câu hỏi trong vòng một tuần và thực hiện kiểm soát liên tục trong quá trình thu thập dữ liệu Bảng câu hỏi sẽ được thu hồi đúng hạn để phân tích và đánh giá chính xác kết quả nghiên cứu.

Trong đề tài, tác giả sử dụng phương pháp lấy mẫu xác suất gồm lấy mẫu theo tỷ lệ và lấy mẫu theo mục tiêu Lấy mẫu theo tỷ lệ dựa trên cơ cấu hộ của từng khu phố giúp xác định số lượng hộ cần khảo sát phù hợp với quy mô mẫu của các khu dân cư, với bình quân 5 hộ mỗi khu phố do cấu trúc hộ dân của 63 khu phố Quận 3 khá đồng đều Đặc thù của Quận 3 là phân bổ hộ dân tương đối giống nhau giữa các khu, giúp dễ dàng phân chia tỷ lệ mẫu đều Phương pháp lấy mẫu theo mục tiêu được sử dụng để chọn ra hai nhóm hộ cần khảo sát: nhóm hộ được công nhận danh hiệu gia đình văn hóa (3 hộ) và nhóm chưa được công nhận (2 hộ), nhằm đáp ứng các mục tiêu nghiên cứu cụ thể của đề tài.

Xây dựng thang đo

Sự tham gia của người dân vào xây dựng khu phố văn hóa được đánh giá dựa trên nhiều yếu tố khác nhau, nhằm phản ánh mức độ đóng góp và ý thức cộng đồng Mỗi yếu tố này được đo lường bằng thang đo Likert với bảy mức độ từ hoàn toàn không đồng ý đến hoàn toàn đồng ý, giúp xác định mức độ hài lòng và cam kết của người dân đối với các hoạt động xây dựng khu phố Phương pháp nghiên cứu dựa trên các câu hỏi phản hồi theo thang đo Likert, trong đó người tham gia diễn đạt ý kiến của mình qua bảy mức độ khác nhau cho từng câu phát biểu, đảm bảo tính khách quan và chính xác trong đánh giá.

1: Hoàn toàn không đồng ý đến 7: Hoàn toàn đồng ý

Chi tiết các thang đo và nguồn sử dụng được trình bày trong bảng sau:

Bảng 3.1: Chi tiết các thang đo và nguồn sử dụng

STT Nhân tố Thang đo điều chỉnh Thang đo gốc Nguồn

Niềm tin về điều kiện sống tốt hơn

Niềm tin về lợi ích

Montalvo & Phillip (2008); Luhmann, (2000); Weil (1986) Đóng góp thời gian hoặc tiền bạc Đóng góp xã hội

Niềm tin đối với cán bộ khu phố và các KDC

Niềm tin đối với lãnh đạo

Sự thân thiện, đoàn kết hợp tác tham gia giải quyết các vấn đề chung của cộng đồng Mối quan hệ cộng đồng

Sự tương trợ, giúp đỡ từ hàng xóm khi gặp khó khăn

Tài sản nhóm và mạng lưới

Tham gia các hoạt động của KDC và các tổ chức hội, đoàn thể

Thành viên của các tổ chức

Sự sẵn sàng và có thể làm việc với người khác, khắc phục những hạn chế và xem xét lợi ích một cách đa dạng Mạng lưới quan hệ

Nâng cao các kỹ năng thực hành cần thiết khi tham gia vào đời sống cộng đồng

STT Nhân tố Thang đo điều chỉnh Thang đo gốc Nguồn

Chủ động chia sẻ thông tin với người khác

Khả năng chia sẻ Abraham (1979)

Có đầy đủ phương tiện để tiếp cận các thông tin mới (internet, tivi, báo, đài, bạn bè…)

Công cụ tiếp cận thông tin

Tài sản vật chất và tài chính

Mức thu nhập của cá nhân

Gắn kết giữa thu nhập và nhu cầu tham gia

Thu nhập của gia đình

Trình độ học vấn Trình độ học vấn

Anderson & cộng sự, (2010), Ciccone & Papaioannou, 2006; Pennings, Lee & cộng sự,

& Valderrama (1999) Kiến thức và kỹ năng

Kiến thức và kỹ năng

Nghiên cứu sử dụng thang đo 7 mức độ của Brager & cộng sự (1987) để đo lường mức độ tham gia của người dân vào xây dựng ĐSVH tại khu dân cư Thang đo này giúp đánh giá sự cam kết và mức độ tích cực của cộng đồng trong quá trình phát triển đô thị, từ đó định hướng các chiến lược thúc đẩy sự tham gia hiệu quả hơn Các mức độ tham gia được xác định rõ ràng, cung cấp một cơ sở để phân tích hành vi và thái độ của người dân trong các hoạt động xây dựng ĐSVH Việc áp dụng thang đo 7 mức độ này góp phần nâng cao hiệu quả của các chương trình cộng đồng, thúc đẩy sự phối hợp và đồng thuận trong phát triển đô thị bền vững.

Mức 7: Cộng đồng có quyền kiểm soát: Cộng đồng xác định các vấn đề và thực hiện tất cả các quyết định quan trọng, còn các nhà chức trách có nhiệm vụ sẵn sàng giúp đỡ cộng đồng trong từng bước hoàn thành mục tiêu

Mức 6: Cộng đồng được ủy quyền: các nhà chức trách xác định và trình bày vấn đề với cộng đồng, sau đó yêu cầu cộng đồng thực hiện các quyết định có thể đã được trình bày trong một kế hoạch từ trước

Mức 5: Kế hoạch phối hợp: các nhà chức trách trình bày kế hoạch dự kiến từ trước và để cho những người bị ảnh hưởng đưa ý kiến nếu muốn thay đổi kế hoạch

Mức 4: Công dân được đưa ra ý kiến: các nhà chức trách trình bày một bản kế hoạch sau đó chấp nhận chất vấn từ cộng đồng, tuy nhiên bản kế hoạch chỉ thay đổi khi nó thực sự cần thiết

Mức 3: Công dân nhận được sự tư vấn: nhà chức trách cố gắng quảng bá một kế hoạch, tìm các cách để người dân chấp thuận bản kế hoạch này

Mức 2: Công dân nhận thông tin: nhà chức trách lập kế hoạch và công bố nó, sau đó cộng đồng được triệu tập chỉ với mục đích là tiếp nhận thông tin

Mức 1: Không tham gia: Cộng đồng không có bất kỳ ý kiến nào.

Phương pháp phân tích dữ liệu

Phân tích nhằm cung cấp cái nhìn tổng quan về mẫu nghiên cứu dựa trên kết quả thống kê mô tả như tần suất, tỷ lệ, trung bình, giá trị lớn nhất và nhỏ nhất Các biểu đồ thống kê thể hiện đặc điểm cá nhân cũng như thực trạng người dân tham gia xây dựng Đề án xã hội của khu dân cư (ĐSVH KDC) Đồng thời, phân tích còn làm rõ các yếu tố ảnh hưởng đến mức độ tham gia của người dân trong quá trình xây dựng ĐSVH KDC, giúp hiểu rõ hơn về các yếu tố thúc đẩy hay cản trở sự tham gia cộng đồng.

Chương 3 nghiên cứu những yếu tố ảnh hưởng đến sự tham gia của người dân vào việc xây dựng ĐSVH ở KDC là một khía cạnh trong nghiên cứu kinh tế vừa mang tính chuyên biệt lại vừa mang tính tổng hợp Để có thể giải quyết yêu cầu của nghiên cứu, đề tài sử dụng cách tiếp cận theo nguyên tắc toàn diện và tiếp cận theo kinh tế vi mô Sử dụng tổng hợp các phương pháp nghiên cứu như phương pháp nghiên cứu tài liệu, phương pháp điều tra phỏng vấn, nghiên cứu khám phá bằng phương pháp nghiên cứu định tính và định lượng thông qua các mô hình phân tích thống kê mô tả đơn biến, đa biến để giải quyết các vấn đề nghiên cứu là sự tham gia của người dân vào việc xây dựng ĐSVH ở KDC trên địa bàn Quận 3, thành phố Hồ Chí Minh

CHƯƠNG 4 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 4.1 Tổng quan thực trạng xây dựng khu phố văn hóa ở Quận 3

Quận 3 là một trong những quận trung tâm thành phố có diện tích 4,92km 2 , được chia thành 14 phường, 63 khu phố, 873 tổ dân phố, với 58.148 hộ và số dân thực tế thường trú là 198.886 người (107.089 nữ) Địa bàn quận là nơi trú đóng của nhiều cơ quan, đơn vị thuộc trung ương và thành phố, trụ sở các công ty doanh nghiệp lớn và các cửa hàng buôn bán, kinh doanh dịch vụ, các trường học trong nước và quốc tế, các cơ sở tín ngưỡng tôn giáo và dân gian, các cơ sở vui chơi giải trí và tổ chức biểu diễn nghệ thuật … thu hút số lượng lớn người dân trong và ngoài thành phố, kể cả người nước ngoài đến sinh sống, làm việc Với cơ sở hạ tầng tài sản có đã ổn định từ trước, từng bước được đầu tư sửa chữa, nâng cấp, bộ mặt đô thị của quận khá khang trang, mặt bằng dân trí khá cao, đời sống người dân nhìn chung khá ổn định

4.1.1 Về số lượng công nhận khu phố văn hóa

Trong hơn 16 năm thực hiện phong trào xây dựng “Khu phố văn hóa,” số lượng khu phố đạt danh hiệu này ngày càng tăng, với năm 2018 có 51/63 khu phố đạt chuẩn, chiếm tỷ lệ 80,95% Trong đó, nhiều phường như phường 1, 2, 7, 9, 11, 13, và 14 có tỷ lệ khu phố văn hóa cao nhất, cho thấy sự nỗ lực và phát triển bền vững trong phong trào này Năm 2017, toàn quận đã công nhận lần đầu 2 khu phố đạt chuẩn, góp phần nâng cao chất lượng các khu phố văn hóa trên địa bàn.

4.1.2 Về chất lượng khu phố văn hóa

4.1.2.1 Đời sống kinh tế Đời sống kinh tế của nhân dân ở các khu phố văn hóa không ngừng được nâng lên Kết quả khảo sát lập danh sách hộ nghèo, hộ cận nghèo giai đoạn 2016 - 2020 trên địa bàn quận Hộ nghèo: 706 hộ, 2.898 nhân khẩu, hộ cận nghèo: 766 hộ, 2.753 nhân khẩu

Trong năm 2016, có 6/14 phường hoàn thành mục tiêu không còn hộ nghèo theo chuẩn nghèo của Thành phố giai đoạn 2016-2020, gồm các phường 2, 4, 5, 6, 9, và 12 Đến năm 2017, Quận 3 đã hoàn thành mục tiêu không còn hộ nghèo theo chuẩn nghèo của Thành phố trong giai đoạn 2016-2020 Tuy nhiên, đến năm 2018, toàn quận còn 564 hộ cận nghèo, chiếm tỷ lệ 1,24% trên tổng số hộ dân, thể hiện nỗ lực tiếp tục giảm hộ nghèo và cận nghèo của địa phương.

4.1.2.2 Đời sống văn hóa tinh thần Đến năm 2018 - Tỷ lệ gia đình đạt “Gia đình văn hóa” 31.591/ 33.717 hộ đạt chuẩn, tỷ lệ 93,69%, trong đó gia đình văn hóa 3 năm là 29.363 đạt tỉ lệ 92,95% ĐSVH tinh thần của các gia đình không ngừng được nâng lên Mức hưởng thụ văn hóa của nhân dân ngày càng phong phú và đa dạng Phong trào văn hóa, văn nghệ, thể dục thể thao ở các khu phố văn hóa phát triển mạnh mẽ, thu hút được nhiều người dân tham gia

Các ban ngành, đoàn thể và 14 phường trên địa bàn quận tích cực tuyên truyền và vận động thực hiện nếp sống văn minh trong việc cưới, việc tang và lễ hội Nhiều đơn vị phường đã đưa ra các sáng kiến hiệu quả nhằm thuyết phục các hộ gia đình duy trì nếp sống văn minh trong các hoạt động này, góp phần nâng cao ý thức cộng đồng.

Chương trình tuyên truyền, vận động người dân chấp hành quy định pháp luật về trật tự đô thị là cách thúc đẩy xây dựng môi trường đô thị văn minh, hiện đại Đồng thời, việc xây dựng văn phòng, cửa hàng đúng giấy phép giúp đảm bảo an toàn và trật tự trong đô thị Việc ngăn chặn vi phạm như lấn chiếm vỉa hè, lòng đường góp phần nâng cao ý thức cộng đồng và tạo mỹ quan cho thành phố Hướng dẫn người dân thực hiện các thủ tục xin phép xây dựng và tham mưu cho Ủy ban nhân dân quận trong cấp phép đúng thời hạn theo quy định giúp đảm bảo quy trình hành chính minh bạch, hiệu quả, thúc đẩy sự phát triển bền vững của đô thị.

4.1.2.3 Môi trường cảnh quan, thiết chế văn hóa thể thao

Các hộ dân, hộ kinh doanh, doanh nghiệp và cửa hàng mặt tiền đường 63 tại khu phố ký hợp đồng thu gom rác theo quy định, đảm bảo vệ sinh môi trường Thường xuyên quét dọn quanh nhà, không đổ nước thải sinh hoạt ra vỉa hè, lòng đường hoặc lòng kênh, và không để súc vật phóng uế bừa bãi Các nhà hàng, quán ăn được vận động trang bị giỏ rác hợp vệ sinh đúng quy chuẩn, góp phần giữ gìn môi trường sạch sẽ Các cơ quan, đơn vị, tổ chức, cá nhân và người dân tại phường, khu phố cũng tham gia thả cá xuống lòng kênh để làm sạch môi trường, đồng thời không đánh bắt cá trên kênh Nhiêu Lộc - Thị Nghè.

Nhà ở KDC và các công trình công cộng được xây dựng theo quy hoạch đô thị hợp lý, đảm bảo phát triển bền vững Công tác tuyên truyền và nâng cao ý thức cộng đồng về bảo vệ môi trường sinh thái luôn được thực hiện thường xuyên, góp phần xây dựng môi trường sống sạch đẹp Người dân được vận động tham gia trồng cây xanh, cải tạo mảng xanh, trồng rau sạch tại nhà, nâng cao ý thức cộng đồng về bảo vệ môi trường Nhờ các hoạt động tuyên truyền và cộng đồng, các khu phố văn hóa đã duy trì môi trường trong lành, không xảy ra điểm nóng về ô nhiễm môi trường.

Tại 63/63 khu phố, các Đội văn nghệ, Câu lạc bộ xây dựng gia đình hạnh phúc, Câu lạc bộ gia đình phát triển bền vững, Câu lạc bộ ông bà và cháu cùng nhiều đội nhóm khác đều hoạt động hiệu quả dưới sự quản lý của Trung tâm Văn hóa và các đoàn thể quận Các hoạt động này nhằm thúc đẩy phong trào xây dựng gia đình hạnh phúc, tăng cường sự gắn kết cộng đồng và phát triển bền vững các giá trị gia đình Việc duy trì hoạt động của các câu lạc bộ góp phần nâng cao đời sống tinh thần, thúc đẩy sự đoàn kết trong cộng đồng dân cư.

4.1.2.4 Chấp hành đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước

Các khu phố văn hóa thường xuyên tuyên truyền đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách và pháp luật của Nhà nước cũng như các quy định của địa phương Hoạt động hòa giải tại cộng đồng mang lại hiệu quả cao, giúp giải quyết đa số các mâu thuẫn, bất hòa một cách nhanh chóng và ổn định.

An ninh chính trị và trật tự an toàn xã hội được đảm bảo vững chắc, góp phần duy trì môi trường ổn định cho cộng đồng Việc thực hiện quy chế dân chủ ở cơ sở được thực hiện tốt, thúc đẩy quyền và lợi ích hợp pháp của nhân dân được phản ánh kịp thời thông qua các đề xuất, kiến nghị Các kiến nghị của nhân dân được xử lý nhanh chóng, hiệu quả, giúp giải quyết những vấn đề bức xúc tại cơ sở và cộng đồng dân cư Đồng thời, không xảy ra các vụ khiếu kiện đông người trái pháp luật, đảm bảo an ninh trật tự, giữ gìn môi trường an toàn cho xã hội.

Hệ thống chính trị tại các khu phố văn hóa ngày càng vững mạnh và phát huy hiệu quả vai trò của mình Tại đây, chi bộ Đảng và chính quyền thường xuyên đạt danh hiệu xuất sắc, góp phần thúc đẩy sự phát triển bền vững của cộng đồng Các khu phố văn hóa không ngừng nâng cao năng lực lãnh đạo của chính quyền địa phương, qua đó thúc đẩy các hoạt động văn hóa, an sinh xã hội và giữ gìn nét đẹp truyền thống Nhờ vào sự phối hợp chặt chẽ giữa các cấp chính quyền và cộng đồng, các khu phố văn hóa trở thành điểm sáng trong phong trào xây dựng và phát triển địa phương.

“Trong sạch, vững mạnh”; các tổ chức đoàn thể đạt danh hiệu tiên tiến trở lên; các tổ chức tự quản ở cộng đồng hoạt động có hiệu quả

4.1.2.5 Tinh thần đoàn kết, tương trợ, giúp đỡ nhau trong cộng đồng

Đánh giá tình hình tham gia của người dân vào việc xây dựng ĐSVH ở KDC trên địa bàn Quận 3 qua kết quả khảo sát

4.2.1 Thông tin chung mẫu khảo sát

Dựa trên yêu cầu và thiết kế nghiên cứu, tác giả đã tiến hành khảo sát với các hộ dân tại các khu dân cư (KDC) Kết quả thu được 302 phiếu điều tra hợp lệ, đảm bảo đủ mẫu dữ liệu để phân tích Các dữ liệu này có ý nghĩa khoa học quan trọng trong việc thực hiện nghiên cứu đề tài của tác giả.

Trong phân tích về giới tính, khảo sát cho thấy tỷ lệ nam và nữ trong cộng đồng dân cư gần như cân đối, với khoảng 48% là nam và 52% là nữ, đảm bảo yêu cầu về mẫu điều tra cân bằng giới tính.

Theo kết quả khảo sát, đa số người dân tham gia nằm trong độ tuổi từ 31 đến 50; trong đó, nhóm trung niên 41-50 tuổi chiếm tỷ lệ cao nhất với 27,1%, tiếp theo là nhóm 31-40 tuổi khoảng 23,7% Nhóm dưới 30 tuổi chiếm tỷ lệ thấp nhất, chỉ khoảng 11% Điều này cho thấy cư dân tham gia khảo sát chủ yếu có độ tuổi từ 31 trở lên, phản ánh sự ổn định và thời gian gắn bó lâu dài tại địa phương do độ tuổi này thường đã sinh sống tại khu vực đủ lâu để có sự ổn định về nơi cư trú.

Hình 4.1: Độ tuổi của thành viên tham gia khảo sát

Nguồn: Tác giả tính toán và tổng hợp

Hầu hết người tham gia khảo sát đều có trình độ học vấn từ trung học cơ sở trở lên, thể hiện sự chú trọng vào giáo dục trong cộng đồng Theo thống kê, chỉ khoảng 2,7% (8/302 khảo sát) còn không biết đọc, trong khi đó đối tượng có trình độ sau đại học chiếm tỷ lệ 5,7% (17/302), và người có trình độ đại học hoặc cao đẳng chiếm đến 44,6% (133/302) Ngoài ra, có 14,6% (68/302) người có bằng trung học phổ thông, 8,7% (26/302) có trình độ trung cấp hoặc đào tạo nghề, còn lại là người biết đọc, biết viết chiếm tỉ lệ rất nhỏ (0,7%) Điều này cho thấy trình độ học vấn cao và đa dạng trong cộng đồng khảo sát.

Dưới 30 tuổi31-40 tuổi41-50 tuổi51-60 tuổi

Hình 4.2: Trình độ học vấn của thành viên tham gia khảo sát

Nguồn: Tác giả tính toán và tổng hợp

Đa số người tham gia khảo sát có nghề nghiệp hiện tại ổn định, thể hiện sự đa dạng về công việc trong nhóm nghiên cứu Theo thống kê, 87/302 người là cán bộ, công chức (29,5%), 86/302 làm công việc kinh doanh (29,2%), 68/302 là người đã nghỉ hưu (23,1%), và còn lại 54/302 làm các công việc khác (18,3%) Tỷ lệ này cho thấy sự phong phú về nghề nghiệp của các cá nhân tham gia khảo sát, phản ánh đa dạng về lĩnh vực và trạng thái nghề nghiệp.

Hình 4.3: Nghề nghiệp hiện tại của thành viên tham gia khảo sát

Nguồn: Tác giả tính toán và tổng hợp

Hộ dân cư có quy mô tương đối lớn với thời gian định cư lâu dài, trung bình mỗi hộ có 4,85 thành viên Trong đó, hộ có số thành viên đông nhất lên tới 12 người, cho thấy mức độ gia đình khá đông đúc Hơn 50% thành viên trong các hộ gia đình thuộc độ tuổi lao động, phản ánh tính lực lượng lao động dồi dào trong cộng đồng.

Trong xã hội, trình độ học vấn của cư dân đa dạng từ không biết chữ đến trình độ đại học, cao đẳng Nhiều người chỉ biết đọc, biết viết, trong khi một bộ phận đã hoàn thành trung học cơ sở và phổ thông trung học hoặc theo học các trung cấp, đào tạo nghề Đặc biệt, sau đại học, trung bình mỗi hộ gia đình có khoảng 2,64 người, phần lớn là trung niên với thời gian sinh sống dài lâu, trung bình 22,6 năm, và hộ cư trú lâu nhất có thể kéo dài đến 70 năm Thời gian sinh sống lâu dài góp phần giữ gìn đặc trưng văn hóa và cộng đồng của khu vực.

4.2.2 Tình hình tham gia xây dựng ĐSVH KDC của người dân

Chính quyền là kênh truyền thông phổ biến nhất để người dân tiếp cận hoạt động xây dựng ĐSVH KDC, chiếm tỷ lệ 30,5% Ngoài ra, truyền hình đóng vai trò quan trọng với 24,3%, tiếp đến là đoàn hội với 19,7% Các phương tiện truyền thông khác như radio (2,2%), loa (2,8%), gia đình (5,4%), áp phích (6,8%) và hàng xóm (7,1%) góp phần vào việc nâng cao nhận thức, nhưng hiệu quả thấp hơn Tổng tỷ lệ tìm hiểu qua các phương tiện ngoài chính quyền chỉ đạt 1,2% Do đặc điểm phát triển kinh tế và chuyển dịch sang mô hình thương mại – dịch vụ của Quận 3, các hình thức tuyên truyền bằng loa hoặc radio không còn phổ biến và đã bị loại bỏ khỏi hoạt động tuyên truyền hiện nay.

Hình 4.4: Tiếp nhận thông tin của thành viên tham gia khảo sát

Dựa trên dữ liệu khảo sát, đa số người dân ít chia sẻ thông tin về xây dựng phong trào "Toàn dân đoàn kết xây dựng ĐSVH" với các cán bộ văn hóa địa phương, trong đó tỷ lệ trao đổi không thường xuyên chiếm đến 51,0%, còn việc trao đổi thường xuyên chỉ đạt 38,9%, và có 10,1% không trao đổi Các cán bộ phụ trách công tác văn hóa tại các phường được bố trí 1 người, đồng thời số lượng công việc của khối văn hóa khá lớn, gây áp lực trong việc thực hiện các phong trào cộng đồng.

Trong đời sống hàng ngày, người dân chủ yếu dành thời gian cho công việc, học tập và gia đình, ít khi tiếp xúc trực tiếp với cán bộ phường trừ khi có nhu cầu thực hiện các thủ tục hành chính mới Chính quyền địa phương còn phải quản lý nhà nước về công tác văn hóa, thể thao, tổ chức các hoạt động lễ hội và tuyên truyền chính trị, nhưng người dân chưa có thói quen gặp gỡ để trao đổi về các phong trào địa phương Các phương tiện truyền thông như tivi, radio, loa, áp phích, đoàn hội và hàng xóm đóng vai trò quan trọng trong việc truyền đạt thông tin và giữ liên lạc trong cộng đồng.

Người dân cho rằng xây dựng Đường sắt đô thị (ĐSVH) KDC là rất cần thiết cho khu vực Theo khảo sát, 59,1% cư dân cho rằng việc xây dựng ĐSVH KDC là cần thiết, trong đó 37,6% cho rằng nó rất cần thiết Chỉ có 3,4% cư dân (10 trong tổng số 302 khảo sát) cho rằng không cần thiết, thể hiện sự ủng hộ cao đối với dự án này.

Hình 4.5: Sự cần thiết của xây dựng ĐSVH KDC

Nguồn: Tác giả tính toán và tổng hợp

Sự tự nguyện tham gia vào xây dựng Đề án xây dựng xã hội khu dân cư (ĐSVH KDC) của người dân còn chưa cao Theo khảo sát, có tới 59,4% cư dân cho rằng việc tham gia hoạt động là tự nguyện, trong khi 32,2% cho biết muốn tham gia cũng được, không tham gia cũng không sao Chỉ có 5,4% ý kiến cho rằng tham gia bắt buộc mới hiệu quả, còn tỷ lệ không tham gia chiếm khoảng 3% Hình thức tuyên truyền miệng là phương pháp phổ biến nhất, do nhu cầu gặp gỡ, trao đổi giữa những người sống cùng trong một con hẻm hoặc khu phố là rất thiết thực Người dân thành phố, vẫn giữ nếp sinh hoạt “bán bà con xa, mua láng giềng gần” trong các khu dân cư san sát, nhà ở theo hình ô bàn cờ, nên truyền thông miệng vẫn đóng vai trò chủ đạo trong việc truyền đạt thông tin về xây dựng ĐSVH KDC.

Rất cần thiếtCần thiếtKhông cần thiết

Hình 4.6: Sự tự nguyện tham gia vào xây dựng ĐSVH KDC

Nguồn: Tác giả tính toán và tổng hợp

Hầu hết người dân tham gia xây dựng Đề án đô thị sinh thái KDC với mong muốn phát triển cộng đồng bền vững, chiếm tỷ lệ 79,8% Trong đó, chỉ có 11,8% lý do tham gia để đạt được mục tiêu cá nhân, còn các lý do khác chiếm khoảng 5,1% Đây cho thấy rằng mục tiêu chung phát triển cộng đồng là động lực chính thúc đẩy sự tham gia của người dân.

Hình 4.7: Lý do tham gia vào xây dựng ĐSVH KDC

Nguồn: Tác giả tính toán và tổng hợp

Người dân đã tích cực tham gia hoạt động tuyên truyền và vận động cộng đồng xây dựng Đề án Phát triển Sức khỏe cộng đồng (ĐSVH KDC), với tỷ lệ tham gia đạt 82,8% (248/302 khảo sát) Trong khi đó, có 17,4% người không tham gia hoạt động này Phương thức tuyên truyền phổ biến nhất theo khảo sát là tuyên truyền miệng, cho thấy sự ưu tiên của cộng đồng trong việc truyền tải thông điệp một cách trực tiếp và hiệu quả.

Tham gia cũng được, không tham gia cũng được

Bắt buộc phải tham gia

Vì mục tiêu cá nhân

Vì sự phát triển chung của cộng đồng

Các hình thức tuyên truyền phổ biến nhất chiếm tỷ lệ lớn, trong đó lý do khác chiếm đến 69,6%, phản ánh các nguyên nhân đa dạng trong hoạt động tuyên truyền Hình thức sử dụng băng rôn, khẩu hiệu chiếm 17,9%, cho thấy truyền thông bằng hình ảnh và biểu ngữ vẫn là phương pháp hiệu quả Tuy nhiên, việc viết tin, bài cho đài phát thanh đa phương tiện lại khá kém hiệu quả, chỉ chiếm 9,3%, cho thấy cần cải thiện phương thức truyền đạt để nâng cao tác động của các hoạt động tuyên truyền.

Đánh giá thực trạng các nhân tố ảnh hưởng đến sự tham gia xây dựng ĐSVH ở KDC trên địa bàn Quận 3

4.3.1 Tài sản tâm lý (MA)

Tài sản tâm lý là yếu tố quan trọng được người dân đánh giá cao, đóng vai trò là động lực thúc đẩy họ tham gia xây dựng Đề án Phát triển xã hội và cộng đồng Sự tin tưởng vào cán bộ quản lý tại các khu dân cư và niềm tin rằng họ giúp gia đình có điều kiện sống tốt hơn là yếu tố then chốt, góp phần nâng cao hiệu quả phong trào Cán bộ cơ sở chân thật, gần gũi, luôn lắng nghe dân, và có những lời nói đi đôi với hành động, chính là nền tảng xây dựng niềm tin của cộng đồng vào phong trào.

Bảng 4.1 Tài sản tâm lý

Trung bình Độ lệch chuẩn

Nguồn: Tác giả tính toán và tổng hợp

Không biết chữ Biết đọc, biết viết Trung học cơ sở Phổ thông trung học

Trung cấp/đào tạo nghề Đại học, cao đẳng Sau đại học

Không biết Biết ít Trung bình Khá nhiều Biết rất rõ

Trong thang đo, biến "Tôi luôn tin tưởng cán bộ quản lý tại KDC (MA3)" có mức độ đồng ý trung bình cao nhất (5,83/7), cho thấy người dân tin tưởng vào đội ngũ cán bộ địa phương qua các hành động cụ thể và hình ảnh của những cán bộ tận tụy, gương mẫu Sự thống nhất của các người dân tham gia khảo sát ở mức trung bình (độ lệch chuẩn 1,308) phản ánh niềm tin này còn phụ thuộc vào các biểu hiện rõ ràng của cán bộ trong cộng đồng Ngoài ra, biến "Mọi người chung quanh luôn thân thiện, đoàn kết tham gia giải quyết vấn đề của KDC (MA4)" được đánh giá ở mức trung bình, cho thấy mức độ tham gia của người dân còn hạn chế, chỉ khi vấn đề liên quan trực tiếp đến cuộc sống của gia đình thì họ mới sẵn sàng tham gia Như vậy, để xây dựng lòng tin và sự gắn bó của cộng đồng, các cán bộ cần tiếp tục nỗ lực hình mẫu, tận tụy và thúc đẩy sự đoàn kết, tham gia của người dân vào các hoạt động chung.

4.3.2 Tài sản nhóm và mạng lưới (OA) Đây là một trong những nhân tố góp phần gắn kết xã hội, cung cấp cho thành viên những thói quen về sự hợp tác cũng như các kỹ năng thực hành cần thiết khác để tham gia vào đời sống công cộng Kết quả nghiên cứu cho thấy nhân tố Tài sản nhóm và mạng lưới được các người dân tham gia khảo sát đánh giá khá cao (trung bình chung 5,63/7) Ở nhân tố này, có sự thống nhất của những người tham gia khảo sát ở một mức độ khá cao (độ lệch chuẩn 1,23)

Bảng 4.2 : Tài sản nhóm và mạng lưới

Tài sản nhóm, mạng lưới

Trung bình Độ lệch chuẩn

Nguồn: Tác giả tính toán và tổng hợp

Các biến trong thang đo cho thấy mức độ tham gia của người dân vào hoạt động của các tổ chức đoàn thể ở khu dân cư còn hạn chế về chất lượng, do nội dung và hình thức hoạt động chưa đổi mới phù hợp Mức đánh giá trung bình cao nhất của biến “Tôi thường tham gia các hoạt động của KDC và các tổ chức đoàn hội” là 5,87/7, trong khi đó, biến “Các tổ chức hội, đoàn thể cung cấp cho tôi những thói quen về sự hợp tác và kỹ năng thực hành cần thiết để tham gia vào đời sống cộng đồng” có mức độ đánh giá trung bình thấp Thực trạng này phản ánh rằng, mặc dù người dân tham gia nhưng các hoạt động còn mang tính hình thức, nguồn kinh phí dành cho phong trào còn hạn chế, dẫn đến việc thu hút và giữ chân người dân tham gia các tổ chức như Đoàn thanh niên, Hội Liên hiệp phụ nữ hay Hội người cao tuổi vẫn còn nhiều hạn chế Để nâng cao chất lượng hoạt động, cần đổi mới nội dung và hình thức hoạt động theo hướng hiểu rõ nhu cầu của người dân, từ đó xây dựng mô hình phù hợp để phong trào phát triển sâu rộng và đi vào chiều sâu hơn.

4.3.3 Tài sản thông tin (IA)

Tài sản thông tin ngày càng đóng vai trò quan trọng trong việc thúc đẩy sự tham gia của người dân vào xây dựng cộng đồng và phát triển xã hội Khả năng được nghe và biết thông tin từ các kênh truyền thông như internet, truyền hình, báo chí, đài phát thanh và mạng xã hội cùng bạn bè là yếu tố then chốt Kết quả nghiên cứu cho thấy, yếu tố này có mức độ đánh giá trung bình cao nhất trong các nhân tố ảnh hưởng, với điểm trung bình đạt 5,85 trên thang điểm từ 1 đến 7, thể hiện tầm quan trọng của việc tiếp cận thông tin trong quá trình này.

Bảng 4.3 Tài sản thông tin Tài sản thông tin

Trung bình Độ lệch chuẩn

Nguồn: Tác giả tính toán và tổng hợp

Biến "Tôi cho rằng mình có đầy đủ phương tiện để tiếp cận các thông tin mới (internet, tivi, báo, đài, bạn bè…)" có điểm trung bình rất cao là 6,05/7, phản ánh rõ ràng sự tiến bộ của người dân tại trung tâm thành phố như Quận 3, nơi có nhiều cơ quan thông tin đại chúng và hệ thống báo chí đa dạng, giúp người dân dễ dàng tiếp cận thông tin nhanh chóng và phong phú Trong khi đó, biến "Tôi chủ động chia sẻ thông tin trong quá trình trao đổi với người khác" có mức độ trung bình thấp, cho thấy sự tương tác giữa các cư dân trong khu phố chưa thường xuyên, có thể do nội dung hoạt động của khu dân cư chưa hấp dẫn, dẫn đến ít có cơ hội hay nhu cầu thảo luận và chia sẻ thông tin giữa người dân với nhau.

4.3.4 Tài sản vật chất và tài chính (CA)

Tài sản vật chất và tài chính, thể hiện qua thu nhập của cá nhân và gia đình, ảnh hưởng đáng kể đến sự tham gia xây dựng ĐSVH KDC của người dân Theo số liệu thống kê, đây là lĩnh vực các lãnh đạo cần quan tâm để thúc đẩy sự tham gia cộng đồng Nếu việc tham gia các phong trào địa phương gây ảnh hưởng đến việc chăm sóc gia đình, người dân sẽ không hào hứng tham gia, như được thể hiện qua kết quả biến (CA1): "Tôi có đủ thu nhập để việc tham gia không ảnh hưởng đến việc lo cho gia đình."

Bảng 4.4: Tài sản vật chất và tài chính

Tài sản vật chất và tài chính

Trung bình Độ lệch chuẩn

Nguồn: Tác giả tính toán và tổng hợp

Mức thu nhập cao không đồng nghĩa tất cả các gia đình đều sẵn lòng tham gia đầy đủ các hoạt động của phong trào địa phương, phản ánh qua biến (CA2): "Thu nhập của tôi càng cao thì nhu cầu tham gia của tôi càng cao." Do đó, nội dung các phong trào cần thiết thực và gần gũi với cuộc sống hàng ngày để thu hút sự tham gia của đông đảo người dân Đồng thời, việc tham gia phong trào phải không gây ảnh hưởng đến hoạt động chăm sóc và đảm bảo cuộc sống gia đình của người dân.

4.3.5 Tài sản con người (HA)

Trình độ học vấn, kiến thức và kỹ năng của con người đóng vai trò quan trọng trong việc nâng cao nhận thức về quyền lợi và trách nhiệm của người dân trong quá trình tham gia cộng đồng Kết quả nghiên cứu cho thấy mức độ đánh giá trung bình cao từ các người tham khảo (đạt trung bình 5,52/7), thể hiện rằng người dân có trình độ học vấn cao hơn sẽ dễ hiểu biết về quyền lợi, trách nhiệm, cũng như có nhiều cơ hội tham gia và quyết định các vấn đề tại khu dân cư (KDC) Khi có trình độ học vấn, người dân tự tin hơn trong việc tham gia các hoạt động của cộng đồng, đặc biệt là các nội dung mang tính quyết định, góp phần nâng cao nhận thức xã hội và thể hiện ý kiến có giá trị thực tiễn.

Bảng 4.5: Tài sản con người

Trung bình Độ lệch chuẩn

Nguồn: Tác giả tính toán và tổng hợp

Nâng cao trình độ học vấn của người dân góp phần nâng cao chất lượng hoạt động của phong trào địa phương, vì người dân ngày càng nhận thức rõ mục đích và ý nghĩa của những nội dung mình tham gia.

Ngày đăng: 23/02/2023, 20:57

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm